NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 11, PHẦN 3

( 11-11-2016 - 04:01 AM ) - Lượt xem: 336

Từ hôm ấy trở đi, tôi không biết ba đã gặp được bác Sáu Giàu lần nào hay chưa; mà cũng không thể ngờ được rằng 20 năm sau chính tôi lại được gặp và cộng tác với bác. Chỉ có lời khuyên của bác là sẽ nhanh chóng thể hiện hiệu lực với tôi một cách lạ thường!

3. Học kỳ cuối cùng

Mang theo những kết quả tốt đẹp của đợt TTSP đầy ấn tượng trở về Khoa, chúng tôi hăng hái bước vào học kỳ cuối cùng để hướng đến kỳ thi Tốt nghiệp.
Tiếp tục khóa trình LSVN Hiện đại, chúng tôi học về các sự kiện đã và đang diễn ra trước mắt mình: Cách mạng XHCN ở miền Bắc, Cách mạng Giải phóng Dân tộc ở miền Nam và cuộc Kháng chiến toàn dân chống Mỹ. Ngoài cuốn giáo trình của hai tác giả Ngọc Anh-Thục Nga, chúng tôi phải tham khảo các bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn và nhiều bài của các nhà lý luận khác (đăng trên tạp chí “Học Tập” và báo “Nhân Dân”) để hiểu rõ đường lối của Đảng về các quá trình cách mạng đó.
Về đường lối cách mạng XHCN, đồng chí Lê Duẩn (thường được gọi thân mật là “anh Ba”) đã phát minh ra “chế độ làm chủ tập thể trên lập trường giai cấp vô sản”, được coi là “hơn hẳn mọi nền dân chủ trong lịch sử”, ngay cả Mác- Lênin cũng chưa nghĩ đến! Theo đó, chỉ cần quán triệt cho nhân dân tinh thần “làm chủ tập thể” thì công nhân sẽ tích cực thi đua sản xuất trong nhà máy; còn nông dân sẽ hăng say lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp, giúp cho nền kinh tế tập thể phát triển mà không trở về với kinh tế cá thể (như cách “khoán hộ” của Kim Ngọc).
Phát triển lý luận về “Ba dòng thác cách mạng thế giới” (gồm Cách mạng XHCN trong phe ta, Phong trào Công nhân ở các nước TBCN và Phong trào Giải phóng Dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc) “đang ở thế tiến công đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận CNTB”; Đảng đã xác định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam theo “tư tưởng tiến công” với phương châm “hai chân” ( phát triển song song lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang), “ba mũi” ( tức “3 mũi giáp công” là đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự và binh vận), “ba vùng” ( cách mạng diễn ra trên cả 3 vùng chiến lược là rừng núi, nông thôn và đô thị). Theo đó, phong trào “Đồng khởi” (1960) đã mở đầu cuộc tiến công cách mạng; rồi lực lượng vũ trang cách mạng ra đời (gồm du kích và Quân Giải phóng) cùng với các đội quân chính trị (nổi bật là “Đội quân Tóc dài” của phụ nữ mà Tố Hữu đã ca ngợi: “Miền Nam gan dạ ai bằng / Đội quân Đầu tóc khăn rằn vắt vai”); rồi 3 mũi giáp công cùng tiến trên cả 3 vùng chiến lược đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt” (1961-1964) của Mỹ-Ngụy; buộc Mỹ phải mang quân vào trực tiếp tham chiến tại miền Nam theo chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” (1965-1968), đồng thời tiến hành Chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Về cuộc chiến tranh chống Mỹ, đồng chí Lê Duẩn khẳng định:“Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước XHCN và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm sau lưng ta”; từ đó Đảng quyết tâm “Đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”.
Chính cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong Tết Mậu Thân 1968 đã thể hiện quyết tâm cao nhất của Đảng. Nhưng quyết tâm ấy chưa dẫn đến thành công; nên Đảng giải thích lại rằng: Tổng tiến công và nổi dậy là một quá trình diễn ra qua nhiều đợt cho đến khi thắng lợi hoàn toàn. Theo đó, quả nhiên Tổng tiến công đã diễn ra thêm 2 đợt nữa: Đợt 2 (5-5 đến 15-6) và Đợt 3 (17-8 đến 30-9-1968). Về sau, tôi sẽ biết rằng cả 2 đợt này cũng lần lượt thất bại, khiến lực lượng quân ta bị tổn thất nặng nề, hầu như không trỗi dậy được nữa.

sao thì Mỹ cũng đã phải ngừng ném bom miền Bắc (từ vĩ tuyến 20 trở ra) để tiến hành đàm phán với Việt Nam DCCH tại Paris. Nhờ đó, chúng tôi đã có được những ngày bình yên để hăng say học tập và vui sống tại nơi sơ tán.
Tôi say mê hoàn thành Tập Bản đồ Lịch sử Việt Nam hiện đại (tức bài tập mà thầy Bạch Ngọc Anh đã giao cho). Dựa vào các bản đồ gốc sưu tầm từ mọi nguồn sách báo, tôi vẽ lại (có bổ sung về nội dung và nâng cao về kỹ thuật) hàng trăm bản đồ, từ cái đầu tiên “Phong trào Xô Viết Nghệ -Tĩnh” đến cái cuối cùng là “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” vào tập giấy kẻ ca rô khổ lớn đã được Thiên Hương đóng bìa rất đẹp. Không chỉ vẽ cho mình, tôi vẽ luôn cho Thiên Hương và cả Trọng Cường tất cả hình thể và ước hiệu của các bản đồ đó. Thế là hai bạn ấy chỉ cần điền đủ các địa danh bằng chữ với bút mực của mình vào đó là xong. Khi chấm bài, thầy ghi vào tập bản đồ của mỗi đứa một điểm 10 tươi rói. Toàn khối chỉ 3 chúng tôi được điểm “10”; mọi người đều biết tác giả của 3 tập bản đồ giống hệt nhau ấy là ai, nhưng không có ai thắc mắc gì về sự giống nhau kỳ lạ ấy!
Để hoàn thành Khóa luân LSTG do thầy Nguyễn Anh Thái hướng dẫn, tôi tham khảo 3 cuốn Lịch sử Trung Quốc của 3 tác giả là Hà Cán Chi, Đổng Tập Minh và Hồ Hoa; đồng thời đọc thêm được mấy bài trong “Mao Trạch Đông tuyển tập”. Từ nguồn tư liệu đó, lại thêm tấm bản đồ về “Các căn cứ địa của ĐCS trong cuộc nội chiến Quốc-Cộng” do thầy cho mượn, tôi đã trình bày đầy đủ “Quá trình hình thành Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Nhật ờ Trung Quốc”, từ cuộc Nội chiến ác liệt giữa Quốc Dân Đảng với Đảng Cộng sản, qua cuộc chiến tranh xâm lược của Đế Quốc Nhật, đến phong trào nhân dân Trung Quốc đòi chấm dứt nội chiến để “Quốc-Cộng hợp tác” chống Nhật. Trong đó nổi bật cuộc đấu trí giữa Mao Trạch Đông với Tưởng Giới Thạch qua “Sự biến Tây An” (với sự tham gia bất ngờ của hai tướng Trương Học Lương và Dương Hổ Thành) đã dẫn đến sự thỏa hiệp giữa Tưởng với Mao để hình thành Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Nhật. Qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi đã hiểu rõ tư tưởng Mao Trạch Đông với chiến lược cách mạng “xây dựng căn cứ địa ở nông thôn, lấy nông thôn bao vây thành thị rồi tiến về giải phóng thành thị”, với chiến thuật chiến tranh du kích gồm 12 chữ: “Địch tiến-ta lui, địch đóng-ta quấy, địch mệt-ta đánh”, với lý thuyết về chiến tranh 3 giai đoạn: “Phòng ngự-cầm cự-phản công” và quan điểm về bạo lực cách mạng : “Chính quyền ở đầu ngọn súng”. Tôi cũng đã hiểu vì sao Mao lại coi nông dân bần cố là “quân chủ lực của cách mạng” (về sau, tôi còn biết thêm rằng Mao coi trí thức chỉ là “cuc phân”).
Khóa luận này được điểm cao và chính nó đã tạo cảm hứng để định hướng cho tôi theo đuổi chuyên ngành LSTG Hiện đại. Sau khi đạt được những kết quả như vậy, tôi bắt đầu nghĩ đến việc chuẩn bị cho kỳ thi Tốt nghiệp.

 

Dường như số mệnh vẫn luôn sắp sẵn cho tôi những gì mà mình đáng được hưởng (vẫn do mình được sinh ra đúng vào giờ tốt?). Khi tình cảm của tôi với Thiên Hương đã trở nên vô cùng nồng thắm, trời đã ban cho chúng tôi một chỗ hẹn hò để có thể thoải mái yêu đương.
Đó là nhà chị Ngãi, một phụ nữ nông dân chưa đến 30 tuổi sống độc thân cùng đứa con trai chỉ mới lên 3 được gọi là “cu Tũn”; đó cũng là nhà trọ của Huỳnh Thanh Trúc do anh Xương tìm giúp sau khi xảy ra sự việc liên quan đến cặp Dung-Phàn. Chị Ngãi dong dỏng cao và gầy với nước da trắng xanh của một người lao động thiếu dinh dưỡng ở nông thôn, trông khác hẳn với chị Trúc béo tròn với làn da trắng trẻo hồng hào của một nữ sinh viên đại học. Nhưng hai người sống rất vui vẻ với nhau nhờ một điểm giống nhau là lòng nhân hậu. Ngôi nhà tranh vách đất lộ rõ vẻ nghèo nàn ấy chỉ cách bếp ăn tập thể của chúng tôi khoảng vài chục bước chân men theo một rặng tre, nên sau những bữa cơm chiều tôi với Hương thường qua đó trò chuyện với chị Trúc và cả chị Ngãi. Chị Trúc đã có người yêu là một sinh viên Đại học Bách khoa, nhưng hai người ít khi gặp nhau nên chắc họ nhớ nhau nhiều lắm. Có lẽ vì vậy mà chị thông cảm và trân trọng mối tình của tôi với Thiên Hương. Chúng tôi rất thương hoàn cảnh của chị Ngãi, nên thỉnh thoảng Hương lại tặng quà cho cu Tũn, mà không dám hỏi chị về cha đứa bé là ai.
Ăn xong bữa cơm chiều đầu tiên tại bếp ăn tập thể sau chuyến đi thực tập trở về, tôi cùng Hương lại vào chơi với chị Trúc như thường lệ. Cả ba chúng tôi cùng ngồi trên giường ôm chăn gối cho ấm và vui vẻ nói hết chuyện này đến chuyện khác. Khi thấy chị Ngãi vặn nhỏ ngọn đèn trên bàn rồi cùng con đắp chăn nằm ngủ trên chiếc giường phía bên kia, tôi giơ tay xem đồng hồ. Chị Trúc liền bảo: “Ngồi với người yêu mà lại xem đồng hồ là bất lịch sự đấy nhé Quốc!”. Rồi chị nằm đắp chăn quay mặt vào tường và nói nhỏ: “Hai đứa muốn làm gì thì cứ thoải mái, chị ngủ không biết gì đâu nhé!”. Hiểu rằng đồng chí nữ Bí thư Chi đoàn muốn tạo điều kiện cho hai kẻ yêu nhau được tự do âu yếm, chúng tôi vô cùng cảm động. Từ từ ngồi sát vào nhau rồi ôm chặt lấy nhau, hai chúng tôi thỏa thích hôn hít và cố gắng làm thật nhẹ nhàng trong bóng tối mà không để phát ra tiếng động. Tay tôi lại tự nhiên luồn vào áo lót và quần lót của nàng để thực hiện những động tác thích hợp với những chỗ bí ẩn nhạy cảm trên thân thể người yêu. Đê mê sung sướng với bàn tay đã nhày nhụa nước nhờn; nhưng tôi vẫn không dám đặt nàng nằm xuông để tiến đến hành động cuối cùng mà mình chỉ biết một cách mơ hồ trong trí tưởng tượng. Có một nỗi sợ hãi tiềm ẩn trong tâm trí đã ngăn tôi tiến đến hành đông đó; và nàng cũng không có cử chỉ nào để thúc đẩy tôi tiến tới. Thế là chúng tôi đã dừng lại trước một ranh giới vô hình; nhưng đến đó thôi cũng đủ để mình được thỏa mãn lắm rồi.
Cảm thấy trời đã về khuya, hai chúng tôi tụt xuống giường, lần mò tìm giày dép rồi lặng lẽ bước ra ngoài, khép cửa lại và rửa tay ở vại nước ngoài sân. Đi cùng nhau một đoạn đường làng dưới ánh trăng mờ, rồi Hương rẽ trái về nhà bác Tương, còn tôi rẽ phải về nhà bác Cạc. Dọc đường về khuya, tôi sợ nhất là cứ phải nghe tiếng chó sủa rộ lên: chắc những chú khuyển này tưởng mình là kẻ trộm!
Sáng hôm sau tại giảng đường, tôi ngắm kỹ dung nhan thánh thiện của Thiên Hương và thầm nghĩ: những sự mò mẫm trong đêm tối của mình trên thân thể nàng có vẻ không xứng đáng với một mối tình trong sáng! Liên tưởng đến Ruồi Trâu và Paven, tôi cảm thấy mình đã yếu hèn không biết kiềm chế bản năng để hướng theo lý tưởng như họ. Sau giờ học, trên đường đi đến bếp ăn tập thể, tôi với nàng lại được chứng kiến Trần Trách (chàng trai Tây Nguyên có chiếc răng vàng nổi bật) vỗ “đét” vào mông Hà Thị Phượng (nữ sinh miền Nam có cặp mông và bộ ngực núng nính căng tròn). Hương nhìn tôi cười, khiến tôi nghĩ: nàng đang thầm so sánh mình với Trần Trách!
Hôm ấy sau bữa cơm chiều, tôi bảo Hương: “Quốc thề sẽ không làm thế nữa!”; nàng lườm tôi: “Thề cá trê chui ống!”. Quả nhiên lời “thề” đó của tôi chỉ tồn tại được vài ngày, khi tôi với nàng cố không ghé vào nhà chị Ngãi. Rồi thì nó đã “chui ống” như cá trê khi hai chúng tôi cứ tối đến là lại vào ngôi nhà thân thuộc ấy; và lần nào vào đó thì bàn tay tội lỗi của tôi cũng mày mò những chỗ ưa thích của nó trên cơ thể nàng mà không gì cản nổi (nhưng nó vẫn không thể thúc đẩy tôi vượt qua ranh giới của việc “ăn cơm trước kẻng”!). Những chuyến “đi đêm” như thế đã trở nên thường xuyên đến mức bọn chó cũng quen và không sủa nữa. Nhưng lại có vấn đề khác khiến tôi phải suy nghĩ: dương vật của mình hồi này vẫn mềm chứ không cứng như những lần đầu gần gũi bên nàng! Phải chăng nó đã bị hư hỏng mất rồi?
Cho đến khi chúng tôi cần dồn thời gian cho việc ôn tập chuẩn bị thi tốt nghiệp, thì những cuộc hẹn hò say mê ấy mới thưa dần rồi phải tạm ngưng.

 

Vào một ngày xuân bừng nắng đẩy lùi những đám mây mù lạnh lẽo do gió mùa đông-bắc tạo ra, tôi may mắn được gặp Giáo sư Trần Văn Giàu từ Viện Sử học đến thăm và tham dự một buổi tọa đàm thân mật với các thầy cô Khoa Sử cùng một số đại biểu sinh viên tại phòng họp của khoa. Đã từ lâu từng được nghe tên tuổi nhà cách mạng kỳ cựu Trần Văn Giàu (cũng là một người bạn cũ của ba tôi), mà cũng đã đọc nhiều sách và những bài viết của ông trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (với các bút danh Tầm Vu và M.N.), tôi vô cùng háo hức khi được gặp nhân vật nổi tiếng mà mình hằng ngưỡng mộ ấy. Cùng đi với vị giáo sư lão thành 57 tuổi còn có một người trung niên đeo kính trắng với gọng đen rất dầy. Đó là nhà sử học Tô Minh Trung-một bạn đồng nghiệp vong niên của giáo sư ở Viện Sử học cũng đã có khá nhiều bài viết trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử.
Có cặp mắt tinh anh với tai to miệng rộng (một tướng mạo của những người sang trọng), giáo sư Trần Văn Giàu cuốn hút cử tọa bằng tài hùng biện siêu việt với ngôn từ giản dị bình dân qua giọng nói Nam Bộ ấm áp. Ông thuyết trình về Lịch sử Cách mạng miền Nam - những điều mà sách báo hiện hành chưa đề cập tới. Qua đó, tôi tiếp nhận được thêm rất nhiều sự kiện mới và bỗng nhận ra rằng ông không chỉ là một người cộng sản lâu năm, mà còn là nhà lãnh đạo cao nhất của cuộc Cách mạng tháng Tám ở Nam Bộ, và làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến-Hành chính Nam Bộ, tức là tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp ở đây. Vậy mà khi viết về các sự kiện này, các giáo trình mà tôi vừa học không hề nhắc đến tên ông dù chỉ một lần. Từ đó nảy ra vấn đề: do đâu mà ông từ bỏ cương vị lãnh đạo cao nhất ở Nam Bộ để ra Bắc và trở thành một giáo sư Sử học? Tôi chưa dám hỏi, thì đã được giải đáp phần nào khi nghe ông kể sơ lược về quá trình công tác của mình: đang lãnh đạo Nam Bộ kháng chiến, ông bất ngờ nhận được lệnh của Trung ương điều động ra Hà Nội, rồi lên Việt Bắc làm Tổng Giám đốc Nha Thông tin (Bộ Nội vụ); năm 1951 được chuyển sang ngành Giáo dục để góp phần xây dựng nền Đại học Việt Nam, trở thành Giáo sư và Bí thư Đảng ủy trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; từ 1962 được điều động về Viện Sử học (thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam). Qua quá trình đó, tôi nhận ra rằng đồng chí Trần Văn Giàu đã liên tục bị hạ tầng công tác, để nhà lãnh đạo tối cao ở Nam Bộ biến thành một nhà nghiên cứu không còn quyền lưc chính trị gì. Nhưng vì sao mà ông bị như vậy thì chưa có câu trả lời.
Tôi khoe với anh bạn học ở lớp Sử 3C vốn quê Nam Bộ đang ngồi cạnh mình là Trương Hữu Đức: “Ba tao từng là bạn của bác Giàu đấy!”; Đức đáp: “Còn tao là đồng hương của bác Sáu Giàu; và vẫn đến thăm ổng ở Hà Nội!”. Khi buổi tọa đàm kết thúc, Đức dẫn tôi đến chào bác Sáu. Nhận ra Đức là người quen, bác vui vẻ ngồi nán lại trò chuyện với chúng tôi. Đức giới thiệu tôi với bác: “Đây là thằng Quốc bạn cháu; ba nó người Nam Bộ và có quen biết bác Sáu đó!”. Bác quay sang tôi và hỏi ba cháu là ai? Khi nghe tên ba tôi, bác vui hẳn lên: “Chà, thì ra mày là con Bảy Nguơn! Học giỏi không cháu?”. Tôi chưa kịp đáp thì Đức trả lời thay: “Nó giỏi nhất khoa đó bác Sáu!”. Bác khen “Tốt!”; rồi nói cho bác gửi lời thăm ba má và gia đình. Trước lúc chia tay, bác khuyên tôi: “Cháu phải cố gắng để được giữ lại làm cán bộ giảng dạy đại học; đừng để bị đưa về trường phổ thông là ‘rồi’ đó!”. Tôi hiểu từ “rồi” của bác có nghĩa là không thể phát triển sự nghiệp khoa học của mình được.
Trên đường về nhà trọ, Đức bảo tôi: “Khi nào về Hà Nội tao sẽ dẫn mày đến thăm bác Sáu ở nhà riêng của ổng!”. Nhưng rồi chuyến viếng thăm theo dự kiến ấy của Đức không bao giờ thực hiện được; thế là bẵng đi một thời gian rất dài tôi không hề được gặp lại bác Sáu Giàu. Tôi cũng không bao giờ còn gặp lại nhà sử học Tô Minh Trung; chỉ nghe nói rằng ông được điểu động đi “B” và đã nhanh chóng ra chiêu hồi chính phủ VNCH rồi sau đó biệt vô âm tín.
Mãi đến hơn hai chục năm sau, tôi mới được gặp lại giáo sư Trần Văn Giàu tại nhà riêng của ông ở số 70 đường Phạm Ngọc Thạch thuộc Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, do mối quan hệ công tác, tôi thường xuyên được gặp bác Sáu Giàu và dần dần hiểu rõ những uẩn khúc trong cuộc đời và sự nghiệp của ông; nhất là khi cuốn “Hồi ký Trần Văn Giàu” được công bố thì mọi sự đã được hoàn toàn sáng tỏ. Vượt ngục ra để tổ chức lại Xứ Ủy của ĐCS đã bị Pháp phá vỡ sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, Trần Văn Giàu không liên lạc được với Trung ương ở ngoài Bắc nên đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng tháng Tám ở Nam Bộ bằng một chương trình hành động sáng tạo có nhiều điều khác biệt với phong trào Việt Minh trên toàn quốc. Khi thực dân Pháp tái xâm lược, ông kiên quyết phát động Nam Bộ kháng chiến, trong khi Trung ương chủ trương dàn xếp bằng đường lối thỏa hiệp. Những sáng tạo khác biệt của Trần Văn Giàu không được Trung ương chấp nhận, nên ông đã bị cách chức và điều động ra Bắc. Khi Hồ Chí Minh mang tư tưởng Mao Trạch Đông vào nước ta, Trần Văn Giàu đã phản đối nên lại bị cách chức, bị đưa ra khỏi các cơ quan quyền lực để trở thành một nhà nghiên cứu lịch sử.
Mặc dù Trần Văn Giàu đã biện minh cho mình bằng quan điểm truyền thống “tướng ở biên cương có khi không chờ lệnh vua”, và thực tế lịch sử đã chứng minh những đường lối và hành động của ông là đúng; nhưng kỷ luật sắt theo nguyên tắc “tập trung-dân chủ” của ĐCS không dung tha bất cứ một sự sáng tạo nào của cấp dưới vượt khỏi sự chỉ đạo của cấp trên. Bởi thế, Trần Văn Giàu đã phải nhận những án kỷ luật bất công với những tội danh rất nặng (dựa trên báo cáo của những người được giao nhiệm vụ thường xuyên theo dõi ông). Mãi đến năm 1988, khi đã 77 tuổi ông mới được minh oan; nhưng Đảng vẫn không thừa nhận sai lầm về việc trừng trị nhà cách mạng có công mà vô tội ấy. Trần Văn Giàu cũng không phải là nạn nhân đầu tiên hay cuối cùng của Đảng-Bác theo nguyên tắc này; mà rất nhiều cán bộ có trí tuệ sâu sắc và bản ngã vững vàng (thường xuất thân từ tầng lớp thượng lưu trí thức) cũng lần lượt bị loại khỏi guồng máy lãnh đạo, để nhường chỗ dần cho những kẻ chỉ có khả năng duy nhất là tuyệt đối phục tùng cấp trên (hầu hết thuộc thành phần bần cố).
Trớ trêu thay, cũng do nguyên tắc ấy, khi Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã nắm quyền lực tối cao của Đảng thì chính Bác Hồ và Võ Đại tướng lại bị các “lãnh tụ” mới đó tước bỏ mọi quyền lực.

 

Đầu buổi chiều một ngày nắng đẹp với bầu trời xanh mây trắng, đang ngồi cùng học với Trọng Cường trong nhà bác Cạc, tôi vô cùng ngạc nhiên thấy ba xuất hiện ngay trước cổng trong bộ vest ka ki giản dị với chiếc cặp da quen thuộc. Thì ra đang trên đường đi công tác trở về, ba tranh thủ rẽ vào Phí Xá thăm tôi (nhưng tôi vẫn chưa hiểu bằng cách nào mà ba tìm được đường đến tận nhà trọ của mình). Trò chuyện với tôi và Cường một lúc, rồi ba bảo chúng tôi dẫn lên nhà trên để thăm gia đình bác chủ nhà.
Chắc rằng bác Cạc rất vui khi được một ông cán bộ trung ương là bố của cậu học trò đang trọ ở nhà mình đến thăm tại nhà. Bác gọi vợ mang nước ra để cùng ngồi vào bàn tiếp khách. Ba tôi cùng hai bác thân mật kể cho nhau nghe về cuộc sống của gia đình mình. Khi biết ba má tôi có 3 con trai mà không có con gái; hai bác gọi hai con gái của mình ra chào khách, nhưng chỉ có cô chị mạnh dạn đến trình diện. Bác Cạc vui vẻ nói: “Đây là cháu Hoàn, con gái lớn của tôi! Nếu hai bác không chê thì vợ chồng tôi cho nó làm con gái nuôi hai bác đấy!”. Ba tôi lấy trong cặp ra một gói kẹo “Hải Châu” tặng Hoàn rồi hỏi: “Cháu có đồng ý làm con nuôi bác không?”; cô ta đáp ngay: “Vâng ạ!”. Thấy vậy, Cường rỉ tai tôi: “Có cần mời Thiên Hương đến không, để tao đi gọi nó?”. Tôi lắc đầu bảo thôi, vì không muốn cho nhiều người biết quan hệ của tôi với nàng, và có lẽ ba cũng không có nhiều thời gian để chờ được gặp Hương.
Ba tôi tạm biệt gia đình bác Cạc và Cường trong không khí thân mật vui vẻ, rồi hỏi con có muốn đi cùng ba về khu sơ tán của ĐHSP Ngoại ngữ? Biết rằng ngày mai không có giờ lên lớp, tôi đồng ý ngay và nhờ Cường báo với Thiên Hương về chuyến đi này, rồi ra khỏi cổng với ba.
Chiếc xe hơi commăngca đậu bên đường dưới bóng cây gạo cổ thụ nở đầy hoa đỏ ối tạo nên một cảnh tượng mới lạ thu hút sự chú ý của dân làng. Anh lái xe đã ngồi sau tay lái, trong khi một vị cán bộ đứng chờ sẵn bên xe. Theo sự giới thiệu của ba, vị cán bộ bắt tay tôi, và tôi được biết đó là chú Lộc, Chủ nhiệm khoa Trung Văn mà cũng là chồng của chị Nguyễn Thúy Quỳnh bạn học cùng lớp với mình. Hóa ra là chú Lộc đã đến thăm vợ và chỉ đường cho ba đến thăm tôi. Ba lên xe ngồi ở ghế trên cạnh tài xế, còn chú và tôi ngồi trên hai băng ghế dài ở thùng xe. Đươc quen chú Lộc là bạn đồng nghiệp của ba , tôi càng cảm thấy mình thân thiết hơn với chị Quỳnh trong lớp. Chỉ có một điều vướng mắc trong cách xưng hô: gọi chồng là “chú” mà gọi vợ là “chị” thật không ổn; nhưng tôi quen thế rồi nên không sửa đổi được.
Lần đầu tiên được đi trên loại xe hơi chỉ dành cho các cấp lãnh đạo tương xứng với nó, tôi cũng cảm thấy hãnh diện. Mặc dù nó là xe commăngca “đít vuông” do Rumani chế tạo thường được mệnh danh là “Rumani vừa đi vừa đẩy”, tôi thấy nó chạy cũng tốt và dọc đường chẳng có sự cố gì. Về đến nơi khi mặt trời vẫn chưa khuất hẳn phía chân trời, xe dừng lại ở văn phòng khoa Trung cho chú Lộc xuống, rồi tiến đến khu Hiệu bộ sơ tán của trường ĐHSP Ngoại ngữ tại huyên Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. Xuống xe và rửa ráy sạch sẽ xong, ba dẫn tôi đến nhà ăn tập thể.
Cơm nước xong, ba đưa tôi đến nơi làm việc của má là phòng Hành chính-Quản trị đặt tại một ngôi nhà ngói có cột gỗ với sân gạch khang trang. Khi ấy má còn đang ở Hà Nội, nên tôi chỉ được làm quen với chú Nhĩ, một cán bộ phụ trách phòng vừa ở vừa làm việc tại đây. Thế rồi hai cha con cùng về nơi ở và làm việc của ba là một căn phòng gắn liền với một Hội trường rất rộng được dựng bằng những cột gỗ, tường đất và lợp tranh. Trong phòng có bộ bàn ghế làm việc, tủ đựng quần áo kiêm đựng sách và 2 chiếc giường gỗ cá nhân.
Ba thắp sáng chiếc đèn bão rồi mở đài orionton cho tôi cùng nghe. Chương trình thời sự của Đài TNVN đang phát đi bản tin chiến sự miền Nam: trong cuộc Tổng tiến công đợt 2, nhiều đơn vị quân Mỹ-Ngụy lọt vào vòng phục kích của ta đã bị tiêu diệt. Ca khúc “Chào anh Giải phóng quân-Chào mùa Xuân Đại thắng” của Hoàng Vân vang lên như để chứng minh rằng quân ta đang thắng lợi giòn giã:

Đồng bằng sông Cửu Long ào ào như nước cuốn
Khắp Tây Nguyên sống dậy, toàn dân ta thừa thắng
Một lòng cùng xông tới, ào ào như thác đổ.
Đập cho tan quân Mỹ xâm lược, quét cho sạch hết loài ác ôn…

(Nhưng ít lâu sau, tôi sẽ biết cuộc Tổng tấn công đợt này cũng bị đập tan; trong đó Thượng tá Tám Hà - Chính ủy Sư đoàn 5 - đã ra chiêu hồi VNCH, và chính tác giả bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” đã gục ngã giữa một trận càn quét của quân Mỹ tại Long An).
Đêm ấy trước khi ngủ, hai cha con tôi trò chuyện với nhau về đủ mọi chuyện. Ba cho biết ở huyện Khoái Châu này đang có nạn truyền nhiễm giun chỉ gây bệnh phù chân to rất nguy hiểm, nên ba phải tìm mọi cách để đề phòng cho cán bộ và sinh viên. Ba khen Thiên Hương rất nhiều và dặn tôi phải biết cư xử tế nhị với nàng thì mới giữ được tình cảm lâu dài. Được thể, tôi kể cho ba nghe chuyện hai đứa hôn nhau bị chi đoàn kiểm điểm, nhưng hóa ra lại là dịp để tuyên bố chính thức mối quan hệ của chúng con với tập thể; rồi nói ba nên thận trọng khi nhận cái Hoàn làm con nuôi, vì nó có vẻ thích con, mà con không muốn làm phật ý Thiên Hương. Ba cho biết nhận con nuôi là một việc phức tạp, nên chưa thể làm theo ý bác Cạc; nhưng ba cũng rất thương bà con nông dân muốn tìm mọi cách cho con mình thoát khỏi cuộc sống nghèo nàn ở nông thôn, để được ra thành thị nương nhờ các gia đình cán bộ. Tôi kể rằng con mới được gặp bác Trần Văn Giàu và nhận được một lời khuyên chân thành của bác. Ba nói bác Sáu Giàu là một nhân vật đáng kính và có vai trò to lớn trong cách mạng, khi nào về Hà Nội ba sẽ đến thăm bác; lời khuyên của bác rất đúng, con cần cố gắng thi tốt nghiệp cho thật tốt để chắc chắn được khoa giữ lại làm cán bộ giảng dạy.
Từ hôm ấy trở đi, tôi không biết ba đã gặp được bác Sáu Giàu lần nào hay chưa; mà cũng không thể ngờ được rằng 20 năm sau chính tôi lại được gặp và cộng tác với bác. Chỉ có lời khuyên của bác là sẽ nhanh chóng thể hiện hiệu lực với tôi một cách lạ thường!

 

Không khí ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp của chúng tôi ngày càng trở nên nóng bỏng giữa lúc vụ gặt mùa ở địa phương đang diễn ra với nhịp điệu khẩn trương dưới khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Khi bà con xã viên mang liềm hái ra đồng gặt lúa, rồi dùng quang gánh và xe cải tiến chở những bó lúa vàng về chất đống ở sân kho HTX để đập lúa tập thể tại đó, thì các sinh viên trọ học lặng lẽ ngồi trong nhà để “sôi kinh nấu sử”. Ban đêm đi trên đường làng nhìn vào cửa sổ các nhà trọ của sinh viên, tôi thấy nhiều ánh đèn sáng thâu đêm cùng những ánh sao trời soi bóng lung linh trên mặt nước ao hồ; thỉnh thoảng lại có một đàn đom đóm lập lòe bay qua khiến cho đêm hè yên tĩnh càng trở nên huyền ảo.
Đã tích lũy được khá đầy đủ kiến thức trong chương trình học, tôi không cần ôn tập quá căng thẳng suốt ngày đêm như nhiều bạn học khác; nhưng vẫn phải hết sức kiềm chế sự khao khát hẹn hò với Thiên Hương, để chú tâm vào việc học sao cho cả hai đứa cùng đạt kết quả tốt.
Một hôm, có một sinh viên là cán bộ-đảng viên trao cho tôi một văn bản đánh máy bằng tiếng Nga và nhờ tôi dịch sang tiếng Việt. Tôi hỏi: “Dịch để làm gì, anh?”; anh ấy đáp: “Đây là một tài liệu ôn tập quan trọng mà mình kiếm được để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp!”. Ngạc nhiên về một tài liệu ôn tập mà lại có vẻ thiếu công khai như vậy, nhưng cũng coi đây là dịp để ôn luyện tiếng Nga, tôi vui vẻ dịch bài đó giúp anh.

Các Bài viết khác