NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 11, PHẦN 2

( 16-10-2016 - 06:31 PM ) - Lượt xem: 364

Tôi biết lúc này mình phải làm gì khi nhìn về chiếc giường có đủ chăn chiếu trên đó. Nhưng bỗng lý trí nổi lên mách bảo: “Ăn cơm trước kẻng” là điều cấm kỵ; phải biết kiềm chế mình như tấm gương Paven; phải giữ kỷ luật dân vận… Thế là tôi rút tay ra, không dám đưa nàng lên giường mà chỉ ngồi lặng lẽ ôm ấp thân hình mềm mại ấy để cơn hứng khởi nguôi dần.

 2. Nghề dạy học là nghề cao quý nhất

 

 Sau Tết được coi là xuân đã đến, nhưng thực ra thời tiết mùa đông vẫn còn nguyên vẹn với những đợt gió mùa đông bắc dồn dập tràn về khiến trời vô cùng giá rét, có hôm nhiệt độ ở Hà Nội xuống đến 6 độ C.

 Trong không khí đầy sôi động của cuộc Tổng tiến công vẫn đang diễn ra ác liệt tại miền Nam, chúng tôi lại trở về Phí Xá vào những ngày đầu tháng Hai để chuẩn bị cho chuyến đi Thực tập Sư phạm (TTSP) cuối khóa. Ngoài tem phiếu, gạo, tiền, chăn màn quần áo và “Giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt Đoàn tạm thời” cần mang theo, tôi còn nhận được từ Khoa chuyển xuống các ca khúc “Bão nổi lên rồi”, “Tiến về Sài Gòn”“Cô gái Sài Gòn đi tải đạn” để tập luyện cho cả lớp hát; và mọi người sẽ lại mang chúng theo để có thể dạy cho học sinh ở trường phổ thông mà mình sẽ đến thực tập nhằm truyền lửa chiến đấu cho các em theo tinh thần “Tiếng hát át tiếng bom”. Vào đêm trước ngày lên đường, tôi với Thiên Hương ngồi bên nhau tâm sự rất lâu. Vốn biết nàng đã gửi rất nhiều thư cho Nhân và nay vẫn chưa quên người tình cũ ấy, tôi bảo nàng viết thư cho mình ở nơi thực tập để có thể hiểu rõ hơn tình cảm của nàng. Nhưng Hương lắc đầu bảo “không” khiến tôi chưng hửng.

 Trong phạm vi tỉnh Hưng Yên và một phần Hải Dương, các nhóm sinh viên 3 khoa Văn-Sử-Địa hợp thành mỗi đoàn TTSP về một trường Phổ thông Cấp III (thường là mỗi huyện hay thị xã có một trường). Mỗi đoàn lại có một nhóm cấp dưỡng mang theo nồi niêu xoong chảo, để thiết lập bếp ăn tập thể cho các thành viên trong đoàn ngay ở trường Phổ thông sở tại. Thiên Hương theo một đoàn TTSP về trường Cấp III huyện Kim Động; còn tôi với hai bạn đồng học mà trước đây rất ít quan hệ với nhau là anh Cầm Văn Chu (cán bộ người Thái đi học ở lớp 3C) và chị Nguyễn Thị Hoạt (cán bộ đi học ở lớp 3D) hợp thành một nhóm (do anh Chu làm nhóm trưởng) trong đoàn TTSP về trường Cấp III thị xã Hưng Yên.

 Là trường Cấp III của thị xã nhưng đã sơ tán về mấy xã nông thôn ngoại thị, các lớp học của trường được dựng bằng tranh-tre-nứa-lá hạ thấp dưới mặt đất có tán cây râm mát che phủ, được bố trí tản mác mỗi lớp một nơi xen lẫn với nhà dân. Đa số giáo viên có nhà riêng ở thị xã và đi dạy bằng xe đạp; một số thầy cô độc thân cũng như chúng tôi là các giáo sinh TTSP mới tới đều ở trọ nhà dân. Nhóm Sử 3 người chúng tôi được phân chia mỗi người về một nhà trọ; riêng tôi được trọ tại một ngôi nhà gạch nhỏ mà chủ nhà hình như theo đạo Thiên Chúa vì thấy có treo ảnh chân dung Đức mẹ Maria trên tường.

 Tại một phòng họp có mái tranh vách đất với giao thông hào dẫn ra hầm trú ẩn, Ban Giám hiệu cùng Hội đồng Giáo viên nhà trường đón tiếp đoàn giáo sinh chúng tôi rất nồng nhiệt trong tình cảm bạn bè đồng nghiệp. Dường như đoàn TTSP đã mang đến một niềm vui mới cho tập thể giáo viên ở đây, nên các thầy cô của trường rất phấn khởi nhận trách nhiệm hướng dẫn cho các giáo sinh thực tập (về cả hai nhiệm vụ : giảng dạy và công tác chủ nhiệm). Anh Đạt nhận hướng dẫn anh Chu và chị Hoạt; chị Bội Trâm hướng dẫn tôi.

 Khi kết thúc buổi họp Hội đồng, một giáo viên nam trạc tuổi trung niên kéo tôi ra một chỗ và hỏi: “Em có phải là con thầy Nguôn không?”. Tôi không đáp mà hỏi lại: “Sao anh biết ba em?”. Anh lập tức ôm chầm lấy tôi và thốt lên: “Trời ơi, em giống bố quá nên anh nhận ra ngay!”. Đó là anh Từ, giáo viên toán-một cựu học sinh của trường Cấp III Lam Sơn (Thanh Hóa). Anh mời tôi đến nhà chơi vào ngày chủ nhật sắp tới và vẽ cả sơ đồ đường đến nhà mình để tôi dễ tìm. Cuộc gặp bất ngờ với anh Từ khiến tôi cảm nhận được tình cảm sâu sắc mà người học trò cũ dành cho thầy cũ của mình tức ba tôi. Thật đáng tự hào khi tôi được làm con của ba và đã theo nghề dạy học cao quý của ba.

 Trước khi được soạn giáo án để thực tập giảng dạy trên lớp, các giáo sinh chúng tôi đều phải dự giờ dạy của các giáo viên hướng dẫn để rút kinh nghiệm. Qua đó, tôi biết ngay là anh Đạt rất vững về chuyên môn và dạy giỏi; còn chị Bội Trâm thì không thể sánh được với anh.

Giáo án đầu tiên của tôi cho bài Lịch sử lớp 8 có nhan đề “Cuộc Duy tân 100 ngày và phong trào Nghĩa Hòa Đoàn ở Trung Quốc”. Từ giáo án này, bài giảng của tôi có thể coi là thành công; nhưng vẫn còn những điều chưa ưng ý. Tôi nhận ra rằng khi phải dồn 2 sự kiện lớn là “Bách Nhật Duy Tân” và “Nghĩa Hòa Đoàn khởi nghĩa” vào một bài hoc vỏn vẹn 45 phút thì không thể tường thuật đầy đủ chi tiết sự kiện với hoạt động của các nhân vật trong đó. Bởi thế, chỉ cần học sinh chăm chú nghe, cố gắng phát biểu ý kiến để giờ học không bị “cháy giáo án” thì đã là thành công rồi; mặc dù sức hấp dẫn của các sự kiện còn bị hạn chế. Hình như chị Bội Trâm cũng kỳ vọng nhiều hơn ở tôi, nên đã nhận xét rằng: “Được biết Quốc là một sinh viên xuất sắc, nhưng qua bài này thì thấy em cũng thường thôi!”.

 Rút kinh nghiệm từ bài này, tôi nghĩ được cách mới để giảng dạy tốt hơn cho các bài sau: giảng lướt qua một số sự kiện (để học sinh tự đọc thêm trong sách giáo khoa), rồi dành phần lớn thời gian cho sự kiện chủ yếu để giảng kỹ với những đoạn tường thuật và miêu tả sinh động (có kết hợp với phát vấn). Nhờ đó, các bài giảng của tôi ngày càng trở nên hấp dẫn, học sinh rất hứng thú học tập và chị Bội Trâm cũng phải hài lòng.

 

 Mặc dù nằm trong thị xã và có điện thắp sáng, ngôi nhà của vợ chồng anh Từ được xây dựng theo kiểu nông thôn với mái ngói, tường gạch sân gạch và bể nước xinh xắn. Anh chị có hai con nhỏ chưa đến tuổi đi học, lại có thêm cô em gái út tên Thúy cùng ở để theo học lớp 10 ngay tại trường của anh trai mình. Cả nhà đón tiếp tôi hết sức niềm nở, rồi chị giết gà làm cơm đãi khách. Quanh mâm cơm gia đình đầm ấm, anh Từ cùng tôi ôn lại những kỷ niệm xưa ở trường Lam Sơn để mọi người cùng biết. Anh nhớ mãi những ấn tượng tốt đẹp về thầy Nguôn khiến tôi thật sự xúc động. Nhưng cũng phải thú nhận rằng cô em gái của anh thu hút tôi rất mạnh. Có da trắng. má hồng môi đỏ, cặp mắt long lanh với hai hàng mi dày cong vút và mái tóc đen mượt mà, Thúy đã phô bày  sắc đẹp hiếm có của một cô gái tuổi 17 tràn đầy sinh lực khiến tôi thỉnh thoảng lại phải liếc nhìn.

Khi nói về công tác TTSP của chúng tôi, anh Từ cho biết chị Bội Trâm nguyên là học sinh miền Nam mới tốt nghiệp ĐHSP nên vẫn non tay nghề; còn anh Đạt từng bị “dính” vào vụ “Nhân văn-Giai phẩm” từ thời còn là sinh viên nên không được vào Đoàn vào Đảng, nhưng anh ấy giỏi chuyên môn và đối xử rất tốt với bạn bè. Anh tỏ ý tiếc là tôi không được anh Đạt hướng dẫn. Tôi bảo em sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của anh Đạt khi có cơ hội.

 Chào tạm biệt mọi người để trở về nhà trọ của mình, tôi mang theo tình cảm ấm áp của anh Từ cùng gia đình, với ánh mắt gợi cảm mà em Thúy xinh đẹp dành cho mình, lại có thêm một chút suy tư về hệ quả của vụ “Nhân văn-Giai phẩm” đối với một vị đồng nghiệp đàn anh mà tôi cảm thấy đáng kính trọng.

 Một buổi tối trời rất lạnh mà gia chủ vắng nhà, tôi mặc áo bông chong đèn ngồi soạn giáo án. Bỗng có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Đứng dậy ra mở cửa, tôi kinh ngạc nhận ra em Thúy đứng ngay trước mặt mà cất giọng ngọt ngào: “Em chào thầy ạ!”. Rất bối rối, tôi mời em vào nhà và hỏi: “Sao đi tối thế em?”. Em đáp ngay: “Tại em nhớ thầy!”. Sững sờ với lời đáp ấy, tôi tạm gạt giáo án sang một bên, mời em ngồi trên ghế đối diện mình qua chiếc bàn. Trong chiếc áo len màu xanh cánh trả khoác bên ngoài áo sơ mi xanh da trời với một chiếc khăn len dày dặn ấm áp quàng cổ, nhan sắc của em vẫn  ngời ngời rực rỡ dưới ánh đèn dầu. Thúy hỏi tôi có thực tập ở lớp em không; và tỏ ra thất vọng khi biết giáo sinh thực tập không được phép giảng dạy ở lớp 10. Bỗng em đột ngột hỏi tôi: “Thầy còn nhớ Thanh Hóa không?”; tôi trả lời “Rất nhớ!”, rồi kể lại cho em những kỷ niệm không quên của mình ở nơi ấy trong thời thơ ấu. Em chăm chú lắng nghe rồi nói: “Vậy mà thị xã Thanh Hóa giờ đây tan nát hết rồi thầy ạ. Chính em cũng đã bị bom vùi; may mà bố mẹ kịp đào bới lên rồi hà hơi thổi ngạt cứu em”. Hình dung cảnh tượng khủng khiếp khi bom Mỹ suýt chút nữa đã chôn vùi một thiếu nữ sẽ trở thành  bông hoa tuyệt sắc như Thúy, lòng tôi bỗng dâng trào tình thương mến đối với em. Thì ra sau vụ đó, anh Từ đã trở lại quê nhà đưa em về Hưng Yên cùng ở với anh chị để tránh tuyến lửa Khu 4.

 Thúy mân mê giấy tờ của tôi đặt trên bàn bằng một bàn tay đẹp với cổ tay tròn trịa trắng ngần: “Thầy soạn giáo án ạ? Cho em xem tí nhé!”. Không đợi tôi cho phép, em đứng dậy bước sang ngồi ngay cạnh tôi. Mùi thơm từ mái tóc và từ cơ thể trinh nữ của em vây bọc quanh mình khiến tôi ngây ngất. Khi đùi em chạm vào đùi mình, tôi rạo rực cả người chỉ muốn ôm ghì lấy em. Nhưng lý trí vẫn còn kịp mách bảo tôi rằng mình không nên buông thả bản năng chiều theo tình cảm bồng bột của em gái mới dậy thì; cùng lúc hình ảnh lý tưởng của Paven Korshaghin thấp thoáng xuất hiện. Lại thêm bức chân dung Đức mẹ Maria trên tường khiến tôi liên tưởng tới Thiên Hương mà tự nhủ: mình phải chung thủy với nàng. Bởi thế, tôi ngồi im như tượng mặc dù Thúy ngả đầu vào vai mình. Lát sau, tôi nói: “Thúy à, em rất đẹp! Chắc có nhiều bạn trai mơ tưởng em lắm đấy!”. Thúy đáp: “Nhưng anh Từ nghiêm lắm; chúng nó đều sợ anh mà không dám đến với em! Mà em cũng chẳng thích đứa nào”. Tôi vén tay áo xem đồng hồ: “Gần chín rưỡi rồi, Thúy về nhà đi em!”. Em chộp tay tôi đòi xem giờ: “Còn sớm mà!”. Tôi phải bảo: “Bác chủ nhà sắp về, nếu bác ấy bắt gặp em ở đây thì bất tiện lắm”; Thúy mới miễn cưỡng đứng dậy và đột ngột đổi cách xưng hô: “Vậy thì em về; nhưng anh sẽ phải đến thăm em nữa đấy nhé!”. Tôi gật đầu thay cho lời đáp, rồi tiễn em ra cửa và chợt nghĩ: không thể để Thúy về một mình trong đêm tối được! Thế là tôi đóng cửa nhà, đón lấy chiếc xe đạp mà em vẫn dựng ở sân, rồi cùng em dắt xe ra đường. Tôi đạp xe đèo em ngồi phía sau, băng qua hết đoạn đường làng dưới bóng đêm mờ ảo; cho đến khi gặp con đường nhựa của thị xã có ánh điện soi sáng và người đi lại khá đông thì dừng lại, để trả xe cho em đạp tiếp về nhà.

 Trên đường cuốc bộ quay về, tôi không ngừng suy nghĩ về Thúy. Thật không ngờ em có tình cảm nhanh chóng và mạnh mẽ với mình đến thế. Phải chăng vụ chết hụt vì bom đã khơi dậy tình yêu con người và cuộc sống mãnh liệt trong em? Nhưng tôi thì có gì để cho cô gái xinh đẹp ấy yêu thích; nhất là khi mình có một nhược điểm lồ lộ khiến bạn bè hồi nhỏ đã tặng cho cái biệt danh là “Quốc méo”? Câu hỏi này bám theo tôi suốt đời; thỉnh thoảng nó lại nổi lên mỗi khi biết rằng có người con gái nào đó quan tâm đến mình. Nhưng thực tế vẫn cho thấy: tôi không hề bị con gái chê, mà ngược lại, còn luôn được các cô chú ý và chủ động tìm đến với mình. Chắc mình thuộc loại người có “số đào hoa”?

 Đêm khuya trời rét buốt, tôi nhớ Thiên Hương da diết. Mặc dù đã trùm chăn kín đầu, tôi vẫn không sao ngủ được, nên lại ngồi dậy thắp đèn viết nhật ký để tâm sự với nàng. Tôi băn khoăn tự hỏi: tại sao nàng lại không muốn viết thư cho mình?

 

 Hương đã trả lời tôi không phải bằng thư, mà bằng một chuyến đến thăm bất ngờ. Trời rét đến mức Hương phải mặc cả áo len lẫn áo bông, lại thêm khăn len vừa trùm đầu vừa quấn quanh cổ, vậy mà nàng vẫn đạp xe hàng chục km đến thăm mình khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi vội vàng đến nhà bếp báo thêm một suất ăn tập thể, rồi quay về kề cận bên nàng. Dĩ nhiên hai chúng tôi trao đổi nhiều về các hoạt động thực tập của mỗi đứa; và tôi được dịp phổ biến cho nàng kinh nghiệm soạn giáo án sao cho giờ dạy trên lớp đạt kết quả tốt. Bữa trưa, tôi với nàng cùng anh Chu và chị Hoạt quây quần thưởng thức bữa cơm tập thể đạm bạc nhưng rất vui cùng giáo sinh ở các môn khác; rồi Hương theo chị Hoạt về nhà để cùng ngủ trưa với chị (sau đó chị còn mời Hương sang ngủ đêm nữa).

 Buổi chiều tôi có giờ lên lớp, nên đã xin phép chị Bội Trâm cho Hương cùng dự. Dĩ nhiên là sự xuất hiện của một cô giáo trẻ mới lạ trong lớp không thoát khỏi những cặp mắt tò mò của đám học sinh tinh nghịch. Kết thúc bài giảng và nghe chị Bội Trâm góp ý xong, tôi và Hương lại đến bếp ăn tập thể dùng bữa chiều cùng anh Chu và chị Hoạt.

 Cơm nước xong, rất may là chủ nhà trọ của mình lại đi vắng nên tôi với nàng có cả một buổi tối tự do ngồi bên nhau dưới ánh đèn dầu đặt trên bàn. Nghe nói bức chân dung Đức Mẹ treo trên tường luôn gợi cho tôi nhớ đến dung nhan nàng, Hương tỏ ra xúc động. Vẫn biết nàng hay bị đau khớp khi trời lạnh, tôi đòi nàng cho xem hai cổ tay có bị tấy đỏ không, rồi hôn vào đó cho nàng đỡ đau; hôn tiếp cả bàn tay và các ngón tay, rồi ôm ghì lấy nàng mà hôn lên má. Để đỡ vướng víu, hai chúng tôi cùng cởi áo bông mà thỏa sức ôm nhau hôn hít. Rồi chẳng biết do đâu xui khiến, lần đầu tiên trong đời tôi luồn tay vào trong áo lót và quần lót của một người bạn gái để khám phá những đồ bí ẩn trong đó với một cảm giác vô cùng sung sướng. Nàng không hề ngăn cản mà cứ luôn miệng xuýt xoa khiến tôi càng thêm hứng khởi… Âm hộ nàng đã giàn giụa nước nhờn, còn dương vật tôi cũng ngóc đầu dậy rất nhanh. Tôi biết lúc này mình phải làm gì khi nhìn về chiếc giường có đủ chăn chiếu trên đó. Nhưng bỗng lý trí nổi lên mách bảo: “Ăn cơm trước kẻng” là điều cấm kỵ; phải biết kiềm chế mình như tấm gương Paven; phải giữ kỷ luật dân vận… Thế là tôi rút tay ra, không dám đưa nàng lên giường mà chỉ ngồi lặng lẽ ôm ấp thân hình mềm mại ấy để cơn hứng khởi nguôi dần.

 Xem đồng hồ biết trời đã về khuya, tôi nói nhỏ: “Hương à, chắc là bác chủ nhà sắp về rồi; để Quốc đưa Hương qua nhà chị Hoạt ngủ nhé!”. Nàng không nói gì, chỉ thở dài rồi đứng dậy vuốt tóc, xốc lại quần áo và mặc lại áo bông. Tôi cũng khoác áo bông rồi cùng nàng đi rửa tay rửa mặt ở vại nước ngoài sân. Đóng chặt cửa nhà, tôi dắt xe đạp ra cổng rồi đạp xe đèo nàng đi trên con đường làng dưới bầu trời đêm tối lạnh. Hương sang ngủ  tại nhà chị Hoạt là sự đảm bảo cho nàng và tôi không vi phạm kỷ luật dân vận, mà chắc chắn nàng được tắm rửa kỹ càng và sẽ ngủ ngon.

 Trở về nằm một mình đắp chăn trên giường, tôi vẫn lâng lâng sung sướng với những cảm xúc mới lạ mà mình vừa được tận hưởng; nhưng vẫn tự hỏi rằng việc mình sục sạo mày mò những chỗ kín của con gái như vậy là tốt hay xấu, là đúng hay sai? Mình vẫn nghĩ tình yêu là trong sáng cao đẹp, sao lại dẫn đến những cử chỉ mờ ám dung tục thế? Chẳng hiểu Hương nghĩ gì khi thấy mình ban ngày đàng hoàng đĩnh đạc giảng bài trên lớp, nhưng tối về thì lại âm thầm mò mẫm như vậy? (Mình có vẻ cũng giống với nhân vật trong câu ca dao: “Ban ngày quan lớn như thần / Ban đêm quan lớn tần mần như ma!”) ...  Nhưng rồi cảm xúc thỏa mãn dễ chịu đã ru tôi vào giấc ngủ ngon nên chẳng biết hai bác chủ nhà đã về từ lúc nào.

 Sáng hôm sau Hương phải quay về trường thực tập, nên tôi đưa nàng ra cửa hàng Mậu dịch Quốc doanh Ăn uống Thị xã để cùng nhau điểm tâm bằng món ngon truyền thống quen thuộc. Hai bát phở nóng được bưng ra, nhưng trong đó không có miếng thịt nào hết. Tôi hỏi chị mậu dịch viên rằng sao lạ thế? Chị ta hất hàm cao giọng: “Thịt đã được thay bằng mì chính, không thấy à? Mắt để đi đâu thế?”. Lúc ấy chúng tôi mới nhận ra mỗi chiếc thìa đặt ngửa trên mỗi bát đều đựng một nhúm mì chính (để cho khách hàng thấy rõ rằng mình được ăn mì chính thay cho thịt, chứ không phải là ăn phở “suông” không thịt). Trộn mì chính vào nước dùng, thế là lần đầu tiên hai chúng tôi được chén món phở không có thịt sẽ trở nên nổi tiếng với tên gọi “phở không người lái” (một tên gọi nhái theo tên “máy bay không người lái” của Hoa Kỳ!). Món phở này sẽ ngày càng trở nên phổ biến hơn cả “phở lợn”; nó thay cho “phở gà” và “phở bò” (bao gồm các loại “chín”, “tái”, “nạm”, “gầu”…). Các loại phở truyền thống hấp dẫn ấy dần trở thành những món ngon vô cùng quý hiếm, khiến nhiều người dân miền Bắc thèm thuồng chỉ còn biết gợi nhớ hương vị hấp dẫn của chúng qua thiên tùy bút “Phở” của Nguyễn Tuân (cho dù tác phẩm văn chương này bị phê phán nghiêm khắc vì nó thể hiện tư tưởng hưởng lạc “tạch-tạch-sè”).

Nhưng dù sao thì bát “phở” không cần có “người lái” này cũng giúp Thiên Hương yêu quý tội nghiệp của tôi được ấm bụng trên đường đạp xe trở về nơi mình đang thực tập, để phấn đấu trở thành người kỹ sư tâm hồn.

 

 Thúy nhanh chóng phát hiện ra cô giáo trẻ xinh đẹp mới tới chính là bạn gái của tôi, nên em buồn bã mà bỏ bê việc học. Tội nghiệp Thúy, tôi phải tìm mọi cách để giải tỏa nỗi buồn cho em, kể cả việc nói dối rằng “Thiên Hương chỉ là một người bạn bình thường của anh”.

Nhưng còn có nhiệm vụ quan trọng hơn mà tôi phải thực hiện trong công tác chủ nhiệm lớp. Tại cuộc họp phụ huynh học sinh được tổ chức trong một ngôi nhà gạch rộng rãi (nhưng các vị phụ huynh đến sau vẫn phải ngồi cả ở ngoài hè và trên bậc cửa), chị Bảo Trâm phát “Sổ liên lạc Nhà trường-Gia đình”, trao đổi với các vị về kết quả học tập và tính cách của từng học sinh trong lớp. Khoác áo len và quàng khăn len trang trọng, với khuôn mặt phúc hậu và giọng nói miền Nam ấm áp, chị giao tiếp với các vị phụ huynh bằng phong cách mẫu mực của một nhà giáo. Sau khi kết thúc cuộc họp, chị giao cho tôi nhiệm vụ tìm hiểu hoàn cảnh của mấy “học sinh cá biệt” để nghĩ cách giúp các em tiến bộ.

 Trước hết là trường hợp hai anh em sinh đôi mang tên Việt Hùng và Việt Dũng giống nhau như hai giọt nước (và hai đứa cũng ăn mặc y như nhau!). Phải làm sao phân biệt được đứa nào là đứa nào, để ngăn chăn việc đứa nọ lên trả bài thay cho đứa kia. Tôi hỏi: sao không tách hai em sang hai lớp khác nhau? Chị Bội Trâm giải thích: hai đứa ấy đi đâu cũng có nhau, nên cần để chúng học cùng lớp cho dễ giúp nhau học tập. Thế là tôi phải xem xét kỹ dung nhan hai em để tìm ra sự khác nhau về nốt ruồi trên má mỗi đứa; rồi xếp cho mỗi em ngồi riêng một bàn là ổn.

Trường hợp thứ hai là một học sinh nam phạm tội “ăn cắp táo” bị nhân dân viết thư tố cáo với trường. Sau giờ học, tôi bảo em này ở lại gặp mình, đưa cho nó đọc bức thư đó và hỏi: thư viết có đúng không? Thằng bé gật đầu xác nhận rồi bật khóc. Tôi vỗ về nó: “Đừng khóc em, không có gì nghiêm trọng đâu! Kể tôi nghe sự việc rồi thầy trò mình tìm cách giải quyết!”. Nó kể: em mang súng cao su đi bắn chim, nhưng nhìn lên cây không thấy chim mà lại thấy nhiều táo chín ngon quá, thế là em bắn táo; nhưng táo không rơi xuống đường mà cứ rơi trong vườn, nên em phải chui rào vào nhặt, rồi tiện thể trèo lên cây hái được một bọc; bác chủ nhà phát hiện kêu lên, em liền tụt xuống chạy ra đường. “Đúng là một trò tinh nghịch vô ý thức của trẻ con!”- tôi cố nín cười mà thầm nghĩ. Thế là tôi phải giải thích cho em hiểu rõ sai phạm của nó trong việc xâm phạm tài sản của người khác, rồi dẫn nó đến xin lỗi bác chủ vườn và hứa sẽ không tái phạm. Rất may là bác chủ đã nguôi giận mà chấp nhận sự hối lỗi của “tên tội phạm” này! Bác còn nói riêng với tôi: “Nói thật với thầy, công điểm hợp tác xã không đủ sống nên gia đình tôi phải trông cậy vào vườn táo này. Nếu bọn trẻ cứ đến phá mãi thì chúng tôi chết!”. Tôi cam đoan sẽ không để việc đó tái diễn, rồi nói với bác: “Tôi biết táo Thiện Phiến của Hưng Yên ta rất ngon; có lẽ táo nhà bác thuộc loại ngon nhất trong đó?” Bác tươi ngay nét mặt, rồi gọi bác gái từ trong buồng mang ra một đĩa táo đầy: “Đây, mời thầy với cháu nếm qua cho biết!”. Nếm xong sản phẩm đặc sắc này, chúng tôi chia tay bác chủ như những người thân thiết. Thế là sự việc đã được giải quyết êm đẹp; tôi chỉ có một yêu cầu với chị Bội Trâm: đừng khắt khe quá trong việc xếp loại hạnh kiểm em này để khỏi ảnh hưởng đến tương lai của nó.

 Sau cùng là trường hợp một nam sinh tên Cải vốn chăm chỉ hoc hành bỗng trở nên  chểnh mảng việc học bài và bỏ không làm nhiều bài tập được giao. Hỏi em vì sao như vậy? Nó trả lời gọn lỏn: vì em bị mất sách vở!

 Tôi cùng Cải đi bộ theo một con đường đất nhỏ hẹp lầy lội len lỏi giữa những hàng tre um tùm rậm rạp, dẫn đến một xóm nhỏ trên bãi bồi ngoài đê ven sông cách trường hơn 3 km. Tại nơi hẻo lánh này, gia đình Cải gồm 4 người sống trong một ngôi nhà tranh vách đất với một chái bếp lộ rõ vẻ nghèo nàn. Được biết thầy giáo của con đến thăm gia đình, bố mẹ Cải đón tiếp tôi như một vị khách quý. Bên ấm trà nụ, bác chủ nhà kể cho tôi nghe đủ mọi chuyện về gia đình mình, cả lý do vì sao ông đặt tên con là Cải: nó được sinh ra đúng vào ngày có vụ đấu tố địa chủ trong cuộc CCRĐ ở xã; nhờ việc sinh đẻ đó mà vợ chồng ông có lý do vắng mặt, để khỏi phải gây thù chuốc oán với một người bà con trong họ đã bị quy tội và bị giết trong vụ đó. “Thằng anh tên ‘Cải’ thì con em gái nó tên ‘Cách’ để gọi cho thuận tai!”- bác giải thích. Khi nghe tôi trao đổi về sự sa sút trong học tập của Cải, bác bảo: “Nhà tôi tuy nghèo nhưng không bắt các cháu làm việc nhiều!”; rồi gọi ngay con vào hỏi tại sao như vậy? Cải vẫn trả lời bố như đã trả lời tôi: vì bị mất sách vở! Thế là giữa hai bố con diễn ra cuộc đối thoại:

      

- Sao lại mất?

- Trời mưa, đường trơn con bị ngã, túi sách văng vào vũng nước bùn làm sách vở dính bẩn và nhòe nhoẹt hết; về nhà cố gột rửa cũng chỉ cứu được 2 quyển sách!

- Sao mày không bảo tao?

- Con sợ bố mắng…

 

 Cho con ra ngoài, bác phân trần với tôi: “Thầy xem, con cái thế đấy!”. Tôi cũng ngạc nhiên về cái lý do ngây thơ của cậu học trò dẫn tới sự sa sút trong học tập của em. Tôi đề nghị bác mua cho em mấy cuốn vở mới bù vào số vở đã hỏng, rồi dặn bác yên tâm để tôi sẽ giúp em tiến bộ. Bác bảo: “Trăm sự nhờ thầy!”; rồi tha thiết mời tôi ở lại dùng bữa “cơm rau mắm” với gia đình (thực ra tôi đã nghe tiếng bác gái giết gà dưới bếp!). Bác đãi cơm tôi theo đúng phong tục truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc: chỉ có bố với thầy ngồi cùng mâm ở nhà trên, còn mẹ với hai con cùng ăn dưới bếp. Bác rót rượu “kính thầy!” khiến tôi cũng phải nhắm mắt uống cạn chén rượu cay sè cho giống các thầy đồ xưa! Nghê dạy học đúng là nghề cao quý nhất.

 Trở lại trường, tôi giao trách nhiệm cho hai anh em Việt Hùng và Việt Dũng : giúp bạn Cải chép lại những bài học và bài làm đã bị mất, cho bạn mượn mấy cuốn sách giáo khoa còn thiếu (hai anh em Hùng-Dũng có thể dùng chung một bộ sách), học nhóm để giúp bạn hoàn thành các bài tập mới. Cả hai anh em Hùng-Dũng và Cải đều vui vẻ thực hiện đúng lời tôi. Chẳng bao lâu sau, Cải đã bổ sung được những kiến thức bị đứt đoạn và lại chăm học như trước.

 

 Trước khi kết thúc đợt TTSP 6 tuần lễ, chị Hoạt có sáng kiến tổ chức một bữa ăn tươi tại nhà trọ của anh Chu để nhóm sử chúng tôi tỏ lòng biết ơn các giáo viên hướng dẫn. Anh Chu và tôi góp tiền để chị đi chợ và nấu nướng. Chị nấu một món gà rô ti rất tuyệt, kèm theo món nộm đu đủ xanh thái chỉ trộn chua ngọt rắc lạc rang giã nhỏ cũng rất thơm ngon. Anh Chu đi mua bia hơi ở cửa hàng mậu dịch, còn tôi bưng 3 suất cơm tập thể về để thức ăn thêm phong phú. Anh Đạt, chị Bội Trâm, bác chủ nhà cùng 3 người trong nhóm chúng tôi vui vẻ ngồi quanh mâm cơm thịnh soạn sẽ trở thành một kỷ niệm khó quên.

 Tôi cũng có cuộc chia tay khá cảm động với anh Từ cùng gia đình; và đã trao đổi địa chỉ với Thúy để em tin rằng không bị mất liên lạc với tôi. Mười năm sau tôi bất ngờ được gặp lại chị Bội Trâm tại một trường Trung học ở Sài Gòn; nhưng không có dịp nào được gặp lại và cũng không nhận được tin tức gì về anh Đạt, anh Từ, em Thúy và các học trò thân thiết trong lớp thực tập của mình nữa.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác