NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 10, PHẦN 6

( 01-08-2016 - 07:26 AM ) - Lượt xem: 541

Đúng 12 giờ đêm, tôi mang phong pháo ra ban công đốt. Tiếng nổ váng nhà hòa lẫn với hàng loạt tiếng pháo ở khắp nơi dội về. Xác pháo văng tung tóe cùng lúc khói cay nồng bay vào nhà tạo nên hương vị đặc trưng của ngày tết. Cùng lúc đó, ba mở hết cỡ âm thanh chiếc đài Orionton để lắng nghe bản Quốc ca hùng tráng giữa phút giao thừa; tiếp theo là lời chúc tết quen thuộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài thơ Mừng Xuân Mậu Thân 1968:

6. “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua”

 

Về ở thủ đô, cuộc sống của gia đình chúng tôi hầu như không có gì tốt hơn so với ở Hải Phòng, nhưng cũng có những thứ mới.

Nhờ có chiếc bếp dầu bằng sắt tráng men màu xanh lá cây do Trung Quốc sản xuất mà các hộ cán bộ được mua theo tiêu chuẩn phân phối, kỹ thuật đun nấu của chúng tôi đã được cải thiện rất nhiều so với trước đây vẫn sử dụng lò mùn cưa. Chiếc bếp hình trụ cao khoảng 35 cm có bầu chứa dầu hỏa ở đáy; 10 sợi bấc chạy vòng quanh hướng lên trên, có nút vặn để điều chỉnh cao thấp và được bao quanh bằng 2 chiếc lồng sắt để tạo ra ngọn lửa xanh dưới đáy nồi. Do vậy, “Bìa mua chất đốt” ( tương tự như “Bìa mua phụ tùng xe đạp”) giờ đây không còn dùng để mua mùn cưa hay trấu nữa, mà có các ô quy định tiêu chuẩn mua “dầu” (gia đình tôi được 5 lít một tháng), và ô khác dự phòng có thể mua “củi” hay chất đốt khác.

 Tiêu chuẩn thực phẩm cho mỗi nhân khẩu vẫn không thay đổi; nhưng trong thành phần lương thực được mua (theo tỷ lệ 50% gạo-50% mì), mì sợi đã trở thành chất độn thay cho bột mì. Điều đó chứng tỏ mậu dịch quốc doanh đã có kỹ thuật chế biến bột mì thành mì sợi sấy khô thuận tiện cho việc nấu ăn. Thế là cán bộ và nhân dân bắt đầu quen với loại cơm mới độn mì sợi (thay cho cơm độn ngô hoặc nửa cơm nửa bánh mì, “nắp hầm” hay bánh bao). Nấu loại gạo độn mì này cũng dễ: khi nồi cơm sôi sắp cạn nước thì đổ mì sợi vào trộn lẫn với gạo, đạy vung và vặn nhỏ lửa chờ mươi phút sau là cơm sẽ chín. Loại cơm này sẽ trở thành thói quen ẩm thực XHCN trong rất nhiều năm, đến mức người ta quên mất rằng thực phẩm cơ bản trong bữa ăn truyền thống của người Việt phải là cơm trắng không độn gì.

 Dân ta đã được giáo dục để tuyệt đối tin tưởng ở Đảng-Bác, nên chẳng mấy ai đặt câu hỏi: tại sao ở một nước nông nghiệp chuyên trồng lúa, lại có những “cánh đồng năm tấn” được ca ngợi khắp nơi, mà lại phải xin các nước bạn viện trợ bột mì để bù đắp 50% số gạo bị thiếu trong nhu cầu lương thực của xã hội?

 Đã có mì sợi khô của mậu dịch, nhưng bột mì vẫn còn được lưu hành bằng hai con đường chính thức và không chính thức, nên đã xuất hiện các hợp tác xã gia công chế biến mì sợi tươi và bánh quy (được chế biến với trứng, đường và chút ít bơ) gồm hai loại là “quy gai”(mỗi chiếc dài gần một gang tay, có “gai” lấm tấm nổi trên bề mặt) và “quy xốp” (hình tròn hoặc chữ nhật). Các tấm biển kẻ chữ “Quy Xốp-Mì Sợi” hoặc “Quy Gai-Quy Xốp” đã tô điểm thêm cho các đường phố XHCN vốn đã có các biển hiệu độc đáo “Lộn cổ sơ mi”, “Pich kê quần cũ”, “Vá chín-Lộn xích”, “Bơm mực bút bi”…

 Tuy nhiên, sự khác biệt lớn nhất giữa Hà Nội với Hải Phòng thể hiện ở số lượng Cửa hàng Thực phẩm dành riêng cho cán bộ trung-cao cấp (những người được sở hữu “Bìa Mua hàng Gia đình” từ loại C trở lên). Hải Phòng chỉ có duy nhất cửa hàng Misô bên “hàng xóm” nhà tôi thuộc loại này; còn Hà Nội có tới 3 cửa hàng như vậy dành cho những người có bìa C và C1 (cỡ chánh phó giám đốc sở, vụ trưởng vụ phó và tương đương) ở phố Vân Hồ (thuộc khu Hai Bà Trưng), phố Nhà Thờ (khu Hoàn Kiếm) và phố Đặng Dung (khu Ba Đình); lại có thêm cửa hàng đặc biệt cung cấp thực phẩm cho các “cốp” bìa B, B1, A và A1 (cỡ thứ trưởng, bộ trưởng, ủy viên trung ương Đảng và Bộ Chính trị) ở phố Tôn Đản. Sự phân biệt đẳng cấp bằng các cửa hàng như vậy đã được miêu tả qua ca dao lưu truyền trong dân gian:

 

Tôn Đản là chợ vua quan

Vân Hồ là chợ trung gian nịnh thần

Đồng Xuân là chợ thương nhân

Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng!

 

(Thay cho “Vân Hồ” có thể là “Nhà Thờ” hay “Đặng Dung”, tùy theo địa chỉ cửa hàng mà tác giả vô danh muốn đề cập; còn “thương nhân” thì chỉ là những người “buôn bán nhỏ” thường tập hợp trong các hợp tác xã hay “tổ hợp tác” để có danh nghĩa hợp pháp).

 

Các cửa hàng dành cho “trung gian nịnh thần” thường có đủ hàng hóa để đáp ứng khối lượng thực phẩm tương đối lớn được mua theo phiếu (ít nhất cũng là 1,5 kg thịt/người/tháng), chất lượng hàng hóa cũng cao hơn ( thường có đủ các loại thịt tốt, có “mì chính cánh”- tinh thể to chất lượng cao - do Trung Quốc sản xuất; có nước mắm “loại 1” nhiều độ đạm hơn so với loại thường ở các cửa hàng cấp thấp…). Nhưng quan trọng hơn là ở đây có những hàng hóa “cao cấp” bán theo tiêu chuẩn “bìa” (như chè gói “Ba Đình” hay “Hồng Đào”, thuốc lá “Điện Biên”, “Thăng Long” hay “D’Rao”, kẹo mềm “Hải Châu” rất ngon lại có vỏ bọc đặc biệt tự tan trong lưỡi, các loại bơ và mác-ga-rin…). Ở mỗi hộ gia đình, các thành viên có phiếu cấp thấp  (phiếu D, E, N và phiếuTr cho trẻ em dưới 6 tuổi) cũng được phép mua tại cửa hàng dành cho chủ hộ có “bìa” trung-cao cấp (sau khi đã được xác nhận rằng họ đúng là người thân có tên trong “Sổ hộ khẩu” của chủ hộ).

 Còn cửa hàng của “vua quan” thì đúng là nơi cung cấp thực phẩm tốt nhất (các loại thịt lợn, gà, bò cao cấp…) và dồi dào nhất (gấp 2-3 lần so với tiêu chuẩn “bìa C”) để các quan chọn mua theo yêu cầu. Ngoài những gì đã có với chất lượng cao hơn ở “chợ trung gian nịnh thần”, nơi đây còn bán những sản phẩm đặc biệt khác (sữa ngoại, rượu quý, bánh kẹo cao cấp…). Bên cạnh đó, “bìa” của các hộ “vua quan” còn có giá trị sử dụng tại cửa hàng “Mậu dịch Quốc tế Bờ Hồ” với các loại thực phẩm quý hiếm của Liên Xô và các nước XHCN khác ( rượu vodka, vang hay champagne của Nga; cognac Ararat của Armenia; rượu mạnh “Mao Đài” của Trung Quốc; kẹo chocolate, trứng cá tầm, trứng cá hồi, thịt nguội xông khói…) và hàng may mặc cao cấp nước ngoài (các bộ com-lê sang trọng, áo khoác và giày mũ chất lượng cao…).

 Quần chúng nhân dân thành thị “ngoài biên chế” thường xuyên kiếm sống ở các chợ truyền thống hay vỉa hè (có phiếu N), công nhân và cán bộ sơ cấp “trong biên chế nhà nước” (phiếu E và D) cùng xếp hàng tại các cửa hàng mậu dịch nghèo nàn để mua các loại thực phẩm vừa ít về khối lượng (chỉ từ 3 đến 5 lạng thịt/người/tháng), vừa kém về chất lượng: thường mua phải loại thịt “bạc nhạc” không vừa ý, có khi phải mua mỡ cừu ngoại nhập (bị gọi nhầm là “mỡ hóa học”) thay cho mỡ lợn, chỉ được mua loại “mì chính bột”- tinh thể nhỏ kém chất lượng do Việt Nam sản xuất - và thứ nước mắm không có nhãn hiệu được đong từng gáo rồi đổ vào chai theo định lượng... Với “bìa D”,“bìa E” hoặc “bìa N” ( cấp cho các hộ nhân dân “ngoài biên chế” với điều kiện có tham gia hợp tác xã) cũng chỉ được mua các thứ hàng thuộc hạng thấp nhất: chè gói nhãn hiệu “Thanh Hương” và thuốc lá rẻ tiền “Trường Sơn”, hãn hữu mới có thuốc “Tam Đảo” khá hơn một bậc; đặc biệt có một loại sữa bột thô được chế biến từ sữa cừu (bị gọi sai là “sữa dê”) để dùng cho gia súc nước ngoài cũng trở thành tiêu chuẩn thực phẩm bán cho mọi người. Do vậy, những người thuộc hạng hạ đẳng này luôn nhìn những kẻ ra vào “chợ vua quan” và chợ “trung gian nịnh thần” với tâm trạng vừa khao khát lại vừa ghen tị. Họ thậm chí còn nảy sinh thắc mắc: Bác Hồ dạy “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”, vậy tại sao những đày tớ đó lại được “ăn sung mặc sướng” trong khi nhân dân, bao gồm cả giai cấp công nhân mà Đảng là đội tiền phong của nó, vẫn lặn ngụp trong tình cảnh “cực khổ bần hàn”?

 Thế rồi, trong chương trình ca nhạc “Mừng Đảng mừng Xuân” tiến tới kỷ niệm 38 năm ngày thành lập Đảng, ca khúc “Đảng đã cho ta một mùa xuân” của Phạm Tuyên đã vang lên trên làn sóng điện của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam để xoa dịu mọi nỗi niềm uẩn khúc trong lòng họ. Theo nhịp ¾ của điệu valse (bùm-chát-chát, bum-chát-chát…), nó  rót vào tai mọi người những ca từ chất đầy công ơn của Đảng:

 

Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng

Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi

Đảng đã đem về tuổi xuân cho nước non

Vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đời…

 

Ca khúc chứa chan “tính Đảng” này, phối hợp với các tác phẩm khác cùng loại như bài thơ “Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng” của Chế Lan Viên hay trường ca “Ba mươi năm đời ta có Đảng” của Tố Hữu, đã hướng suy nghĩ của quần chúng nhân dân về tương lai theo con đường “lập công dâng Đảng” để vươn lên thành cán bộ có “bìa” từ cấp dưới lên cấp trên. (Chính các tác phẩm ngợi ca Đảng-Bác như vậy đã đảm bảo cho Phạm Tuyên và Chế Lan Viên đạt tiêu chuẩn vào các cửa hàng Vân Hồ hay Nhà Thờ; còn Tố Hữu thì thẳng tiến đến tận “chợ vua quan” Tôn Đản với Mậu dịch Quốc tế Bờ Hồ).

 Theo định hướng đó, dân gian đã lưu truyền kinh nghiệm “3B” (“bìa”-“buồng”- “bà”): để tiến tới hôn nhân bền vững phải có “bìa” (với hàm ý là từ “bìa C” trở lên), có “buồng” (làm chỗ ở) và có “bà” (để có người giúp chăm sóc con nhỏ).

 

 Dù sao thì gia đình chúng tôi cũng có “bìa C” do chức vụ của ba, nên tôi được cùng  với má đi mua sắm hàng Tết tại cửa hàng Nhà Thờ (nơi đăng ký mua hàng của ba) cách nhà mình cả chục cây số. Phải lên Hà Nội thì hai má con tôi mới có dịp cùng nhau đạp xe đi xa đến thế dưới trời rét có mưa nhẹ chỉ để mua hàng.

 Gửi xe đạp vào chỗ quy định ở vỉa hè xong, má con tôi sắp bước vào “chợ trung gian nịnh thần” thì bị mấy người chặn lại hỏi nhỏ: “Bác với cậu có tem phiếu bán không?”. Thấy chúng tôi xua tay lắc đầu, họ còn dặn: “ Mua hàng xong có gì cần bán thì mang đến chỗ kia nhé!” (họ chỉ tay về phía cột đèn ở góc phố). Tôi biết rằng mình vừa gặp hạng người mà từ lâu đã bị gọi một cách miệt thị là “con phe” (xuất phát từ chữ “affair” trong tiếng Anh có nghĩa là “vụ việc”, phiên âm thành “áp-phe” rồi chế biến thành tiếng lóng “con phe”để chỉ người và “phe phẩy” để chỉ việc họ làm). Khi ấy, cũng như nhiều con em cán bộ khác, tôi  có phần hãnh diện về tiêu chuẩn “bìa C” của gia đình mình; đồng thời cũng có ý khinh miệt các “con phe” về những hành vi buôn bán khuất tất thể hiện lòng tham xấu xa (họ mua tem phiếu của cán bộ, để dùng những cái đó mua hàng mậu dịch theo giá cung cấp, rồi đem bán lại hàng này với giá cao ở thị trường “chợ đen”). Nhưng dần về sau, thực tế cho thấy việc “phe phẩy” của họ (còn được gọi tắt là “phe”) chỉ là giải pháp bất đắc dĩ, để kiếm sống cho những gia đình “nhân dân anh hùng” nhưng lại ở “ngoài biên chế” (chỉ có “phiếu N” hoặc chẳng có tem phiếu gì), nên tôi mới nhận ra rằng họ không đáng bị khinh miệt như vậy.

 Cửa hàng mậu dịch Nhà Thờ ở thủ đô còn to lớn hơn cửa hàng Misô vốn quen thuộc với chúng tôi ở thành phố cảng. Số lượng người mua hàng ở đây cũng đông hơn và họ có vẻ sang trọng hơn các khách hàng ở Hải Phòng. Trang phục chung của phái nam thường là quần kaki với áo bông xanh có cổ lông giả, còn của nữ vẫn là quần đen với áo bông hoặc áo vét; nhưng đã có những người đàn ông diện các áo khoác hay blu dông bằng vi-ni-lông màu cánh gián (không bao giờ nhàu) hoặc quần xi-mi-li-pha-ni-lông màu rêu (chỉ cần là một lần sẽ giữ nguyên nếp gấp) - loại hàng may mặc đặc biệt được phân phối về các cơ quan (và vẫn phải cắt phiếu vải); một số người còn đội mũ lông, khoác áo dạ mang ủng da đúng kiểu Nga-cho thấy họ đã từng đi du học hay công tác ở nước ngoài trở về; còn phụ nữ thì luôn cố gắng làm đẹp với những chiếc áo măng tô, áo len, khăn len hay khăn san các màu (không biết nguồn gốc từ đâu mà họ có).

 Những trang phục ấy như đã góp phần tôn thêm vẻ kiêu hãnh của những người thuộc đẳng cấp “bìa C” (không ngoại trừ một số “con phe” cũng trà trộn trong đó); nhưng cảnh xếp hàng ở đây cũng chẳng khác bao nhiêu so với ở các cửa hàng dành cho nhân dân và cán bộ sơ cấp. Mỗi quầy bán một loại hàng khác nhau đều có một dãy người đứng nối đuôi nhau trước nó. Mỗi khách hàng không thể đủ thời gian và sự kiên nhẫn để lần lượt  xếp hàng hết quầy nọ đến quầy kia; nên phải có cách để hiện diện ở nhiều dãy xếp hàng cùng một lúc. Chọn một quầy có tốc độ bán hàng nhanh nhất để đứng xếp hàng ở đó, quý khách đồng thời đặt những “vật thế thân” của mình (một cái chai, một cái túi, một viên gạch vỡ, một chiếc rổ…) ở những dãy xếp hàng khác. Những người đứng ở mỗi dãy sẽ giúp di chuyển những vật thế thân này tuần tự tiến dần lên theo tốc độ bán hàng ở mỗi quầy. Do vậy, việc xếp hàng còn có tên gọi khác là “xếp lốt” (xếp các vật thế thân làm “lốt” đánh dấu vị trí của chủ chúng trong dãy người xếp hàng). Mua hàng xong ở quầy này, khách hàng sẽ chuyển ngay sang quầy kia, đứng vào đúng “lốt” của mình ở đó và tiếp tục tiến lên cho đến khi mua được hàng.

 Hôm ấy tôi xếp hàng ở quầy đặc biệt bán “hàng Tết”, đồng thời phải trông chừng “lốt” của mình là một cái chai ở quầy bán nước mắm; trong khi má xếp hàng ở quầy “thực phẩm tươi sống” để mua trứng, đậu phụ và một con gà theo tiêu chuẩn Tết, đồng thời phải chú ý “lốt” của má là một chiếc túi ở một trong mấy quầy bán thịt. Tuy mỏi mệt và căng thẳng vì phải xếp hàng lâu, nhưng rất may là mọi việc đều suôn sẻ nên chúng tôi đã mua được đủ hàng ở cả 4 quầy ấy (bao gồm 0,5 kg “thịt tết”); mà vẫn còn thời gian xếp hàng để mua thêm đậu xanh (được 0,5 kg theo “tiêu chuẩn tết”) và mấy thứ khác ở quầy bán “thực phẩm khô”, rồi mua lá dong để gói bánh chưng ở một quầy mới mở để “phục vụ Tết” (mỗi “bìa” được mua 2 gói lá, mỗi gói thường có 20-25 tàu lá, đủ để gói 4-5 chiếc bánh).

 

Thường thì việc xếp hàng hay gặp phải những vấn đề rắc rối chứ ít khi được suôn sẻ với tất cả các khách hàng. Đầu giờ buổi sáng, khi cửa hàng vừa mở cửa liền có ngay một đội ngũ con phe (chẳng biết chờ đợi từ bao giờ) ập ngay vào chiếm hữu những vị trí hàng đầu trước các quầy quan trọng; để mua hàng bằng tem phiếu mua lại của cán bộ, nhưng chủ yếu là để bán lại chính cái “chỗ xếp hàng” của họ cho những khách hàng đến sau mà lại muốn có chỗ tốt (giá trung bình 1 hào một “chỗ”). Sự mua bán mờ ám này thường dẫn đến tranh cãi giữa các khách hàng đích thực với các con phe, và giữa những người xếp hàng nghiêm túc với những kẻ mua “chỗ” của con phe, đòi hỏi nhân viên bảo vệ cửa hàng phải can thiệp.

 Lại còn những sự cố phát sinh từ việc “xếp lốt”, khi có một “lốt” của ai đó vô tình hay hữu ý bị gạt bỏ ra khỏi hàng, hoặc khi cố ý hay vô tình mà người này nhận nhầm “lốt” của người khác. Khi ấy sự tranh cãi trở nên dữ dội và việc phân xử không phải dễ dàng. Hơn nữa, khi đang xếp hàng mà lại có còi báo động phòng không để mọi người bỏ chạy ra hầm trú ẩn, thì thứ tự của việc “xếp lốt” còn trở nên hỗn loạn hơn nhiều. Vì thế, nhiều người đã sáng tạo ra những “vật thế thân” đặc biệt bền vững và không thể nhầm lẫn với “lốt” của ai khác: một khúc gỗ được trau chuốt và khắc tên chủ nó, hoặc một cục gạch được mài nhẵn rồi dùng sơn viết tên chủ nhân trên nó. Với những vật như vậy, chủ nhân của chúng có thể yên tâm “xếp lốt” mọi lúc mọi nơi trong mọi trường hợp suốt thời kỳ quá độ bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN để “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”. (Ngày nay, cùng với các Sổ mua hàng, bìa và tem phiếu các loại, một cục gạch với tên chủ nó viết bằng sơn không phai mờ sau nửa thế kỷ tồn tại đã được lưu giữ và trưng bày tại Viện Bảo tàng Dân tộc học ở Hà Nội, để các thế hệ con cháu mai sau biết rằng ông cha chúng đã từng sống như vậy trong một thời kỳ lịch sử đặc biệt kéo dài gần 30 năm ở nước ta).

Tiêu chuẩn hàng tết “bìa C” của gia đình tôi năm nay vẫn y như hồi còn ở Hải Phòng; nhưng có một điều mới là: các hộp mứt, các gói chè, các bao thuốc lá cùng với bóng bì, miến, mì chính, hạt tiêu và cả pháo đều được đóng gói sẵn vào một túi ni lông lớn (được gọi là “túi hàng Tết”), để thuận tiện cho việc mua bán ở quầy hàng Tết. Còn các “tiêu chuẩn tết” khác phải mua ở các quầy khác; riêng tiêu chuẩn “nếp tết” (2 kg) sẽ được mua cùng với tiêu chuẩn gạo-mì hàng tháng ở Cửa hàng Lương thực “Nhà Xanh” (Cầu Giấy) ngay gần trường ĐHSP. Phiếu thực phẩm của tôi đã nộp cho trường để ăn cơm tập thể, nên không có tiêu chuẩn mua hàng tết trong “bìa” của ba.

 Từ cửa hàng Nhà Thờ bước ra với “túi hàng Tết” cùng cỡ ngang nhau của ai cũng như ai, các khách hàng dường như quên hết sự cực nhọc của việc xếp hàng; họ hãnh diện thể hiện dáng vẻ tự mãn trước những cặp mắt thèm thuồng của đám con phe luôn túc trực để mua lại hàng. Thoát khỏi sự chèo kéo của các thương nhân bất đắc dĩ này, hai má con tôi vội vã lấy xe đạp, chất hàng lên và phóng thẳng về Cầu Giấy.

 

Mọi thứ hàng tết đã mua xong, tôi và em Dũng giúp má dọn dẹp nhà cửa, xách nước, gói bánh chưng; rồi đặt nồi lên chiếc bếp làm tạm bằng mấy hòn gạch, chụm củi được cóp nhặt từ trước để nấu bánh từ chiều 29 tháng Chạp. Lần đầu tiên gia đình đón tết mà vắng em Hùng, tôi nhớ nó nên đã viết một bức thư đầy tình cảm cho em và gửi về địa chỉ trường đại học mà nó đang theo học tại thành phố Baku bên bờ biển Caspien (Liên Xô).

 Sáng 30 thì không khí tết đã rộn ràng khi má vớt bánh chưng, còn ba mang về một cành đào đẹp cắm vào bình cùng một bó hoa glayơn đỏ cắm lọ và cài thêm vào đó tấm thiếp hồng “Chúc mừng Năm mới” của Hồ Chủ tịch. Thế là chỉ còn lại hai việc quan trọng phải hoàn tất trong ngày: tắm rửa sạch sẽ theo phong tục truyền thống và chuẩn bị bữa ăn tươi đón giao thừa. 

 Đã có đủ nguyên vật liệu, nên việc nấu các món ngon cho bữa ăn tươi rất dễ dàng; nhưng việc tắm táp hóa ra lại gặp khó khăn khách quan, đòi hỏi phải có giải pháp khôn khéo. Vì tất cả mọi người đều theo phong tục tắm trước giao thừa, mà cả khu Hiệu bộ chỉ có một buồng tắm sơ sài bên bể nước của toàn khu, nên những người đi tắm ùn ùn kéo đến nơi đó không dứt, cứ một người từ trong buồng tắm bước ra là lập tức có người khác ập vào thay thế; thỉnh thoảng người chờ ở ngoài lại nhắc người đang kỳ cọ ở trong: “Nhanh lên chứ, tắm gì mà lâu thế!”. Trước tình hình đó, tôi đặt ấm lên bếp đun nước rồi mang xô, chậu và dẫn em Dũng đến nơi đó xếp hàng lấy nước từ vòi nước ở bể trong lúc chầu chực trước buồng tắm. Quay về canh ấm nước, dự tính sắp đến lượt Dũng, tôi mang quần áo sạch và khăn mặt của hai anh em với hộp xà phòng cùng ấm nước sôi trở lại chỗ xếp hàng. Vừa hay xô chậu của chúng tôi đã đến lượt được hứng đầy nước, lại vừa có người trong buồng tắm bước ra, hai anh em tôi lập tức mang đủ thứ cần dùng bước vào trong đó và cùng nhau tắm táp với nước nóng đàng hoàng. Thay quần áo xong, tôi giao xô chậu cho Dũng và dặn nó đứng xếp hàng tiếp để chờ ba xuống. Trở về, tôi lại nấu ấm nước nữa rót vào phích. Áng chừng Dũng sắp đến lượt hứng nước, tôi xách phích nước sôi và kính mời ba mang quần áo khăn mặt  theo con đi tắm. Cho Dũng về phụ má dọn cơm và dặn nó nấu tiếp một ấm nước sôi, tôi lại đứng xếp hàng để giữ chỗ cho má.

 Khi má tắm xong thì trời tối đã lâu. Bữa ăn tươi thịnh soạn đã được bày trên bộ xa lông phòng khách. Dưới ánh điện sáng trưng, gia đình 4 người chúng tôi quây quần thưởng thức những món ngon giống hệt như trong bữa ăn đón giao thừa năm ngoái. Má nhớ Hùng và thương nó ở Liên Xô chẳng biết có được ăn tết không. Ba bảo lưu học sinh bên đó sướng lắm, thể nào tụi nó cũng biết cách tổ chức ăn uống ra trò. Rồi trìu mến nhìn tôi, ba cho biết thầy Bạch Ngọc Anh (chủ nhiệm lớp), thầy Lê Văn Sáu (chủ nhiệm Khoa) và cả thầy Phạm Huy Thông (Hiệu trưởng) đã gặp ba và đều khen con học giỏi, xứng đáng được giữ lại làm cán bộ giảng dạy khiến ba rất hài lòng. Má ca ngợi hết lời về phong thái giao tiếp lịch thiệp của thầy Phạm Huy Thông; và cho biết sẽ mời cả thầy Thông, thầy Sáu và thầy Anh dùng cơm với gia đình để cảm ơn sự quan tâm của các thầy đối với con.   Trong khi tôi lâng lâng sung sướng nghe những tin vui ấy, ba dặn Dũng phải noi gương hai anh để học cho giỏi. Dũng hứa sẽ cố gắng chăm học và khoe rằng nó đã được quàng khăn đỏ. (Mới lên lớp 3 đã được quàng khăn đỏ thì rõ ràng thằng em út này hơn anh cả của nó mãi đến lớp 6 mới được quàng. Nhưng về sau tôi mới biết: khi đó tất cả học sinh lớp 3, tức là lên 9 tuổi, đều được đưa vào Đội TNTP hết, khác với trước kia còn phải xét học lực và hạnh kiểm).

 Đúng 12 giờ đêm, tôi mang phong pháo ra ban công đốt. Tiếng nổ váng nhà hòa lẫn với hàng loạt tiếng pháo ở khắp nơi dội về. Xác pháo văng tung tóe cùng lúc khói cay nồng bay vào nhà tạo nên hương vị đặc trưng của ngày tết. Cùng lúc đó, ba mở hết cỡ âm thanh  chiếc đài Orionton để lắng nghe bản Quốc ca hùng tráng giữa phút giao thừa; tiếp theo là lời chúc tết quen thuộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài thơ Mừng Xuân Mậu Thân 1968:

 

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà,

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

                                              Tiến lên!

          Toàn thắng ắt về ta!

 

Bài Lãnh tụ ca lại vang lên; hình ảnh Bác Hồ uy nghi trên nền cờ đỏ sao vàng sáng tươi lại hiện lên trong tâm trí mọi người. Khi ấy, ai cũng nghĩ thơ Bác chỉ kêu gọi chung chung quân dân hai miền chiến đấu giành toàn thắng; không ngờ đó lại là hiệu lệnh về một cuộc Tổng tiến công sẽ bùng nổ đồng loạt ở miền Nam sau phút giao thừa này để giành thắng lợi cuối cùng. Khi ấy cũng chẳng mấy ai biết rằng lời Bác Hồ mà mình vừa nghe được không phải do Bác nói và đọc tại đài phát thanh, mà chỉ là cuộn băng ghi âm đã được chuẩn bị sẵn, nay được phát cho dân nghe; còn chính Bác lúc này lại đón giao thừa ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Mãi nhiều năm sau, qua cuốn Hồi ký của Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác), tôi mới được biết nguyên nhân vì sao mà Bác Hồ lại phải đón Tết Mậu Thân 1968 ở đất nước của Bác Mao. Theo cuốn sách đó, đồng chí Lê Duẩn muốn cách ly hai nhân vật nổi tiếng nhất nước ta (nhưng bị coi là theo chủ nghĩa xét lại) ra khỏi quyền lực, nên từ cuối năm ngoái dương lịch đã đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi an dưỡng ở Đông Âu và Bác Hồ đi chữa bệnh dài ngày ở Trung Quốc. Đầu năm 1968, Lê Duẩn triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị để thông qua kế hoạch Tổng tấn công Tết Mậu Thân do chính ông đề xuất. Bác về Hà Nội dự họp sau khi thoát chết từ một sự cố đáng ngờ ở sân bay Gia Lâm, ghi âm lời chúc và bài thơ mừng Năm mới của mình, rồi lại bay sang Trung Quốc. Ở bên Tàu, Bác chẳng hề biết cuộc Tổng tiến công ấy diễn ra như thế nào, có “tin vui khắp nước nhà” và có “toàn thắng ắt về ta” hay là không? Bác cũng không nghe được những tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm!” của các chiến sĩ anh dũng tấn công trước khi họ gục chết trên đường phố Sài Gòn vì hỏa lực đối phương.

 Tiếp theo thơ Bác, “Bài ca Xuân 68” - thi phẩm của Tố Hữu do Trần Thị Tuyết trình bày đã ngân nga sau phút giao thừa, để miêu tả cảnh tượng hùng tráng của cuộc Tổng tiến công sắp diễn ra theo trí tưởng tượng của nhà thơ của Đảng:

 

                              … Hoan hô Xuân 68 anh hùng!

                                   Hãy gầm lên như sấm sét đùng đùng

                                   Tất cả pháo!

                                   Và xông lên, dũng sĩ!

                                   Như khí phách Trần, Lê

                                   Như uy vũ Quang Trung

                                   Đánh tan đầu Mỹ, Ngụy!...

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác