NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 11, PHẦN 5

( 14-12-2016 - 10:07 AM ) - Lượt xem: 248

Hàng loạt câu hỏi nảy sinh trong đầu tôi: tại sao một “thủ khoa” phải về tỉnh dạy phổ thông, còn những người kém mình lại được giữ lại đại học? Chẳng lẽ những lời hứa hẹn của các thầy với mình và với ba không có chút giá trị nào? Ai đã gây ra cho mình sự bất công này? Và vì sao họ lại gây cho mình như vậy? Tương lai sự nghiệp của mình rồi sẽ ra sao?...

5. Tại ngưỡng cửa vào nghề

Mặc dù nghỉ hè vui vẻ, tôi chỉ dám ở nhà mươi ngày rồi lại phải cùng Thiên Hương và Trọng Cường trở về Khoa để chờ nhận Quyết định Phân công Công tác. Bác Cạc cũng như bác Tương đều vui mừng khi thấy chúng tôi quay trở lại nhà mình. Tôi cùng Thiên Hương mang theo chút quà nhỏ để đến thăm hai người mà chúng tôi quý mến nhất trong Khoa là thầy Nguyễn Văn Kiệm và thầy Phạm Gia Hải. Tại nhà trọ của mình, gia đình thầy Kiệm (gồm có thầy-cô, hai cậu con trai lớn và cô con gái út tên Ngọc) và gia đình thầy Hải (gồm thầy-cô, hai cô con gái lớn tên Lâm và Thư, cậu con trai nhỏ tên Tuấn) tiếp đón chúng tôi nồng nhiệt như đối với người thân vừa đi xa mới về. Cả hai thầy đều chúc chúng tôi hạnh phúc trong tình yêu và thành công trong sư nghiệp, đặc biệt là chúc tôi được giữ lại khoa để trở thành đồng nghiệp với các thầy. Chúng tôi cũng kính chúc các thầy và gia đình những điều tốt đẹp nhất, và tôi bày tỏ lòng mong muốn được làm việc dưới sự chỉ dẫn của các thầy trong Khoa. Thầy Hải còn mời chúng tôi ăn cơm và ngủ qua đêm với gia đình thầy để làm kỷ niệm.
Tôi cứ tưởng là sẽ có một buổi tập hợp sinh viên toàn khối để phát quyết định; nhưng thực tế không phải vậy. Cứ thỉnh thoảng lại có một vài người được gọi lên văn phòng Khoa nhận quyết định, trong khi những người khác chờ đợi đến lượt mình. Đợt đầu, anh Phạm Thanh An cùng hai bạn Dương Tín và Dương Trường Sơn nhận được quyết định về ĐHSP Vinh để bổ sung cho đội ngũ cán bộ giảng dạy của trường đại học non trẻ này. Tiếp theo, chị Đinh Thị Húa nhận quyết định về trường ĐHSP Việt Bắc mới thành lập, chị Nguyễn Thị Tuyến được phân công về chính Trường ĐHSP Ngoại ngữ của ba tôi.
Thế rồi chị Nguyễn Thúy Nhàn đã nhận được quyết định về công tác tại Tổ Bộ môn Giáo học pháp của Khoa Sử. Tin này khiến tôi thấy mừng, là vì có lẽ chị Nhàn sẽ mở đầu cho đợt phát quyết định cho những người được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy; chắc rằng mình và anh Xương sẽ được nhận về Tổ LSTG và Tổ LSVN (hồi ấy có quan niệm rằng hai tổ này cần tuyển những sinh viên giỏi hơn so với nhu cầu của tổ Giáo học pháp). Nhưng rồi sau đó lại thấy anh Tống Xuân Mậu nhận quyết định về Bộ Giáo dục và anh Phạm Quý Tích được giữ lại trường ĐHSP Hà Nội I làm cán bộ hành chính.
Ngoại trừ những trường hợp được Bộ tuyển dụng hoặc được đưa về các trường đại học, hầu hết các anh chị cán bộ đều được trở về công tác tại địa phương đã cử họ đi học. Theo đó, chú Nguyễn Xuân An và cô Bùi Kim Dung về lại Hải Phòng, bác Nguyễn Văn Phàn về Hà Bắc, anh Nguyễn Đăng Phượng về Thái Bình, chị Kim Thoa về Hà Nam… Một số bạn trẻ cũng được trở về quê quán của mình như Đỗ Trong Khang về Hà Tây, Nguyễn Văn Tú về Vĩnh Phú, Phan Kế Minh về Yên Bái, Cao Chí Bồ về Hải Phòng (mang theo cô con gái bác chủ nhà trọ để cưới làm vợ)… Một số bạn phải đi xa về các tỉnh miền núi hoặc tuyến lửa Khu 4: Lê Kim Hải nhận công tác tận Cao Bằng; còn Hà Thị Bính, Trịnh Thục An, Nguyễn Khánh Liên, Nguyễn Thị Nguyệt Nga về Thanh Hóa. Có nhiều trường hợp được về Hà Nội do quan hệ hôn nhân: Chị Minh Tâm (vợ thầy An), chị Thúy Quỳnh (vợ chú Lộc), Dương Thu Nga (con dâu tương lai của thầy Chiêm Tế), Đỗ Thu Hà (vợ chưa cưới của thầy Quýnh), Đặng Thị Tịnh (vợ chưa cưới của thầy Hồng Việt)…
Như thường lệ, tháng 9 đến với lễ mừng Quốc khánh và việc khai giảng năm học mới khiến chúng tôi càng thêm nóng lòng mong được phân công công tác. Hà Trọng Cường bạn tôi là người đầu tiên nhận được quyết định trong tháng này. Cường hài lòng khi cậu ấy được đi công tác tại Hà Tây, một tỉnh được coi là “cửa ngõ thủ đô”- như lời bài hát “Hà Tây quê lụa” của Nhật Lai. Chị Huỳnh Thanh Trúc nhận quyết định về tỉnh Hà Nam và đã có cuộc chia tay rất cảm động với tôi cùng Thiên Hương và chị Ngãi. Vậy mà hai “thủ khoa” vẫn chờ dài cổ mà chưa được gọi lên nhận quyết định là cớ làm sao?
Thế rồi, một sự ngạc nhiên đáng mừng đã diễn ra. Vào một ngày cuối tháng, cặp Mạnh Tùng-Tuyết Nhung cùng một lúc nhận được quyết định: cả hai được về công tác tại Hà Nội. Khi ấy trông Tùng tươi vui mạnh khỏe chẳng còn dấu vết gì của căn bệnh vừa mắc phải! Chính Tùng thông báo cho tôi: “Có quyết định của mày với cái Hương rồi; lên nhận ngay đi!”. Mừng rỡ, tôi và Hương đi như bay từ Phí Xá đến Giai Lệ và bước vào văn phòng khoa. Ngồi sau bàn giấy để đón tiếp chúng tôi là một người thấp lùn da đen xạm đầu hói mà tôi đã từng gặp nhưng không biết ông ta tên gì và làm gì ở khoa. Không ngước nhìn và cũng chẳng cân hỏi họ tên của tôi và Hương, ông mở rộng một cuốn sổ lớn đóng bìa cứng, xoay chiều nó về phía chúng tôi và nói: “Ký nhận vào đây!” - ông chỉ tay vào chỗ đã ghi sẵn họ tên tôi và Hương. Chúng tôi ký xong, ông chậm rãi lấy trong ngăn bàn ra hai chiếc phong bì trao cho chúng tôi mỗi đứa một chiếc (trong đó là giấy cắt-chuyển hộ khẩu, cắt-chuyển lương thực, phiếu thực phẩm quý 4-1968 và một số tem lương thực và thực phẩm). Rồi ông chìa ra hai tờ giấy, mắt vẫn không nhìn chúng tôi nhưng miệng nói: “Đây là quyết định phân công công tác! Khoa đã xem xét và ưu tiên cho anh chị được về cùng một nơi!”. Tờ quyết định được đánh máy trên giấy mỏng mang chữ ký của Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ và đóng dấu đỏ chói của Bộ Giáo dục. Đọc thấy nơi nhận công tác của mình là “Ty Giáo dục tỉnh Vĩnh Phú”, tôi hoa mắt tưởng mình đọc nhầm: không thể như vậy được! Quá bất ngờ với quyết định này, tôi không thốt nên lời và chỉ còn biết đứng dậy lặng lẽ quay về, quên cả viếc chào kẻ đã trao nó cho mình. Thiên Hương cũng lặng lẽ bước theo tôi mà chẳng nói chẳng rằng.

 

Hàng loạt câu hỏi nảy sinh trong đầu tôi: tại sao một “thủ khoa” phải về tỉnh dạy phổ thông, còn những người kém mình lại được giữ lại đại học? Chẳng lẽ những lời hứa hẹn của các thầy với mình và với ba không có chút giá trị nào? Ai đã gây ra cho mình sự bất công này? Và vì sao họ lại gây cho mình như vậy? Tương lai sự nghiệp của mình rồi sẽ ra sao?... Suy nghĩ quẩn quanh mà không tìm được lời giải đáp, tôi cảm thấy tuyệt vọng và chán nản vô cùng. Mở Nhật ký ra định tâm sự với nó cho đỡ buồn, nhưng tôi không viết nổi một chữ nào! Lần giở lại cuốn Nhật ký cũ từ 4 năm trước, tôi cứ dán mắt vào những dòng này:

“ Ngày 5-11-1964:
Đến nay tôi mới biết cuộc đời là thế nào: nó là một mớ hỗn độn đầy rẫy giả tạo và lừa bịp. Ai khôn thì tránh được sự lừa bịp đó; ai ngu ngốc - như tôi, như bọn chúng tôi - thì cứ việc nướng cuộc đời mình đi như một cái xác bị thiêu! Cuối cùng còn lại một nắm xương tàn…”

 

Khi tốt nghiệp trường phổ thông và bị lừa đi “lao động tình nguyện” ở Công trường muối Đồ Sơn, mình đã viết nên những dòng ghê gớm như vậy đấy. Bây giờ tốt nghiệp đại hoc mình lại bị lừa với cái ghế “cán bộ giảng dạy” hão, thì biết viết gì hơn những dòng ấy?
Kể từ đây, tôi bỏ luôn thói quen viết nhật ký.
Thiên Hương an ủi tôi: “Quốc đừng buồn nữa, hai chúng mình cùng đi với nhau, sướng khổ có nhau, rồi mọi việc sẽ ổn thôi!”. Quả thực, tấm lòng của nàng đã giúp trái tim tôi được sưởi ấm chút ít, nhưng những câu hỏi không lời đáp vẫn cứ day dứt mãi. Tôi hỏi nàng: “Hương có biết tại sao Quốc không được giữ lại Khoa?”. Suy nghĩ một lúc, nàng đáp: “ Hoặc là vì mình không biết ‘chạy’; hoặc có kẻ khác đã cướp mất chỗ của Quốc ở Khoa!...”
Thiên Hương luôn suy nghĩ sâu sắc; nhưng lúc này tôi chưa thể tin lời nàng. Tôi có nghe phong thanh rằng muốn có chỗ làm tốt thì phải “chạy”, tức là bí mật đút lót cái gì đó cho người có quyền phân công công tác. Nhưng có lẽ chỉ những kẻ yếu kém mà đòi chỗ tốt thì mới phải “chạy” chứ? Chẳng lẽ những người giỏi, lại là con cán bộ đảng viên có bìa “C” như mình mà cũng phải thế hay sao; vậy thì còn ra cái thể thống gì nữa? Còn chuyện “cướp mất chỗ” thì cũng khó tin: chẳng lẽ Khoa chỉ có mỗi một chỗ dành cho chị Thúy Nhàn (một cán bộ đảng viên, lại là bí thư chi bộ và là con gái ông Nguyễn Xiển-Phó Chủ tịch Quốc hội)? Mặc dù sức học của chị ấy không bằng mình, cũng khó nói chị ấy “cướp” chỗ của mình.


Không sao lý giải nổi, tôi đến nhà cụ Thọ tìm anh Xương để cùng anh tâm sự. Vừa may anh có ở nhà sau một thời gian vắng bóng. Tay bắt mặt mừng xong, tôi hỏi ngay: “Anh có biết vì sao em phải đi dạy phổ thông mà không được giữ lại Khoa?” Anh trố mắt nhìn tôi: “Ơ! Tớ cứ tưởng Quốc tình nguyện đi Vĩnh Phú để theo Thiên Hương về đó?”. Khi nghe tôi phủ nhận điều này, anh vỗ đùi nói to:

- Thôi chết, chúng mình bị nó lừa rồi!
- Ai lừa hả anh?
- Trần Quốc Tuyển chứ ai!
- Đó là ai?
- Trời ơi, cái cậu này! Tuyển trợ lý tổ chức Khoa chứ ai, cái người đã trao quyết định cho cậu ấy!

 Khi ấy tôi mới biết rằng Khoa có chức vụ “trợ lý tổ chức” và kẻ giữ chức này là ông Tuyển có quyền lực rất lớn trong việc phân công công tác cho sinh viên tốt nghiệp. 

Chờ lâu mà chưa nhận đươc quyết định, anh Xương đã lên văn phòng Khoa hỏi trợ lý tổ chức. Trần Quốc Tuyển cho biết anh là 1 trong 2 người thuộc danh sách được giữ lại trường, nhưng chưa có quyết định gửi về. Anh lập tức lên cơ quan Hiệu Bộ (ở Đoàn Đào) để hỏi phòng Tổ chức Cán bộ (TCCB). Tại phòng này, người phụ trách làm quyết định phân công sinh viên tốt nghiệp là ông Tốn cho biết anh không nằm trong danh sách được giữ lại trường, mà là 1 trong 2 người có quyết định đi làm chuyên gia giáo dục ở nước bạn Lào (người kia là anh Cao Đức Đạm); rồi ông đưa cả bản danh sách do Hiệu trưởng Nguyễn Lương Ngọc ký cho anh Xương xem. Khi ấy, đi “chuyên gia Lào” (thường được nói lái thành “Lao gia truyền”) tức là phải chịu xa cách gia đình lâu dài và nhiều điều cực khổ hơn cả đi công tác miền núi. Choáng váng vì cái quyết định dành cho mình, nhưng anh Xương vẫn còn nhớ hỏi thêm cho bạn: “Tại sao Lê Vinh Quốc cũng không được giữ lại trường?” Ông Tốn đáp: “Danh sách do Khoa đưa lên, có thắc mắc gì thì anh về Khoa hỏi Trần Quốc Tuyển!”.
Trở về Khoa, anh Xương chất vấn Tuyển: “Anh biết quá rõ hoàn cảnh gia đình tôi và cũng biết tôi học hành công tác thế nào; vậy tại sao lại đưa tôi đi Lào?”. Tuyển thanh minh: “Bộ và Trường giao bổ sung 2 chỉ tiêu đi Lào quá gấp, tôi đành phải lấy 2 chỉ tiêu giữ lại trường để chuyển sang đi Lào!”. Anh Xương tuyên bố: “Tôi sẽ lên Bộ để làm rõ việc này!”; rồi anh hỏi thêm “Tại sao Lê Vinh Quốc cũng không được giữ lại trường?”. Tuyển trả lời: “Cậu ấy có nguyện vọng đi Vĩnh Phú cùng cô Thiên Hương”.
Thì ra gã trợ lý tổ chức Khoa đã đối xử với 2 vị thủ khoa như vậy đấy! Mọi sự giải thích của y đều là dối trá và lừa bịp. Nỗi buồn vẫn nặng trĩu trong lòng, nhưng khi đã biết kẻ nào gây ra nông nỗi ấy cho mình, tôi cũng nguôi ngoai phần nào. So sánh mình với anh Xương, tôi nhận ra sự bất công ngang trái dành cho anh còn nặng hơn cho tôi nhiều. Là một “đối tượng kết nạp Đảng”, anh đóng góp công sức cho Khoa nhiều hơn tôi, lại là chồng liệt sĩ đang nuôi con nhỏ và cha mẹ già. Vậy mà y tống anh đi Lào (còn đáng sợ hơn việc bắt tôi đi Vĩnh Phú). Với quyết định này, y đã triệt con đường tiến thân về khoa học và khả năng chăm sóc gia đình của anh! Hơn nữa, đây là lần thứ hai anh phải chịu sự bất công ngang trái như vậy (sau lần đầu bị chặn đường vào Đảng trong năm học trước). Thật dễ hiểu vì sao lần này anh quyết tâm lên Bộ để đòi lại sự công bằng cho mình. Vô cùng xót xa cho vận hạn long đong của anh Xương, tôi chỉ còn biết cầu chúc anh đấu tranh thắng lợi.

 

Một sáng mùa thu mát dịu, khi “gió heo may thổi về trên cánh đồng lúa xanh dập dờn như những lớp sóng” (đúng như câu văn đã thuộc lòng từ thời thơ ấu), tôi cùng Thiên Hương từ biệt thôn Phí Xá thuộc xã Phan Tây Hồ huyên Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên thân yêu với biết bao kỷ niệm vui buồn suốt ba năm qua, để lên đường bước sang một giai đoạn mới của đời mình.
Chia tay gia đình bác Cạc, tôi gửi biếu hai bác một ít tem phiếu. Cái Hoàn còn tặng tôi một bức ảnh nhỏ chụp chân dung cô nàng có tô màu với dòng chữ “Anh Quốc đừng quên em nhé” viết ở mặt sau; khiến tôi phải tặng lại cô ta chiếc bút máy “Trường Sơn”. Thiên Hương chia tay bác Tương và cũng gửi biếu bác chút quà kỷ niệm. Rồi hai chúng tôi lần lượt đến chào gia đình cụ Quyết, gia đình cụ Thọ, chị Thục và chị Ngãi. Hương lại tặng quà cho cu Tũn để lần cuối cùng cảm ơn mẹ cháu đã rộng lòng bao bọc cho mối tình của hai chúng tôi. Lưu luyến với các gia đình bà con nông dân vô cùng tốt bụng đã cưu mang mình suốt mấy năm trời, chúng tôi đều ước hẹn sẽ có ngày trở lại thăm họ. Nhưng lời hẹn ước ấy không trở thành hiện thực, và chúng tôi không bao giờ còn được gặp lại họ nữa (ngoại trừ cái Hoàn mấy năm sau sẽ có lần về Hà Nội gặp lại tôi cùng ba má tôi ở đây).
Cây gạo cổ thụ lúc này đã rụng hết hoa lá, chỉ còn trơ những cành gân guốc với nhiều dáng vẻ khác nhau vươn lên trời xanh, nhưng vẫn hiên ngang đứng bên con đường làng quen thuộc để tạo thành một biểu tượng không quên về chốn làng quê nước Việt tràn đầy nhân nghĩa mang tên Phí Xá này. Bên đồng lúa xanh, các xã viên hợp tác xã vẫn đang nghỉ giải lao, uống nước chè xanh, hút thuốc lào và tán gẫu với nhau.
Để lại sau lưng mình ngôi đình Võng Phan cổ kính, cái giảng đường tranh-tre-nứa-lá có chiếc cầu tre bắc qua và bếp ăn tập thể với những món ăn đạm bạc nghèo dinh dưỡng nhưng vẫn giàu cảm xúc, hai chúng tôi đơn độc bước lên đê sông Luộc để tiến bước lần cuối cùng trên con đường đê quen thuộc hướng về thị xã Hưng Yên với bến xe ở đó. Xếp hàng, mua vé, lên xe. Chúng tôi ngồi bên nhau trong lần cuối cùng đi ô tô từ Hưng Yên về Hà Nội. Cầu phao, Bến Nứa, xuống xe. Chúng tôi cùng lên tàu điện chạy về Bờ Hồ, rồi chia tay nhau ở đây để ai về nhà nấy chuẩn bị cho chuyến đi Vĩnh Phú nhận công tác theo quyết định của Bộ.

 

Ba má cũng chẳng thể ngờ được rằng tôi không được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy mà phải đi dạy phổ thông. Má bảo: “Chắc là tại hai đứa hôn nhau bị chi đoàn kiểm điểm, nên ảnh hưởng đến việc phân công công tác!”. Ba gạt đi: “Đó là chuyện nhỏ, không phải kỷ luật thì ảnh hưởng thế nào được!”. Rồi ba nói cho hai má con hiểu rằng: công tác tổ chức cán bộ vô cùng phức tạp, có rất nhiều yếu tố chi phối nó, nếu mình không lường trước để đề phòng thì phải nhận hậu quả tai hại. Tôi hỏi: “Tất cả các thầy đều muốn giữ con ở lại trường; tại sao tay trợ lý tổ chức khoa lại dám làm trái ý các thầy?”. Ba giải thích: công tác tổ chức cán bộ có cả một hệ thống xét duyệt chặt chẽ từ dưới lên trên; nhưng chỉ cần có sự lơ là lơi lỏng ở một khâu nào đó, thì kẻ thừa hành ở cấp dưới sẽ lộng quyền hành xử theo ý riêng của y. Tôi hỏi: “Bây giờ mình phải làm gì hả ba?”. Hỏi câu này, tôi thầm hy vọng rằng ba sẽ dùng uy thế của mình để can thiệp xin trường và khoa thay đổi quyết định cho tôi. Nhưng ngẫm nghĩ một hồi, ba khuyên tôi: “Đã có quyết định của Bộ rồi thì mình đành chấp nhận. Con cứ coi như về dạy phổ thông là một dịp tốt để rèn luyện tay nghề; rồi sẽ có ngày trở về đại học để phát triển tài năng của mình!”. Ba tôi thế đấy: ông thà chịu sự bất công chứ không bao giờ muốn xin xỏ người khác cho quyền lợi cá nhân và gia đình mình; nhưng luôn kiên quyết bảo đảm quyền lợi cho những người có thực tài mà phải chịu sự đối xử bất công ngang trái vì những nguyên nhân khác.
Giờ đây, khi ba đã nói vậy, tôi không dám nài nỉ ông can thiệp giúp mình nữa, mà chỉ nhận xét rằng: “Lời khuyên của bác Trần Văn Giàu thật chí lý!”. Ba bảo: “Bác Sáu Giàu là người từng trải việc đời và đã chịu đủ mùi cay đắng!”; rồi ông giúp tôi bằng cách viết một bức thư cho bác Vũ Bỉnh-Trưởng Ty Giáo dục Vĩnh Phú, để gửi gắm con mình cho người bạn đồng liêu ấy. Trao phong thư cho tôi, ba dặn: “Khi nào đến Ty Giáo dục thì gửi ngay cho bác Vũ Bỉnh!”. Má động viên tôi: “Con về dạy phổ thông cùng Thiên Hương sẽ đảm bảo được hạnh phúc gia đình; còn hướng vươn lên về học vấn chưa phải là đã hết!”. Rồi má tặng tôi một món quà quý: chiếc áo blu dông kiểu Đức được may rất khéo bằng vi-ni-lông màu cánh gián lót nhung kẻ vừa đẹp vừa ấm, lại có khóa kéo “phéc-mơ-tuya” rất hiện đại. Đây chính là loại trang phục “cao cấp” đương thời mà nhiều người mơ ước.
Phong thư của ba, chiếc áo mới má cho cùng những lời khuyên của ba má đã giúp tôi vượt qua nỗi buồn, để yên tâm lên đường cùng Thiên Hương đi nhận công tác tại Vĩnh Phú, một tỉnh mới thành lập bằng cách ghép lại hai tỉnh cũ là Vĩnh Phúc và Phú Thọ.



Lần đầu tiên được đi tàu hỏa cùng Thiên Hương trên tuyến đường sắt Hà Nội-Lào Cai để đến thành phố Việt Trì-tỉnh lỵ của Vĩnh Phú, tôi có được sự hứng thú làm vơi bớt nỗi buồn tiềm ẩn trong lòng.
Mặc dù tàu rất đông khách, hai chúng tôi vẫn có chỗ ngồi bên nhau và có thể ngắm cảnh qua cửa sổ toa tàu. Tàu qua ga Đa Phúc, chúng tôi bỗng trông thấy trên cánh đồng mênh mông có nhiều ao nước nhỏ phản chiếu loang loáng ánh nắng chiều. Hóa ra đó là những dấu chân ngựa sắt của Thánh Gióng theo truyền thuyết. Xa xa là ngọn núi xanh Sóc Sơn-nơi Thánh Gióng cưỡi ngựa bay lên trời sau khi đã đánh tan giặc Ân. Chẳng bao lâu sau, dãy núi Tam Đảo sắc xanh ánh vàng dưới ánh mặt trời lúc chiều tà hiện lên sừng sững với ba đỉnh cao phía chân trời. Điều đáng ngạc nhiên là ở cửa sổ phía bên kia toa tàu cũng xuất hiện một ngọn núi cao chót vót với ba đỉnh nhọn in hình đậm nét trên ánh tà dương vàng chói khi mặt trời sắp lặn. Thì ra đó là núi Ba Vì, nơi có thần Tản Viên ngự trị cùng với Sơn Tinh (kẻ đã đánh bại Thủy Tinh trong cuộc tranh chấp công chúa Mỵ Nương). Thật tuyệt vời: chúng tôi đang đi qua vùng đất trung tâm nước Văn Lang của thời đại Hùng Vương trong nền “Văn minh sông Hồng” rực rỡ đầy huyền thoại.
Tàu dừng bánh ở ga Bạch Hạc khi trời đã tối mịt. Tiếng loa của nhà ga thông báo: “Quý khách đi Việt Trì xin mời xuống ga này; quý khách đi Phú Thọ-Lào Cai cũng xuống tàu đi bộ qua cầu phao rồi lên tàu mới ở ga Việt Trì!”. Thế tức là chúng tôi đã về đến nơi; còn những ai chưa đến đích của họ thì phải “tăng bo” qua cầu lên tàu khác đi tiếp.
Xuống tàu, chúng tôi nhanh chóng mang theo hành lý đến toa gửi xe đạp để nhận lại chiếc xe đã gửi ở đây, rồi rời khỏi ga ra quốc lộ số 2 và cũng là đường phố chính của thị trấn Bạch Hạc. Có điện thắp sáng nhưng hàng quán lèo tèo không có gì hấp dẫn. Rất may là có một hàng phở treo một con gà luộc bên chùm hành lá tươi non hấp dẫn. Thế là chúng tôi vào đó dùng bữa tối với phở gà cùng hai chiếc bánh mì đã mang theo từ Hà Nội. Xong bữa, tôi đèo Hương cùng hành lý trên xe thẳng tiến về phía cầu Việt Trì. Đây chính là cây cầu sắt nổi tiếng mà tôi từng được biết từ thời thơ ấu qua bài hát “Ánh đèn sáng trên cầu Việt Trì” của Hoàng Hà. Giờ đây nó đã hiện rõ trước tầm mắt, cũng với những ánh đèn sáng trên đó cùng những ánh lửa hàn chốc chốc lại lóe lên soi sáng màn đêm: người ta đang sửa chữa cầu sau khi nó đã bị bom Mỹ phá đổ (có lẽ tấm bia tưởng niệm chuyên gia Trung Quốc Trần Quốc Bình ở đó cũng đã bay biến rồi). Cầu này bắc qua hạ lưu sông Lô - dòng sông nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Pháp với bài “Trường ca sông Lô” bất hủ của Văn Cao. Nhưng gần đến cầu thì có tấm bảng hình mũi tên chỉ đường ghi rõ: “Cầu phao cách 400m” (đáng ngạc nhiên là dưới dòng chữ Việt lại có thêm một hàng chữ Tàu).
Theo hướng mũi tên, chúng tôi rời khỏi quốc lộ đi xuống bờ sông để tìm cầu phao. Trời tối đường lạ, chúng tôi lúng túng chưa biết đi lối nào là đúng. Vừa may có một người từ dưới sông bước lên bờ tiến gần đến chỗ mình. Tôi cất tiếng: “Chào ông! Xin ông chỉ giúp chúng tôi đường đến cầu phao!”. Bỗng người ấy xổ ra một tràng ngôn ngữ lạ tai. Đoán rằng đây là một công nhân Trung Quốc, tôi chào ông: “Nỉ hảo!”; rồi dùng cử chỉ bằng tay kết hợp với một thứ ngôn ngữ nửa Tàu nửa ta, tôi hỏi: “Ủa” muốn qua bờ bên kia thì đi đường nào? Hiểu ý tôi, ông ta cũng dùng động tác tay kết hợp với tiếng Tàu để chỉ đường cho chúng tôi. Tôi lịch sự “xưa xưa nỉ” (cảm ơn ông) và “chai chen!” (hẹn gặp lại!); rồi đèo Hương đi theo lối ông ta đã chỉ. Đây là lần đầu tiên chúng tôi băng qua sông Lô lịch sử bằng cầu phao với một cảm xúc mới lạ: có lẽ người Trung Quốc đã xâm nhập sâu vào đất nước ta.
Việt Trì là một thành phố đặc biệt ở nơi sông Lô đổ vào sông Thao (tức sông Hồng). Hình như nó chỉ có một đường phố chính là quốc lộ số 2 trải nhựa, có các cột đèn đường được thắp sáng bằng điện nhưng không có vỉa hè. Dọc theo một bên đường là các nhà máy có ống khói vươn cao cùng những tòa nhà cao 4 tầng (có lẽ là các khu nhà tập thể của công nhân); còn bên kia đường là các công sở tọa lạc từng nơi cách nhau những khoảng đất trống, lác đác có vài nhà dân xen kẽ vào. Tuyệt nhiên không có phố phường buôn bán gì hết. (Sau này tôi mới nhận ra rằng đó chính là kiểu “thành phố XHCN” do Đảng ta xây dựng). Chỉ mới chín giờ rưỡi tối mà thành phố đã vắng tanh vắng ngắt trong màn sương thu lãng đãng, thỉnh thoảng mới thấy một vài người đạp xe trên đường hay đi bộ bên đường. Chúng tôi cố gắng hỏi họ: có biết Ty Giáo dục ở đâu không? Và có nhà trọ nào xin chỉ giúp chúng tôi? Nhưng tất cả đều lắc đầu: “Không biết!”, hoặc chỉ dẫn lơ mơ khó hiểu.
Trong khi tôi bối rối không biết làm cách nào để có thể qua đêm, Thiên Hương bỗng phát hiện thấy mấy túp lều lợp tranh tuềnh toàng ở dưới chân một ngọn đồi thoai thoải có nhiều cây xanh che phủ. Thế là tôi dắt xe cùng nàng leo lên đó. Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là những hàng quán của một cái chợ mà vào ban ngày sẽ tấp nập người mua kẻ bán, còn bây giờ thì trống hoác với mấy thứ lá bánh vỏ chuối và rác rưởi còn vương trên nền đất. Chọn một lều có vẻ sạch sẽ vững chãi, chúng tôi chui vào để chuẩn bị chỗ ngủ. Tôi khóa xe cẩn thận, lại rút ra chiếc thắt lưng để buộc xe vào cột lều cho chắc ăn. Hương lấy trong túi hành lý ra một mảnh vải nhựa trải làm chiếu, đặt 2 túi hành lý làm gối, cởi áo khoác đắp lên bụng làm chăn. Trong cái buồng ngủ độc đáo theo kiểu “màn trời chiếu đất” nơi chân đồi hoàn toàn xa lạ ấy, lần đầu tiên hai chúng tôi khoan khoái tự do ngủ với nhau mà không sợ bị bất cứ kẻ nào theo dõi. Quấn chặt lấy nhau mà hôn hít âu yếm nồng nhiệt mãi không thôi, rồi chúng tôi ngủ thiếp đi lúc nào chẳng biết.

 

Hơi ấm của ánh bình minh cùng tiếng người lao xao đã đánh thức chúng tôi dậy. Tìm đến những bụi cây cách xa chỗ này để giải quyết vấn đề vệ sinh buổi sáng; rồi chúng tôi nhanh chóng thu dọn đồ đạc, “chỉnh đốn trang phục” (theo một thuật ngữ quân sự quen thuộc) và dắt xe rời khỏi chốn này khi các bà bán hàng bắt đầu đến dọn hàng trong lều của họ. Hỏi thăm một bà về chỗ nào có thể ăn sáng, chúng tôi nhận được sự chỉ dẫn tận tình đến một cửa hàng Ăn uống Mậu dịch Quốc doanh trong ngôi nhà gạch quét vôi vàng lợp ngói nâu đỏ.
Cửa hàng này khá sạch sẽ; và rất may là ở đó bán món mì nước có thit đàng hoàng, chứ chẳng phải “phở không người lái” như ở nhiều nơi khác. Trước khi cầm thìa đũa để thưởng thức 2 bát mì nóng đựng trong tô sắt tráng men, chúng tôi xin phép cô mậu dịch viên cho đi rửa mặt mũi chân tay ở bể nước phía sau gian bếp. Hỏi cô về đường đến Ty Giáo dục; chúng tôi nhận được lời đáp bất ngờ: Ty ấy không ở đây, mà ở thị xã Phú Thọ cách Việt Trì hơn 40 km! Thì ra chúng tôi đã có sự nhầm lẫn: cứ tưởng cơ quan chính quyền thì phải đặt ở tỉnh lỵ; nhưng Vĩnh Phú là tỉnh mới thành lập từ hai tỉnh cũ, nên nhiều cơ quan chưa thể chuyển về thành phố tỉnh lỵ mới, mà vẫn còn ở thị xã tỉnh lỵ cũ.
Vì mãi đến gần trưa mới có tàu hỏa đi Phú Thọ, nên chúng tôi quyết định đèo nhau đi xe đạp đến đó. Trời mát, đường tốt mà hai bên liên tiếp hiện ra những phong cảnh mới lạ vô cùng tươi đẹp của vùng đồi trung du, khiến tôi cảm thấy cuộc đi đầy hứng thú. Vừa đến bên dãy núi Hy Cương có biển chỉ đường vào khu Đền Hùng thiêng liêng, tôi nhớ ngay đến lời Bác Hồ nói với Đại đoàn Quân Tiên Phong tập trung ở đây để chuẩn bị về tiếp quản Thủ Đô 14 năm trước: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Đúng lúc đó có tiếng động cơ ầm ầm, rồi một đoàn ô tô nhà binh phóng qua khiến chúng tôi phải xuống xe nép vào bên đường. Đó là những chiếc ô tô “Giải Phóng” của Trung Quốc; trên mỗi chiếc có hàng chục binh lính mặc loại quân phục lạ màu xám nhạt đeo cấp hiệu đỏ, đội mũ vải mềm có lưỡi trai với ngôi sao đỏ, ngồi nghiêm như tượng gỗ trên ghế dài hai bên thùng xe với cuốc xẻng tựa vai, và một người ngồi giữa hai hàng đó, tựa lưng vào ca bin mà ôm bức chân dung rất lớn của Mao Trạch Đông. Thì ra đó là quân Trung Quốc đang trên đường thẳng tiến từ phía Bắc hướng về Việt Trì. Tôi đếm được hơn 30 xe, tức là lực lượng của hơn một tiểu đoàn công binh. Lần đầu tiên trong đời được chứng kiến tận mắt một đoàn quân Tàu diễu hành rầm rộ trên đất nước ta, trong lòng tôi dậy lên nhiều cảm xúc bất an. Nếu được chứng kiến cảnh này ngay cạnh Đền Hùng thờ Quốc Tổ Việt Nam, chẳng hiểu Bác Hồ sẽ nghĩ gì? (Khi ấy tôi vẫn chưa biết rằng chính Bác đang sống để trị bệnh ở bên Tàu); và quân Tàu vào miền Bắc so với quân Mỹ vào miền Nam thì có ý nghĩa gì khác nhau?
Trên suốt chặng đường tiến đến thị xã Phú Thọ, tâm trí tôi cứ bị mấy câu hỏi ấy bám riết.

 

Các Bài viết khác