NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU- Chương 12, Phần 2

( 03-07-2017 - 05:11 AM ) - Lượt xem: 602

Đến thăm ba má tôi trong dịp Tết này, Thiên Hương đã trở nên tự nhiên vui vẻ hơn tâm trạng của nàng trong dịp này năm ngoái. Chắc rằng nàng đã yên tâm về người yêu cũ của mình trên chiến trường phía Nam. Má tôi cùng nàng vừa nấu nướng cơm nước vừa trò chuyện rất thân tình. Má còn hướng dẫn Hương cách làm lòng gà sao cho sạch sẽ mà không phải bỏ phí những đoạn ruột già rất ngon. Sau bữa ăn, ba má gửi mấy món quà nhờ Hương mang về biếu bố mẹ ở nhà và dặn rằng: “Khi nào thuận tiện, hai bác sẽ đến thăm bố mẹ cháu tại nhà!”.

 2. Xuân Kỷ Dậu 1969

 Kỳ nghỉ Tết năm nay lại bắt đầu đúng vào chủ nhật trùng với ngày ông Táo lên chầu trời. Nhờ sự môi giới của dân bản địa, các giáo viên ngoài tỉnh đã mua được mỗi người dăm ba lạng chè “móc câu” đặc sản Phú Thọ để mang về làm quà cho gia đình. Anh Minh cùng vợ chồng anh Hạnh-chị Hường quyết định cùng nhau về quê ăn tết bằng xe đạp theo con đường vượt sông Hồng qua Sơn Tây tới Hà Đông (là quê nhà của họ). Các anh chị rủ tôi cùng đi, vì đường này ngắn hơn nhiều so với đường xe lửa và quốc lộ số 2 về Hà Nội, lại tránh được việc khám xét những người mang “chè lậu” trên tàu hỏa. Tôi đồng ý, nhưng bảo các anh chị cứ đi trước, còn em phải chờ Thiên Hương sang rồi sẽ đi sau.

 Thiên Hương đến khi khu nhà tập thể của tôi đã vắng lặng vì mọi người ở đây đều đã trở về nhà riêng của họ. Thế là tôi với nàng đươc tự do hạnh phúc cùng nấu ăn rồi cùng ngủ trưa với nhau trong phòng riêng của mình (nhưng vẫn không dám “ăn cơm trước kẻng”). Đến 1 giờ 30 chiều, chúng tôi gói ghém đồ đạc, dắt xe đạp ra và khóa cửa lại để cùng nhau lên đường. Lòng vui phơi phới, tôi đèo nàng thẳng tiến ra thành phố Việt Trì.

 Đạp xe qua khu vực họp chợ vào buổi sáng, tôi không thấy các lều trại của quân Trung Quốc đâu nữa, có lẽ quân Tàu đã về nước hoặc chuyển đi nơi khác. Nhanh chóng tìm được bến Triêu Dương có đò ngang sang sông, chúng tôi xuống thuyền nan băng qua “Hồng Hà mênh mông trôi cát tới chân làng quê” (như lời nhạc phẩm bất hủ “Du kích sông Thao” của Đỗ Nhuận). Nhưng có lẽ đây không phải lần đầu tiên tôi qua sông Hồng bằng thuyền. Cách đây đã 16 năm, khi ba má bế tôi với em Hùng xuống thuyền ở một bến sông nào đó, chắc rằng đó cũng  là một bến sông Thao (tức sông Hồng) trong chuyến đi của gia đình từ Việt Bắc về Thanh Hóa. Lúc này bước lên bờ ở bến Trung Hà trên đất Sơn Tây, tôi có cảm giác như mình đang đi lại con đường mà ba má đã mang theo hai anh em tôi trong chuyến lữ hành ngày ấy. Đó là con đường nhựa cũ nhưng vẫn còn tốt, chạy dài giữa núi đồi xanh tươi mà phía trước là ba đỉnh chót vót của dãy Ba Vì huyền thoại đang hiện rõ trên nền trời nhiều mây của buổi chiều đông nắng nhạt.

Đang đạp ngon trớn trên con đường vắng, tôi bỗng cảm thấy bánh xe trước có vẻ mềm nên vội dừng lại bảo Hương xuống xe để xem xét. Quả nhiên lốp xe đã gần hết hơi, mà nơi đây lại vắng vẻ không thể tìm được thợ chữa xe. Cũng may là mình có mang bơm theo; tôi liền lấy nó ra, hì hục bơm cho bánh xe căng phồng rồi hai đứa lại lên xe chạy tiếp. Nhưng chỉ một lúc sau lốp xe lại xẹp; thế là lại phải xuống xe, bơm, rồi lên xe tiếp tục hành trình. Cứ như vậy, sự cố lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần, khiến tôi mệt rũ cả người và lưng áo ướt đẫm mồ hôi vì lao động mệt nhọc. Để tiếp thêm năng lượng cho tôi trong lúc đạp xe, Thiên Hương lần lượt lấy ra từng chiếc bánh quy gai mà nàng mang theo, rồi vòng tay đút nó vào miệng cho tôi nhấm nháp. Cách thức chăm bón đầy phong vị lãng mạn ấy của nàng đã làm dịu đi sự mệt nhọc của tôi. Nhưng vẫn cần có thêm sự chia sẻ sức lực thì chúng tôi mới có thể tiếp tục cuôc đi kiểu đó. Sau một lần bơm căng lốp, tôi trao tay lái cho Thiên Hương để nàng lên yên đạp xe, còn mình ngồi sau lấy sức chuẩn bị cho một đợt bơm mới. Thoáng nhớ lại cái sáng kiến “bơm hai vòi” của Lê Quang Phi, tôi ước gì cái đó có thật thì mình sẽ đỡ khổ biết mấy!

 Thật may là chỉ thêm vài ba đợt bơm nữa thì chúng tôi đã tiến vào thị xã Sơn Tây với một tấm bảng “Bơm vá xe đạp” đầy hấp dẫn xuất hiện bên đường. Sử dụng thành thạo bộ  đồ nghề của mình, người thợ sửa xe nhanh chóng phát hiện một lỗ châm kim trên chiếc săm xe của chúng tôi, rồi lập tức vá chỗ đó bằng những thao tác lành nghề khiến chúng tôi rất hài lòng. Nhưng khi người thợ tính tiền công, thì tôi không thể hài lòng được nữa: giá thông thường cho một miếng vá như vậy là 3 hào, nhưng ông ta đòi hẳn một đồng chẵn (tức 10 hào) mà không thèm giải thích tại sao. Thế đấy! Khi có cơ hội, một người lao động tay dính đầy dầu mỡ cũng tham lam chẳng khác gì những kẻ “ngồi mát ăn bát vàng” mà Đảng ta ra sức tiêu diệt. Lúc này, giữa chúng tôi với ông ta, chẳng biết ai là người đã bóc lột sức lao đông của ai!

 Thị xã Sơn Tây khá xinh đẹp với một hào nước rộng có nhiều cây xanh bên bờ bao quanh di tích tòa thành cổ, tựa như hồ Hoàn Kiếm giữa lòng Hà Nội. Nhưng hoàng hôn đã bắt đầu buông xuống mà vẫn còn già nửa chặng đường phía trước, nên chúng tôi không dám la cà ngắm cảnh. Vào một cửa hàng mậu dịch ăn món “phở không người lái”;  chúng tôi lại lên xe thẳng tiến về thủ đô khi nắng chiều đã tắt, gió mùa đông bắc thổi mỗi lúc một mạnh hơn và bóng tối dần dần bao phủ con đường phía trước. Khi đến Nghĩa trang Mai Dịch-nơi an táng cao cấp nhất dành cho các đồng chí Trung ương có nhiều công lao với Đảnc- thì bắt đầu có đèn đường.

Mãi đến tám giờ rưỡi tối chúng tôi mới về đến cổng trường ĐHSP Hà Nội. Tôi định đưa Thiên Hương về nhà mình nghỉ ngơi, nhưng nàng không muốn ra mắt ba má tôi trong bộ dạng chưa được chỉnh tề khi còn lấm bụi đường. Chia tay nhau ở đây, tôi trao cho Hương gói chè Phú Thọ để nàng lên xe đạp chạy tiếp về phố Hàng Chuối. Chắc rằng nàng sẽ an toàn về đến nhà, vì lúc này xe cộ vẫn còn đi lại rất đông trên đoạn đường có đèn điện chiếu sáng từ đây qua ô Cầu Giấy về trung tâm Hà Nội.

 

 Do bom đạn ngừng rơi trên toàn miền Bắc và cuộc đàm phán giữa hai bên tham chiến ở Paris đã được xúc tiến, hầu hết người Hà Nội từ những nơi sơ tán đã trở về thành phố để ổn định cuộc sống và chuẩn bị đón Tết trong niềm vui và hy vọng hòa bình. Chính tôi cũng có nhiều niềm vui với người thân và người quen trong dịp nghỉ Tết này.

 Ba má đã tỏ ra hài lòng khi nghe tôi kể chuyện công tác của mình cùng mối quan hệ với Thiên Hương ở Vĩnh Phú. Ba cho biết rằng, để có thể chỉ đạo chuyên môn tốt hơn, ông bắt đầu học tiếng Nga theo chương trình giảng dạy trên đài phát thanh và cuốn giáo trình dạy Nga văn qua tiếng Pháp của Nina Potapova nhan đề “La Rousse”. Trò chuyện với tôi như với một người đồng nghiệp, ông kể cho tôi về một số con người và sự việc diễn ra ở trường ĐHSP Ngoại ngữ. Nhờ đó, tôi đã được biết nhiều nhân vật ở trường và các khoa. Trong Ban Giám hiệu, ba má tôi dành nhiều tình cảm cho Phó Hiệu trưởng Nguyễn Niêm-một Phó Tiến sĩ say mê nghiên cứu khoa học đến mức quên ăn quên ngủ và quên cả việc xây dựng hạnh phúc gia đình cho mình. Khoa Nga có một loạt cán bộ giảng dạy danh tiếng như Vũ Lộc, Trần Văn Cơ,  Trương Đông San, Đỗ Ca Sơn, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Tuyết Lê… Trong số đó, chú Vũ Lộc và vợ chú là cô Á Linh-một nữ trí thức người Hoa có vẻ đẹp sang trọng, với cả hai con của cô chú là Trung Sinh và Việt Hoa, có quan hệ đặc biệt thân thiết với gia đình chúng tôi. Ba má tôi rất quý mến chú Đỗ Ca Sơn - một cựu chiến binh Điện Biên Phủ mà giỏi cả 3 ngoại ngữ Pháp-Anh-Nga. Chú đã trở thành một dịch giả nổi tiếng trên văn đàn, nhưng vẫn không được vào Đảng vì thành phần xuất thân tiểu tư sản và đã từng theo học “trường Tây” ở Hà Nội. Ba má cũng thân thiết với anh Phan Văn Bảo - một chàng trai Hà Nội trở thành giáo viên giỏi ở Hải Phòng rồi được ba tôi điều động theo ông về khoa phụ trách bộ môn GHP Nga văn. Tại khoa Anh, ba tôi đã kiên quyết bảo vệ chú Ngô Như Hòa - một nhà giáo đầy uy tín mà có nhiều công lao với Đảng trong cách mạng và kháng chiến, nhưng lại bị chính quyền nghi oan về vấn đề gì đó trong lý lịch. Ba má tôi cũng thân với chị Đỗ Thị Thanh-một cán bộ giảng  dạy trẻ người Hà Nội. Tại khoa Pháp có chú Ngô Chanh rất được nể phục; nhưng ba má tôi thân thiết hơn với vợ chồng chú Nguyễn Minh Lý (ở Pháp về). Ở khoa Trung, tôi quen chú Lôc trưởng khoa là chồng chị Quỳnh bạn học cũ ở khoa Sử; chưa kể cô Á Linh đang giảng dạy Trung văn ở khoa này.

 Trong những ngày giáp Tết vui vẻ, tôi được gặp chú Lê Hữu Tôn-Trưởng Phòng công tác Chính trị của trường với những người con của chú được đặt tên theo tình hữu nghị giữa nước ta với các nước bạn trong phe XHCN: Lê Hữu Việt-Nga, Việt-Trung, Việt-Triều và Việt-Đức. Nhưng thú vị nhất là khi tôi được gặp lại chú Nhĩ (cán bộ phòng Hành chính-Quản trị) mới cưới vợ là cô Khoái (một nữ nhân viên lỡ thì của phòng này).  Trông chú Nhĩ tươi trẻ hẳn ra sau khi được phép chấm dứt cảnh “ngày Bắc đêm Nam” gắn liền với chiếc cột nhà bí ẩn; còn cô Khoái cũng vui tươi hớn hở ca hát suốt ngày kể từ khi được “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ” rồi trải qua tuần trăng mật đầy khoái cảm. Bằng cách chế biến tên hai người ghép lại với nhau, các bạn đồng nghiệp đã tặng cho cặp vợ chồng hạnh phúc muộn màng ấy một biệt danh vui như một lời bình phẩm:“Khoái Nhỉ!”.

 Ngoài ra, tôi còn được biết thêm một nhân vật nổi tiếng là Cao Xuân Hạo - cán bộ giảng dạy của trường ĐHTH nhưng bị cấm giảng dạy mà chỉ được làm công tác dịch thuật, vì đã tham gia nhóm “Đất Mới” theo khuynh hướng “Nhân văn-Giai phẩm”. Bất chấp cái án kỷ luật mà đương sự ấy phải mang, ba tôi đã mời thầy Hạo về giảng dạy một chuyên đề Ngôn ngữ học cho cán bộ và sinh viên ĐHSP Ngoại ngữ, rồi còn đề nghị GS Ngụy Như Kon Tum (Hiệu trưởng ĐHTH) tìm cách nâng bậc lương Cao Xuân Hạo sao cho tương xứng với tài năng và thâm niên công tác của ông ấy.

 

 Vào một buổi chiều, tôi bất ngờ thấy Trần Quốc Tuyển xuất hiện trên đường dẫn đến khu Hiệu bộ ĐHSP. Vừa trông thấy tôi, Tuyển liền quay ngoắt vào một góc nhà để tránh mặt. Thực ra, tôi đã nguôi giận và không hề có ý định báo thù ông ta về cái quyết định phân công công tác nọ. Nhưng kẻ bất chính lúc nào cũng sợ phải đối mặt với người lương thiện đã bị y lừa dối, nên Tuyển sẽ còn phải lẩn tránh tôi rất nhiều lần cho đến suốt đời.

 Thế rồi bỗng nhiên tôi lại được gặp anh Trương Vũ Xương ngay tại trường ĐHSP thân thuộc. Thì ra anh đã trở thành cán bộ của khoa đào tạo Giáo viên Cấp II (thuôc trường ĐHSP Hà Nội I) mới được xây dựng tại huyện Hưng Nhân (Thái Bình). Nay vì có việc đột xuất anh phải về trường; nhờ đó hai vị thủ khoa hẩm hiu thuộc khóa “Tổng tiến công” của khoa Sử ĐHSP lại bất ngờ gặp nhau sau một thời gian xa cách lâu dài.

 Mừng rỡ vô cùng, tôi lập tức mời anh về nhà để hàn huyên tâm sự. Pha ấm trà “móc câu” Phú Thọ và lấy ra gói kẹo “Hải Châu” đặt lên bàn tiếp khách, tôi hỏi: “Bằng cách nào mà anh khỏi phải đi ‘Lao gia truyền’ để trở lại công tác ở trường?”. Anh đòi tôi kể chuyện về mình với Thiên Hương ở Vĩnh Phú, rồi mới giải đáp câu hỏi của tôi bằng giọng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.

 Sau khi chất vấn Trần Quốc Tuyển ở khoa, anh Xương đã viết đơn khiếu nại về cái quyết định phân công công tác cho mình đi Lào, rồi mang đơn cùng quyết định đó về Hà Nội để gặp Vụ TCCB của Bộ Giáo dục. Rất may, người thụ lý sự việc tại đây lại chính là anh Tân, một bạn học cũ của anh Xương ở Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc). Hiểu rõ hoàn cảnh vợ góa con côi mà người bạn cũ của mình đã trình bày trong đơn, anh Tân bảo quyết định đó là một sự “vô nhân đạo”! Anh liền viết thư gửi Trưởng phòng TCCB trường ĐHSP Hà Nội I là Nguyễn Nghĩa Dân với yêu cầu thay đổi quyết định cho anh Xương. Nhận bức thư  do anh Xương cầm về trao trực tiếp cho mình, trưởng phòng Dân phải hỏi lại nguyện vọng của anh, đồng thời thỉnh thị ý kiến cấp trên để làm quyết định mới cho anh. Kết quả là Trương Vũ Xương nhận được quyết định phân công công tác mới đáp ứng cả hai nguyện vọng của mình: vừa trở thành cán bô giảng dạy của trường ĐHSP Hà Nội I, lại vừa được ở gần nhà để chăm sóc cho con. (Chỉ tội cho anh Cao Đức Đạm phải một mình đi làm chuyên gia tại Lào).

 Ba tôi về, anh Xương đứng dậy chào và tôi giới thiệu anh với ba. Được biết anh chính là chồng của cô giáo liệt sĩ Bùi Thị Thanh Xuân, ba ân cần hỏi thăm anh về hoàn cảnh gia đình, cuộc sống và công tác, rồi mời anh ở lại dùng cơm với gia đình chúng tôi. Anh cảm ơn ba, nhưng xin phép về để kịp giải quyết một số việc trong những ngày giáp tết. Tiễn anh ra cổng ĐHSP, tôi và anh chúc nhau mọi sự tốt lành trong năm mới Kỷ Dậu sắp đến và hẹn ước sẽ sớm được gặp lại nhau.

 

 Cũng như vào thời điểm này năm ngoái, má và tôi lại cùng nhau đạp xe đến Cửa hàng Mậu dịch Nhà Thờ (dành cho cấp “trung gian nịnh thần”) để xếp hàng mua hàng Tết theo tiêu chuẩn gia đình “bìa C” với khối lượng thịt, trứng, nước mắm, số lượng lá dong và “túi hàng Tết” y như năm ngoái; và cũng gặp lại các “con phe” đã quen mặt từ trước. Rồi việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, gói và nấu bánh chưng cũng được tiến hành giống như xưa. Ngay cả việc xếp hàng tắm táp ở bể nước công cộng và việc nấu nướng cũng được diễn ra tương tự như trong năm trước.

Và thế là đã có bữa cỗ đón giao thừa với những món ngon quen thuộc mà cả gia đình chúng tôi đã chờ đợi trong suốt một năm qua. Đúng 12 giờ đêm, em Dũng mang phong pháo ra ban công đốt nổ vang hòa cùng tiếng pháo dậy lên ở khắp nơi, trong lúc Quốc ca hùng tráng nổi lên trên đài phát thanh; rồi âm vang giọng Bác Hồ đọc thơ Chúc Tết qua chiếc đài “Orionton”:

 

Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.

Vì Độc lập, vì Tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,

Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn.

 

Bản “Lãnh tụ ca” lại vang lên và hình ảnh Bác Hồ lại uy nghi hiện lên trên nền cờ với “Sao vàng phấp phới ánh hồng sáng tươi” trong tâm trí mọi người. Cũng như đêm giao thừa năm ngoái, đêm nay mọi người không hề biết rằng mình chỉ được nghe thơ Bác  qua cuộn băng ghi âm mà Bác đã thực hiện trong chuyến về nước đầu năm 1969, rồi sau đó lại bay sang Trung Quốc để tiếp tục chữa bệnh. Do vậy, cũng như năm ngoái, Bác Hồ đón mừng năm mới trên đất nước của Bác Mao đang sôi sục với cuộc “Đại cách mạng văn hóa” đầy kịch tính. Tuy nhiên, khác với bài thơ xuân năm ngoái báo trước cho một cuộc Tổng tiến công đã được chuẩn bị kỹ sẽ chắc chắn diễn ra, bài thơ xuân năm nay của Bác chỉ bay bổng với tinh thần chiến thắng theo trí tưởng tượng mà Bác muốn quân dân ta tin là có thật.

 Trong năm qua, với tổng quân số 277.000 người tham chiến trên chiến trường miền Nam (bao gồm 220.000 quân chủ lực từ miền Bắc vào và 57.000 bộ đội địa phương miền Nam, chưa kể hàng vạn thanh niên xung phong), quân ta đã tổn thất 113.300 người (bị chết, bị thương, bị bắt và mất tích) tức hơn 40% quân số; lực lượng còn lại đã bị địch dồn đuổi phải chạy về về vùng rừng núi, qua biên giới Campuchia và Lào. Đó là thất bại nặng nề, chứ không phải là “thắng lợi vẻ vang”. Do vậy, năm nay chiến trường miền Nam trở nên yên ắng, thảng hoặc lắm mới có tin về một vài vụ chạm súng lẻ tẻ, không có gì bảo đảm cho “tiền tuyến chắc càng thắng to”.

Đêm đêm, qua làn sóng điện của Đài Phát thanh Sài Gòn mà dân miền Bắc bí mật nghe được, các “cán binh Việt Cộng” chiêu hồi “về với chính nghĩa Quốc gia” lại  nhắn tin cho gia đình họ ở miền Bắc qua chương trình “Nhịp cầu yêu thương”. Chính những người này là bằng chứng sống cho thấy  ngày “Mỹ cút”, “ngụy nhào” để “Bắc Nam xum họp” vẫn còn xa. Bên cạnh đó còn có đài “Gươm thiêng Ái quốc” phát đi những luận điệu tâm lý chiến làm lung lạc tinh thần “cán binh Việt Cộng”.

 Trong bối cảnh chiến trường như vậy, tân Tổng thống Mỹ Richard Nixon (nhậm chức từ tháng 1-1969) đã quyết tâm thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”: trao lại nhiệm vụ chiến đấu cho Quân lực VNCH để Quân đội Hoa Kỳ rút dần về nước.

 Dù sao đi nữa, nhân dân hai miền Nam-Bắc đã được hưởng những ngày tết khá bình yên.

 

 Sáng mùng Một, trong lúc những chiếc loa phóng thanh công cộng không ngớt truyền đi những bài ca chiến thắng và các nhạc phẩm ngợi ca Đảng-Bác, tôi là quần áo cẩn thận và mặc ấm với áo vi-ni-lông khoác ngoài rồi đạp xe đến với Thiên Hương. Tại góc phố Đinh Tiên Hoàng-Tràng Tiền gần Bờ Hồ, thay cho tấm bản đồ “Tổng tiến công” được treo từ năm ngoái, một tấm pa nô khổng lồ vẽ hình máy bay Mỹ các kiểu bị bốc cháy nghi ngút khói lửa rơi cắm đầu xuống đám xác máy bay nằm dưới đất với con số “3243” nổi bật trên các kiểu súng phòng không và tên lửa của ta vươn cao lên trời.

 Tôi với nàng lại cùng nhau đi chúc tết những người thân trong gia đình và họ hàng của hai đứa. Khi trò chuyện vui vẻ với cậu Bính, tôi buột miệng hỏi: “Cậu nghĩ thế nào về phong trào cách mạng ở nước ta?”; cậu đáp: “Đơn giản thôi cháu ạ, mọi mọi sự đều xuất phát từ lòng ghen tỵ của con người!”- quả là một nhận định độc đáo nhưng lại rất thuyết phục! Có lẽ vì không muốn dính dáng đến thói ghen tỵ của người đời, nên cậu đã khước từ mọi thứ danh lợi mà cấp trên có thể ban cho mình: không vào Đảng, cũng không nhận chức vụ lãnh đạo nào, mà chỉ say mê với sứ mệnh của một họa sĩ mỹ thuật sân khấu ở Nhà hát Kịch. Dù vậy, cậu vẫn mua được các vật dụng theo tiêu chuẩn bìa C và được tham gia Câu lạc bộ Ba Đình để bơi lội, chơi quần vợt, uống bia hơi với lạc rang mà không phải xếp hàng.

 Tiếp theo, chúng tôi đến thăm hai người thầy thân thiết với mình là Nguyễn Văn Kiệm (ở phố Bà Triệu) và Phạm Gia Hải (ở phố Mã Mây). Vẫn như trước kia, hai thầy (và gia đình) đón tiếp chúng tôi vui vẻ nồng ấm với tình cảm dành cho những người thân đi xa mới về. Trong lúc vui chuyện ngày xuân, hai thầy vẫn lấy làm tiếc về việc đã không giữ được tôi cùng anh Xương ở lại khoa để phát huy trình độ chuyên môn. Tôi chân thành cảm ơn tấm lòng của các thầy dành cho mình trong việc đó, nhưng cũng đã hiểu ra rằng: tiếng nói của các thầy không đủ trọng lượng để thuyết phục những kẻ khác có thế lực lớn hơn. Là những bậc thầy giỏi hiện đảm đương chức vụ trưởng bộ môn, nhưng vì những vấn đề gì đó liên quan đến lý lịch, nên cả thầy Kiêm và thầy Hải đều chưa được gia nhập Đảng. Bởi thế, một kẻ không biết gì về chuyên môn nhưng lại là đảng viên giữ trọng trách trợ lý tổ chức của khoa sẽ bỏ ngoài tai ý kiến của các thầy. Nhân đó, tôi nêu nhận xét rằng: bộ máy chính quyền hiên nay “có những vết đen”. Thầy Kiêm đáp lại: “Không chỉ là vết đen, mà nó đã bị ‘tróc sơn’ rồi!”. Để chứng minh cho nhận định của mình, thầy kể lại vụ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng bị kết án tử hình vì tội dùng thuốc độc giết vợ để được chung sống với nhân tình-một trường hợp điển hình về sự mất nhân tính của đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước.

 Về lại nhà Hương ăn bánh chưng cùng dì Phương và cậu Hậu rồi nghỉ trưa,  tôi lại cùng nàng đi thăm bè bạn. Hà Trọng Cường rất hài lòng với ngôi trường mà mình được phân công về giảng dạy ở ngay Hà Đông, có thể đạp xe về Hà Nội nhiều lần nếu muốn. Cậu ta lại cùng tôi và Hương đi thăm Nguyễn Mạnh Tùng ở Hàng Điếu. Thật may, chúng tôi đã gặp ở đây cả cặp Mạnh Tùng - Tuyết Nhung. Thì ra hai bạn ấy đã cưới nhau rồi cùng về ăn Tết ở đây. Mặc dù vẫn phải cắt hộ khẩu và chuyển tem phiếu về trường ở Hà Tây, hai bạn vẫn có “buồng” và “bà” tại ngôi nhà trên phố cổ Hà Nội này. Cành đào phai Nhật Tân rất đẹp, chậu cây quất sum sê với món mứt đặc sắc nhà làm thay cho hộp “Mứt tết” Mậu dịch đủ để giữ gìn phong vị Hà Nội gốc của gia đình Tùng-Nhung. Mang ra khoe bộ ảnh cưới của mình, Tùng hỏi tôi và Hương bao giờ sẽ cưới? Một câu hỏi đơn giản và thân thiện, nhưng tôi khó trả lời vì chưa bao giờ hai chúng tôi bàn đến việc này! Tôi nhìn Hương rồi đáp: “Chúng mình sẽ học theo hai bạn!”. Có một câu mà tôi rất muốn hỏi Tùng: căn bệnh mà bạn mắc phải khi chờ đợi quyết định của Khoa là thật hay giả? Nhưng trong không khí vui vẻ ngày Tết, tôi lại không dám mở miệng. Dù sao thì sau đợt bệnh ấy, Tùng - Nhung đã đạt được những thành quả tốt lành cả về sự nghiệp lẫn tình yêu.

 

 Đến thăm ba má tôi trong dịp Tết này, Thiên Hương đã trở nên tự nhiên vui vẻ hơn tâm trạng của nàng trong dịp này năm ngoái. Chắc rằng nàng đã yên tâm về người yêu cũ của mình trên chiến trường phía Nam. Má tôi cùng nàng vừa nấu nướng cơm nước vừa trò chuyện rất thân tình. Má còn hướng dẫn Hương cách làm lòng gà sao cho sạch sẽ mà không phải bỏ phí những đoạn ruột già rất ngon. Sau bữa ăn, ba má gửi mấy món quà nhờ Hương mang về biếu bố mẹ ở nhà và dặn rằng: “Khi nào thuận tiện, hai bác sẽ đến thăm bố mẹ cháu tại nhà!”.

 Khách đến thăm ba tôi trong tết này khác hẳn với tết trước. Các thầy Phạm Huy Thông, Lê Văn Sáu và Bạch Ngoc Anh không đến nữa (và từ nay trở đi họ hầu như không còn giao tiếp với ba tôi). Thay vào đó, GS Ngụy Như Kon Tum đi ô tô đến thăm ba tôi. Trong khi ba và bác Kon Tum trò chuyện trong phòng khách, tôi ra ban công đứng ngắm cảnh và trông thấy hai cô gái đẹp đứng cạnh nhau bên gốc cây phi lao ở vệ đường. Hai cô cũng nhìn lên ban công và thấy tôi ở đó. Nhưng mãi nhiều năm sau tôi mới biết họ là ai: một cô là Bùi Bích Ngọc, cán bộ giảng dạy trẻ của Khoa Nga trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, sau đó sẽ trở thành một phát thanh viên nổi tiếng của Đài Tiếng nói Việt Nam, rồi của Đài Tiếng nói Mátxcơva (Liên Xô); còn cô kia là Ngụy Như Tuyết Nhung-ái nữ của GS Kon Tum cùng đi với cha đến thăm ba tôi, rồi lại ra ngoài nói chuyện với bạn mình).

 

Nhưng vị khách của ba gây ấn tượng mạnh nhất cho tôi là nhà thơ Xuân Diệu. Với mái tóc quăn bềnh bồng đầy chất nghệ sĩ, con người ông toát lên vẻ sang trọng từ chiếc áo blu dông Đức chính hiệu mang từ nước ngoài về (hoặc mua tại Cửa hàng Quốc tế Bờ Hồ) và chiếc xe đạp “Favorit” hảo hạng do Tiệp Khắc chế tạo (chỉ bán cung cấp theo tiêu chuẩn cán bộ bìa C trở lên). Được gặp người bạn quý từ thời sinh viên và là đồng nghiệp ở Bộ Canh Nông, ba mừng rỡ bảo má tôi giết gà đãi khách. Tôi vẫn nhớ chú Xuân Diệu đã từng dự đám cưới ba má với bài thơ chúc cho sự sinh đẻ ra “Nguơn lớn, Nguơn con” (tức là tôi với em Hùng”) và cũng thích thơ tình của chú, nên cảm thấy rất vinh hạnh khi được gặp chú ngay tại nhà mình.

 Nhưng tôi cũng ngạc nhiên khi thấy ba cùng chú ngồi ăn riêng trong phòng mà không ăn cùng cả gia đình mình cho vui. Khi chú đã ra về, em Dũng mới nói nhỏ với tôi: “Chú Xuân Diệu đã đến thăm ba nhiều lần rồi; mà lần nào chú đến cũng phải thịt gà, nên chuồng gà của má đã bị vơi đi nhanh chóng, tiếc lắm!”. Ba cho biết thêm: “Chú chỉ thích ngồi ăn riêng để được thoải mái!”. Sau này, tôi được nghe một số văn nghệ sĩ kể lại rằng: khi có được món ngon nào đó, Xuân Diệu thường cất kỹ để ăn một mình, còn khi được mời đi nói chuyện văn chương thì ông đặt điều kiện phải cho ăn gì mới có thể nói được. Có lẽ “tâm hồn ăn uống” độc đáo ấy của thi sĩ đã nảy sinh từ những biến chuyển qua “Những bước đường tư tưởng của tôi”- như lời ông tự kể. Xưa kia, khi sáng tác theo tư tưởng lãng mạn tiểu tư sản với “Thơ thơ”, “Gửi hương cho gió”“Phấn thông vàng”, tâm hồn ông bay bổng theo tình yêu mà không quan tâm đến chuyện ẩm thực. Nhưng giờ đây sáng tác theo lý tưởng của Đảng-Bác, ông đã tuân thủ triệt để chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx - “người ta ăn, mặc, ở trước; rồi mới suy nghĩ, nói và viết sau”- nên miếng ăn trở nên vô cùng quan trọng. Đối với Xuân Diệu, ăn theo tiêu chuẩn “Bìa C” là chưa đủ, nên ông phải tìm thêm những khoản ngoài tem phiếu để cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm cho mình. Có như vậy, ông mới đủ thể lực theo chân Tố Hữu đánh nhóm “Nhân văn-Giai phẩm” những đòn nảy lửa bằng “Dao có mài mới sắc” để lập công dâng Đảng. Tuy nhiên, chính Xuân Diệu vẫn tự mâu thuẫn với mình: trong khi từ bỏ chủ nghĩa cá nhân tiểu tư sản mà hướng theo tinh thần tập thể để phân biệt “Riêng chung”, ông lại ăn uống theo một thứ cá nhân chủ nghĩa triệt để. Thêm nữa, khi yêu đương nồng nhiệt những người tình tưởng tượng trong thơ mình, ông lại không có khả năng “yêu” bất cứ người phụ nữ nào trong đời thực, ngoại trừ một thứ “tình trai” khác thường với Huy Cận (và có thể với một số người đàn ông khác nữa).

Dù sao, Xuân Diệu đã rất thành công trong sự nghiệp của mình với một chức vụ lãnh đạo trong Hội Nhà Văn Việt Nam, được đi nước ngoài nhiều lần, được mua hàng ở các cửa hàng trung-cao cấp và được sinh hoạt tại Câu lạc bộ Ba Đình (chính là tại phòng tắm cạnh bể bơi của Câu lạc bộ này mà một bạn đồng nghiệp đã phát hiên ra sự bất thường ở bộ sinh dục của Xuân Diệu khiến thi sĩ trở nên bất lực).

 Đối với tôi, chú Xuân Diệu xứng danh “Ông hoàng của thơ tình” để sống mãi với tâm hồn dân tộc qua các tập thơ chứa đựng những câu “yêu là chết trong lòng một ít”, “mau với chứ, vội vàng lên với chứ / em, em ơi, tình non đã già rồi” ,“ta là một, là riêng, là thứ nhất” cùng với bài thơ “Ngọn Quốc kỳ” mà chú viết để chào mừng nền độc lập của nước Việt Nam DCCC từ cảm xúc nồng nhiệt chân thành. Còn với những tập thơ khác mà chú sáng tác để kính dâng Đảng-Bác, mặc dù có những bài được in trong sách giáo khoa,  cũng xin thú thật là tôi không nhớ bài nào và tuyệt nhiên không thuộc một câu nào.

 

 

Các Bài viết khác