NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 11, PHẦN 1

( 24-09-2016 - 08:55 PM ) - Lượt xem: 374

Vì chưa nói gì với ba má về quan hệ của mình với Thiên Hương, nên tôi chưa dám mời nàng đến thăm hai cụ. Nhưng ngày hôm sau, khi cậu Bính cùng dì Quỳ đạp xe đến thăm anh chị Nguơn, thì ba má đã biết sự bí mật của tôi. Cậu Bính cứ hết lời tấm tắc: “ Cái anh chàng Quốc tấm ngẩm tầm ngầm như vậy, mà hóa ra lại kiếm được cô bạn gái quá hay!”.

CHƯƠNG MƯỜI MỘT - TÌNH YÊU VÀ SỰ NGHIỆP

 

  1. Xuân Mậu Thân 1968

   Theo thông lệ, ai cũng tin tưởng ở thỏa thuận tạm ngừng chiến giữa hai bên đối địch trong dịp Tết Mậu Thân 1968, nên người Hà Nội từ nơi sơ tán đã tấp nập trở về thành phố để được hưởng một cái tết bình yên vui vẻ.

 Sáng mùng một trời lạnh nhưng không mưa. Sau khi chúc tết ba má rồi ăn sáng với bánh chưng và dưa hành cùng gia đình, tôi mặc bộ quần áo tốt nhất (sơ mi trắng với quần ka ki được là cẩn thận, thêm áo vệ sinh và áo bông xanh có cổ giả lông, đi giày vải cao cổ kiểu quân đội), đạp chiếc xe Peugeot đã được lau chùi sạch bóng đi thăm Thiên Hương.

 Trên đường đã xuất hiện những loại xe đạp mới mà cán bộ được mua theo tiêu chuẩn cung cấp hoặc được mang từ nước ngoài về: các xe nam hoặc nữ sơn đen hoặc màu rêu đậm mang nhãn hiệu “Phượng Hoàng” (Phoenix) hay “Vĩnh Cửu” (Forever) do Trung Quốc chế tạo có dáng vẻ cục mịch nhưng bền chắc; các kiểu xe nữ sang trọng mà thanh thoát mang nhãn hiệu “Favorit” hoặc “Praha” của Tiệp Khắc; các xe nam có vành bánh lớn với ghi đông uốn vòng xuống theo kiểu thể thao mang nhãn hiệu “Turist”, “Sputnik” hay “Sport” của Liên Xô; nhưng kiểu cách và quý phái nhất là xe nữ “Diamant” có tay cầm ngang của CHDC Đức được sơn màu xám bạc. Thỉnh thoảng lại xuất hiện một vài chiếc mô tô mang nhãn hiệu “Spartz” hay “Start” do Tiệp Khắc sản xuất mà các cán bộ “bìa C” được mua theo tiêu chuẩn cung cấp của mình. Mọi người trên xe đều mặc những bộ trang phục đẹp, có người còn đeo đài bán dẫn bên hông mở tiếng rõ to để khoe “đẳng cấp” của mình. Đi dần vào trung tâm thành phố thì xuất hiện những chiếc xe hơi “Moskvich” màu sữa và cả xe “Volga” đen bề thế phô trương địa vị của các cốp “bìa B” và cả “bìa A”.

 Xuống xe đứng trước cổng nhà 58 Hàng Chuối, tôi phân vân chưa dám bấm chuông vì sợ mình sẽ là kẻ “xông đất” nhà nàng. Vừa may cổng mở và dì Phương bước ra cùng một bà áo dài quần trắng-chắc là bạn của dì. Dì cung kính chào tiễn khách ra về, rồi tươi cười bảo tôi: “Quốc vào đi cháu! Hương đang chờ cháu trên gác!”. Tôi chào dì, dì đáp lại và thân ái ra hiệu cho tôi dắt xe vào. Nhà Hương trang hoàng đón tết cũng đơn sơ với hai chậu cúc và một cành đào đặt trong phòng khách. Bàn trà tiếp khách cũng giản dị với hộp “Mứt Tết” mậu dịch, có thêm đĩa hạt dưa và ấm pha trà “Thanh Hương”. Ngồi bên Hương đối diện với dì Phương cùng em Hùng và cậu Hậu, tôi được mọi người hỏi han ân cần về hoàn cảnh gia đình và việc học hành ở ĐHSP. Tôi kể tỉ mỉ cho cả nhà nghe và cảm thấy mọi người đều hài lòng. Được Hương cho biết rằng tôi học giỏi, cậu Hậu rất vui và khuyên tôi không nên lãng phí thời gian vào các phong trào đoàn thể “vớ vẩn” để tập trung vào chuyên môn học thuật. (Sau này tôi mới nhận ra rằng lời khuyên này chính là kinh nghiệm sống đã giúp cậu trở thành một bác sĩ nhãn khoa rất giỏi, và là cán bộ giảng dạy nổi tiếng của trường Đại học Y-Dược).

 Chúc tết dì và cậu xong, Hương và tôi xin phép đi chơi. Ngày Tết mà nàng vẫn giản dị trong chiếc áo len cổ lọ màu xanh da trời với chiếc áo nhung kẻ màu đỏ tím khoác ngoài quen thuộc, chỉ làm điệu bằng một chiếc khăn san mới quàng cổ. Cũng như hầu hết phụ nữ miền Bắc thời bấy giờ, Thiên Hương chưa bao giờ trang điểm bằng phấn son (loại mỹ phẩm này dường như chỉ dành riêng cho các nữ văn công trên sân khấu). Dắt ra một chiếc xe đạp nữ “Phượng Hoàng” (Phoenix) mới tinh (có lẽ do cậu Hậu mới được mua cung cấp), Hương rủ tôi cùng đi chúc tết bố mẹ nàng ở nhà  riêng của hai cụ. Tôi hơi hoảng vì mình chưa hề chuẩn bị ra mắt song thân nàng vào dịp này; nhưng cũng phải chiều theo ý nàng.

 Thật ngạc nhiên là nhà bố mẹ Hương lại ở ngay trên phố 325, cách không xa phố Nguyễn Bỉnh Khiêm của nhà cậu Bính. Đó là một ngôi biệt thự hai tầng cũ kỹ với cầu thang và sàn gác lát gỗ theo kiểu Pháp giống như nhà dì Phương. Hương có chìa khóa riêng để mở cổng, nên hai chúng tôi cứ thản nhiên dắt xe vào.

 Khi nghe Hương giới thiệu “đây là Quốc, bạn học của con”, bố Hương đang ngồi ở bộ xa lông phòng khách liền đứng dậy bắt tay tôi và mời ngồi. Bố Hương là bác Nguyễn Văn Hoan có tầm vóc và trạc tuổi ngang với ba tôi nhưng tóc vẫn còn đen. Trong bộ pyjama giản dị có khoác thêm chiếc áo bông và quàng khăn len cho đỡ lạnh, bác mở hộp mứt và rót trà nóng mời khách, rồi hỏi han tôi về mọi việc ở trường và ở nhà. Đúng lúc tôi đang kể về ba má mình thì bác gái xuất hiện. Tôi vội đứng dậy cúi đầu chào bác; bác gật đầu chào lại và ra hiệu cho tôi ngồi xuống. Mẹ Hương dong dỏng cao và gầy hệt như con gái, với khuôn mặt cũng đẹp nhưng không hoàn toàn giống Hương. Trong bộ trang phục mặc ở nhà với những hoa văn được thêu tinh tế, lại khoác thêm một chiếc áo len rất đẹp, có lẽ bác Hoan gái (nhũ danh Đoàn Phi Nga) chú trọng đến hình thức bên ngoài còn hơn con gái mình. Nghe tôi kể về cương vị công tác của ba, bác xuýt xoa: “Vậy là gia đình cậu có ‘bìa C’ nhỉ!”. Hương lập tức lườm bác: “Mẹ thật lạ! ‘bìa C’ thì có liên quan gì ở đây!”; nhưng bác thản nhiên giải thích: “ Thì người ta vẫn bảo phải có ‘3B’ mà lại!”. Rồi bác gọi các con đang ở trong buồng ra làm quen với tôi. Thế là tôi đã được gặp anh Lân (anh cả của Hương hơn tôi chỉ mấy tháng tuổi), Thắng (em trai nàng kém tôi 3 tuổi), Giang (cô em gái đang tuổi trăng tròn giống Hương nhiều nhất) và Dung (em gái út mới lên 10 nhưng đã hứa hẹn một nhan sắc không thua kém hai cô chị). Tôi cũng cảm nhận được phong cách sống của những người Hà Nội gốc không đi kháng chiến, như hai gia đình của bác Hoan và dì Phương, có sự khác biệt với những gia đình cán bộ như nhà mình. Tôi còn được biết thêm rằng: vì gia đình bác Hoan đông con mà dì Phương chỉ có một mụn con trai, nên Hương được cho sang ở với dì. Hai bác mời tôi ở lại ăn cơm với gia đình; nhưng tôi kính chúc hai bác luôn mạnh khỏe hạnh phúc, rồi xin phép tạm biệt để đi chúc tết bà con họ hàng.

 Cảm thấy mình đã được chấp nhận là người thân trong gia đình Hương, tôi rủ nàng đến thăm cậu Bính. Cùng nàng leo lên chiếc cầu thang gỗ tối om chỉ được soi lờ mờ bằng một bóng điện nhỏ xíu, tôi ngửi thấy mùi hương trầm tỏa ra từ căn gác hai ( nơi cư trú của phu nhân đồng chí Nguyễn Lương Bằng, một nhà lãnh đạo Đảng, ở cùng với người con gái là chị Nguyễn Thị Tường Vân). Vừa ló đầu ra khỏi cầu thang, tôi đã nghe tiếng cậu Bính reo to: “A, Quốc! Vào đây, cậu mong cháu mãi!”. Nhanh chóng bước qua đám xác pháo ở cửa vào căn phòng sáng sủa, tôi cúi chào cậu và giới thiệu người đi theo mình: “Bạn Hương của cháu, có nhà ở gần đây!”. Cậu vui vẻ mời ngồi tại bộ bàn ghế đặc sắc bằng mây tre, rót trà và mở hộp mứt mời khách, rồi mỉm cười nói với Hương: “Rất mừng được gặp cháu; tên cháu trùng với tên con gái cậu đấy nhé!”. Sự cởi mở thân mật của cậu giúp Hương hết e lệ; nàng dịu dàng trò chuyện với cậu bằng giọng Hà Nội êm ái khiến cậu tỏ ra rất hài lòng. Lát sau, mợ Nga và hai em Trí - Hương từ ngoài phố trở về làm cho cuộc gặp gỡ càng thêm vui vẻ. Cho đến khi chúng tôi chúc tết cậu mợ và chào tạm biệt, cậu còn đi theo xuống cầu thang tiễn hai đứa và dặn Hương: “Cháu ở gần đây thì lúc nào rỗi cứ đến chơi với cậu mợ cho vui nhé!”. Thế tức là cậu đã coi Hương như người thân trong gia đình rồi.

 Lòng vui phơi phới, tôi với nàng lại lên xe đạp đến thăm Hà Trọng Cường.

 

 chưa nói gì với ba má về quan hệ của mình với Thiên Hương, nên tôi chưa dám mời nàng đến thăm hai cụ. Nhưng ngày hôm sau, khi cậu Bính cùng dì Quỳ đạp xe đến thăm anh chị Nguơn, thì ba má đã biết sự bí mật của tôi. Cậu Bính cứ hết lời tấm tắc: “ Cái anh chàng Quốc tấm ngẩm tầm ngầm như vậy, mà hóa ra lại kiếm được cô bạn gái quá hay!”. Rồi cậu miêu tả nhan sắc, giọng nói và cả cử chỉ của Thiên Hương cho ba má tôi biết. Sau khi cậu và dì ra về, tôi buộc phải kể tường tận quan hệ giữa hai đứa cho ba má nghe (nhưng vẫn dấu biệt cái vụ hôn nhau bị đưa ra chi đoàn kiểm điểm). Ba má lệnh cho tôi phải đưa nàng về nhà để hai cụ xem mặt.

Tối hôm ấy, ba má đưa tôi và em Dũng đến một biệt thự rất đẹp trên phố Phan Huy Chú ở khu Hoàn Kiếm, để thăm bác Đào Thiện Thi - Thứ trưởng Bộ Tài chính, vốn là bạn đồng nghiệp thân thiết của ba từ thời hai người cùng công tác ở Bộ Canh nông trên chiến khu Việt Bắc. Ba má tôi cùng vợ chồng bác Thi trò chuyện rất vui khi ôn lại những kỷ niệm  từ 20 năm về trước. Được biết tôi là sinh viên giỏi, hai bác ngợi khen và lại liên tưởng đến cô con gái mình cùng độ tuổi với tôi đã chết thảm từ ngày ấy. Tôi cũng xúc động khi nhớ rằng hai bác cũng như ba má mình đều bị mất mỗi gia đình một người con nhỏ trong thời gian khổ ấy. Nhưng khi ngắm nhìn bộ xa lông bằng gỗ quý và những vật dụng sang trọng khác trong nhà cùng các thứ thực phẩm cao cấp mà hai bác thết đãi chúng tôi (kẹo sôcôla hảo hạng, bánh kem tuyệt ngon cùng rượu ngoại quý - những thứ không hề có trong “túi hàng tết” theo tiêu chuẩn của ba), tôi đã nhận ra rằng: giờ đây hai bác đã ở một đẳng cấp khác với ba má tôi (ít nhất bác cũng phải có “bìa B”).

 Sáng mùng ba, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đưa tin:“Mỹ và tay sai phá hoại ngày Tết của nhân dân ta” bằng việc hủy bỏ hoàn toàn việc ngừng bắn trong dịp Tết, phóng tên lửa vào các huyện Từ Liêm và Gia Lâm ở ngoại ô Hà Nội; vì thế, “Nhân dân Việt Nam ở cả hai miền quyết thừa thắng xông lên, giáng cho Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai những đòn trừng phạt đích đáng”. Nhà tôi ở trường ĐHSP ngay trong huyện Từ Liêm mà mình chẳng biết gì về việc tên lửa Mỹ đã rơi xuống đây! Rồi ngay sau bản tin này, thầy Phạm Huy Thông (khi ấy là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội kiêm Viện trưởng Viện Khảo cổ học) ngồi xe hơi Moskvich đến đón ba tôi cùng đi chúc tết GS Ngụy Như Kon Tum (Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội); còn tôi với má và em Dũng cũng lên xe đạp đi chúc tết gia đình dì Dung rồi sang nhà bác Ngọc. Tại gia đình bác Ngọc, chúng tôi đã thắp hương tưởng niệm anh Phùng Minh Nghĩa mới mất vì bị chảy máu dạ dày trên đường đạp xe chở nặng đồ đi sơ tán, để lại một cháu trai nhỏ cho người vợ góa nuôi. Tôi bùi ngùi xúc động khi nhớ lại lần đầu tiên được gặp anh Nghĩa tươi trẻ khỏe mạnh ở tuổi “bẻ gãy sừng trâu”, vậy mà nay anh đã phải ngậm cười nơi chín suối. (Tôi cũng cảm thấy mình thật may mắn khi đã từng bị bệnh như anh mà lại thoát qua được!).

 Sáng mùng Bốn, thực hiện mệnh lệnh của song thân, tôi chuẩn bị đạp xe vào nội thành để mời Hương đến thăm gia đình mình. Đúng lúc ấy, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin chiến sự đặc biệt: Cuộc Tổng tiến công và Nổi dậy đồng loạt trên toàn miên Nam đã bùng nổ từ đêm rạng ngày 30-1-1968 (tức mùng Một Tết Mậu Thân theo âm lịch miền Bắc). Phục vụ kịp thời cho cuộc tổng tiến công này, ca khúc “Bão nổi lên rồi” của Trọng Bằng lập tức vang lên trên làn sóng điện:

 

                     Bão nổi lên rồi từ miền Nam quê hương thân yêu

                     Từ Trị Thiên băng qua Tây Nguyên lan tới bưng biền triệu người bừng bừng

                     Cùng Đà Nẵng với Huế chiến thắng khí thế sôi sục tràn về Sài Gòn

                     Kèn tiến công sục sôi tim muôn người…

 

Tiếp đó, ca khúc “Tiến về Sài Gòn” của Huỳnh Minh Siêng đã làm tăng thêm khí thế chiến đấu và chiến thắng:

 

                      Nơi thành đô trong ánh điện quang tiếng nấc nghẹn câu cười

                      Khu nhà tranh năm cánh ngoại ô rên siết đêm ngày.

                      Quê nhà ta đau đớn lầm than sao bóp nghẹt tim người

                      Sài Gòn ơi ta đã về đây, ta đã về đây!

 

                      Lướt qua nắng mưa súng bom nhịp chân đi

                      Quê hương kêu gọi tiến lên diệt quân Mỹ!

                      Tiến về Sài Gòn, ta quét sạch giặc thù

                      Hướng về đồng bằng, ta tiến về thành đô…

 

Theo đúng đường lối kết hợp giữa tiến công và nổi dậy của Đảng ta, bài ca “Xuống đường” cũng của Huỳnh Minh Siêng kêu gọi nhân dân nổi dậy:

 

                       Xuống đường! Xuống đường! Đập tan mọi xích xiềng!

                       Quyết kết đoàn tiến lên giành chính quyền!...

 

Tôi đạp xe đến với nàng khi nhịp điệu và âm thanh hùng tráng của các ca khúc ấy vẫn văng vẳng bên tai. Ở Bờ Hồ gần ngã tư Tràng Tiền-Hàng Bài đã xuất hiện một đám đông đứng ngắm một tấm bản đồ chiến sự miền Nam cực lớn, trên đó chi chít những mũi tên đỏ (tượng trưng cho các mũi tiến công của quân ta) chĩa vào các đô thị miền Nam suốt từ Quảng Trị đến Cà Mau.

 Thiên Hương đã sẵn sàng cùng đi để đến thăm ba má tôi; nhưng trên đường hai đứa đạp xe song song bên nhau về Cầu Giấy, tôi thấy nàng có dáng trầm tư mà ít nói. Khi gặp ba má tôi, nàng chào hỏi rất lễ phép, trò chuyện cũng tự nhiên, nhưng thỉnh thoảng lại có những phút giây xao lãng như tâm trí để ở đâu đó. Rất hài lòng về Hương, ba má tôi dứt khoát mời nàng cùng ăn cơm với gia đình. Nàng không thể từ chối, nên đã giúp má tôi nấu nướng, rồi lại cùng má dọn rửa bát đĩa sau bữa ăn vui vẻ; nhưng vẻ trầm tư vẫn chưa biến mất. Cho đến khi còn lại hai đứa bên nhau, Hương mới đột nhiên hỏi tôi: “Quân ta tổng tấn công vào các đô thị, chắc sẽ bị hy sinh nhiều phải không Quốc?”. Tôi đáp: “Có lẽ thế!”; và lập tức nhận ra rằng: nàng trầm tư vì lo lắng cho số phận người tình cũ đang chiến đấu ở miền Nam. Lúng túng trước tâm trạng đó của nàng, tôi an ủi: “Hương yên tâm đi, từ trước đến nay chỉ có ta tiêu diệt địch chứ làm gì có chuyện địch tiêu diệt ta! Cứ đọc báo nghe đài thì biết!”. Nàng nguýt tôi: “Quốc lại còn đùa!”. Nhưng đó là tôi nói thật-một sự thật như đùa: theo báo chí và đài phát thanh của ta (và cả các giáo trình hoặc sách giáo khoa) quân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mà không thua trận nào; địch bị diệt hết số này đến số nọ còn ta không tổn thất một ai!

 

 Theo báo và đài phát đi từ Hà Nội, quân ta đã đánh vào tận hang ổ Mỹ-Ngụy trên toàn miền Nam. Tại Sài Gòn, ta tấn công Dinh Độc Lập (tức Phủ Tổng thống VNCH), Bộ Tổng Tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh Hải quân, đánh chiếm Đài Phát thanh Sài Gòn và dùng nó kêu gọi nhân dân nổi dậy; đặc biệt nhất là đã đánh chiếm Đại Sứ quán Mỹ-nơi được coi là “Lầu Năm Góc ở phương Đông”. Tại Huế, quân ta đã giải phóng hoàn toàn thành phố, nhân dân đã nổi dậy phá tan chính quyền VNCH; chính quyền cách mạng đã được thành lập và cờ giải phóng phấp phới bay trên kinh thành cổ. Chỉ trong mấy ngày đầu của cuộc tổng tiến công, quân ta đã tiến đánh và làm chủ 44 đô thị tỉnh lỵ trên toàn miền Nam, tiêu diệt, làm bị thương và bắt sống hàng chục ngàn sĩ quan và binh lính địch. Tuyệt nhiên không có số liệu nào về thương vong của quân ta. Cho đến khi bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân được đọc và phổ nhạc thành ca khúc phát trên đài, mọi người mới biết là có một chiến sĩ Giải phóng quân đã anh dũng hy sinh “trên đường băng Tân Sơn Nhất” trong tư thế lẫm liệt “tạc vào thế kỷ”.

 Nhiều năm sau, qua hồi ký của những người trong cuộc ở cả hai bên đối địch, qua các cuộc hội thảo khoa học đích thực và những bộ phim tài liệu đầy giá trị lịch sử, tôi mới hiểu rõ sự thật của cuộc Tổng tiến công và Nổi dậy trong Tết Mậu Thân. Lợi dụng yếu tố bất ngờ (tấn công vào thời điểm tạm ngưng chiến để quân nhân Mỹ và VNCH có thể vui tết mà lơ là phòng vệ), Đảng quyết dốc toàn bộ lực lượng ở miền Nam đánh đòn quyết định để giành thắng lợi cuối cùng (đúng như thơ Bác đã thông báo). Nhưng thực tế diễn ra không đúng như những gì mà Đảng dự kiến.

 Cuộc tấn công Sài Gòn đồng loạt bùng nổ trong đêm rạng ngày 31-1 (mùng 2 tết theo âm lịch miền Nam). Một đội gồm 15 chiến sĩ biệt động mở đầu cuộc tấn công Dinh Độc Lập nhưng không phá được cổng vì khối thuốc nổ mang theo không nổ, viện binh của quân Giải phóng lại không đến, nên họ đã phải đơn độc chiến đấu chống lực lượng phòng vệ của VNCH và quân Mỹ. Cuối cùng, 8 chiến sĩ đã hy sinh, 7 người còn lại bị bắt sống.

 Đội biệt động gồm 16 chiến sĩ tiến đánh Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH, nhưng 14 người đã bị tiêu diệt, chỉ 2 người chạy thoát. 27 chiến sĩ biệt động chia làm 2 đội mở đường tiến vào Bộ Tổng Tham mưu VNCH và sân bay Tân Sơn Nhất; tiếp đó 1 tiểu đoàn bộ binh quân Giải phóng đã tiến vào sân bay nhưng bị lực lượng quân Mỹ lớn mạnh hơn nhiều vây đánh. Cả tiểu đoàn và đơn vị biệt động đã bị tiêu diệt với hơn 400 liệt sĩ hy sinh tại trận (chắc rằng trong đó có cả “Dáng đứng Việt Nam”). Một đội biệt động tiến đánh Đài Phát thanh Sài Gòn đã loại khỏi vòng chiến một trung đội Cảnh sát Dã chiến VNCH và chiếm được Đài. Nhưng vì điện bị cắt và không có nhân viên kỹ thuật điều hành, nên không thể phát thanh tuyên truyền cho cách mạng. Không có quân Giải phóng tăng viện tới, đội biệt động bị quân Mỹ vây đánh suốt 3 ngày và bị tiêu diệt hết (có 2 nữ chiến sĩ bị bắt).

 Vang dội nhất là trận đánh ở Đại Sứ quán Hoa Kỳ. Đội biệt động gồm 17 chiến sĩ do Ngô Thanh Vân (tức Ba Đen) chỉ huy đã bắn hạ các quân cảnh Mỹ, đặt thuốc nổ phá vỡ một lỗ thủng ở bức tường kiên cố để cả đội chui qua tràn vào khuôn viên, rôi đánh chiếm tầng 1 của tòa nhà 5 tầng mà không có quân tăng viện tiếp sức. Viện binh Mỹ được trực thăng vận đổ xuống mái nhà và từ trên đó đánh xuống. Giao tranh ác liệt diễn ra trong 7 tiếng đồng hồ. Kết quả là toàn bộ đội biệt động bị tiêu diệt, riêng đội trưởng Ba Đen bị bắt sống. Phía Mỹ cũng phải trả giá đắt: 5 quân nhân chết, hơn 100 người khác bị thương (có 17 người sẽ chết tại bệnh viện).

 Chiến sự còn tiếp diễn nhiều ngày trên các đường phố khi quân đội và cảnh sát VNCH cùng quân Mỹ, với sự yểm trợ của xe tăng và máy bay trực thăng, vây quét các đơn vị quân Giải phóng đã đột nhập vào đô thành. Người Sài Gòn đã chứng kiến một số “cán binh Việt cộng” chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và hô “Hồ Chủ tịch muôn năm!” trước khi tắt thở; nhưng chẳng có nhân dân nào nổi dậy giành chính quyền như Đảng ta dự kiến (ngoại trừ các “Việt cộng nằm vùng” tiếp tay với các đội biệt động). Ngay cả giới học sinh-sinh viên, vốn có nhiều Việt cộng nằm vùng để tổ chức và khích động trong đó, cũng chỉ hăng say hát bài “Xuống đường” mà không một ai thật sự bước chân ra đường để “giành lấy chính quyền về tay nhân dân” theo lời bài hát đó (không kể “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn” trong ca khúc phục vụ kịp thời của Lư Nhất Vũ). Nguyên nhân của sự bất động này cũng dễ hiểu: người Sài Gòn không hề bị “xích xiềng” đến nỗi phải “nấc nghẹn câu cười”“rên siết đêm ngày” như vị nhạc sĩ của Đảng ta đã tưởng, nên họ chẳng dại gì mà liều mạng nổi lên chống chính thể VNCH để đổi lấy một sự “giải phóng” chẳng biết hư thực thế nào.

 Tại  Huế, được sự yểm trợ mạnh mẽ của không quân và hải pháo từ các chiến hạm, Thủy quân Lục chiến Mỹ và Quân lực VNCH phản công đẩy lùi các đơn vị thiện chiến của QĐNDVN quyết bám trụ để giữ từng tấc đất. Sau một tháng giao tranh vô cùng ác liệt khiến đô thị đổ nát tan hoang, liên quân Mỹ-VNCH đã giành lại toàn bộ thành phố. Rút khỏi cố đô,  QĐNDVN đã để lại những hố chôn tập thể với gần 3000 xác chết . Phía VNCH coi đó là bằng chứng tội ác của một vụ thảm sát thường dân cùng gia đình binh lính và các cựu nhân viên chính quyền VNCH bị Việt Cộng bắt khi chiếm được thành phố. Cuốn hồi ký “Giải khăn sô cho Huế” của Nhã Ca đã khẳng định thêm tội ác này; nhưng phía Việt Nam DCCH hoàn toàn bác bỏ và cáo buộc rằng vụ thảm sát đó chỉ là một thủ đoạn tâm lý chiến do Hoa Kỳ dàn dựng.

 Sau một tháng chiến đấu trên toàn chiến trường miền Nam, phía Mỹ có trên 4.000 quân nhân chết (số bị thương đông gấp 4 lần con số này), VNCH có hơn 5.000 quân nhân thiệt mạng (số bị thương đông gấp 3 lần); còn quân ta có ít nhất là 17.000 chiến sĩ hy sinh (theo số liệu bí mật của ta) hoặc 41.000 người chết (theo số liệu công khai của Mỹ); còn số bị thương nhiều gấp đôi số chết. Bạn cũ Nguyễn Đăng Chúc của tôi nằm trong số liệt sĩ hy sinh trong Tết Mậu Thân mà không tìm được thi hài; nhưng Chu Tác Nhân - người yêu cũ của Thiên Hương may mắn vẫn còn sống khỏe.

 Mặc dù không nổi dậy mà chỉ chạy trốn cộng sản và bom đạn của cả hai bên, nhân dân miền Nam vẫn phải chịu những tổn thất đau thương rất lớn: 14.300 người chết, 24.000 người bị thương, 72.000 người mất nhà cửa và 627.000 người phải rời bỏ nơi cư trú đi tỵ nạn. Thảm cảnh đẫm máu và nước mắt của nhân dân vang lên trong ca khúc “Hát trên những xác người” của Trịnh Công Sơn (qua giọng hát Khánh Ly):

                          Chiều đi lên đồi cao, hát trên những xác người

                         Tôi đã thấy, tôi đã thấy

                         Trên con đường, người ta bồng bế nhau chạy trốn

                         Tôi đã thấy, tôi đã thấy

                         Bên khu vườn, một người mẹ ôm xác đứa con.

               

                         Chiều đi qua bãi Dâu, hát trên những xác người

                         Tôi đã thấy, tôi đã thấy

                         Trên con đường, người cha già ôm con lạnh giá

                         Tôi đã thấy, tôi đã thấy

                         Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em…

  Không hề có “toàn thắng ắt về ta” như Đảng-Bác đã tưởng; ngược lại, quân ta đã bị thất bại nặng nề, bị quét sạch khỏi các đô thị và còn bị liên quân Mỹ-VNCH phản công tìm diệt tận các căn cứ ở nông thôn. Tổn thất sinh mạng của quân ta đã thôi thúc Chế Lan Viên phải tự vấn lương tâm mình trong bài thơ “Ai? Tôi!” (nhưng chỉ dám cho công bố bài này sau khi tác giả đã qua đời):

                          Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng

                         Chỉ một đêm, còn sống có 30.

                         Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?

                         Tôi! Tôi - người viết những câu thơ cổ võ

                         Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong…

 Tuy nhiên, Đảng-Bác lại giành được một thắng lợi quan trọng về chính trị. Được chứng kiến tận mắt qua vô tuyến truyền hình những cảnh chiến đấu trên đường phố Sài Gòn, nhất là cảnh giao tranh ngay trong Đại Sứ quán Hoa Kỳ, nhân dân Mỹ không còn tin vào thắng lợi của chiến tranh như tướng Westmoreland (Tổng tư lệnh Quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam) vẫn hứa hẹn. Họ đẩy mạnh cuộc đấu tranh đòi chính phủ phải chấm dứt chiến tranh để đưa con em mình về nước. Trước sức ép mạnh mẽ của nhân dân Hoa Kỳ, vào ngày cuối cùng của tháng 3 năm 1968, Tổng thống Johnson buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, và chấp nhận đàm phán với Việt Nam DCCH tại Paris để tìm giải pháp kết thúc chiến tranh.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác