NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 10, PHẦN 5

( 28-06-2016 - 01:13 PM ) - Lượt xem: 546

Nhưng khốn nỗi là, cho dù Thiên Hương có như thế nào đi nữa, thì tôi vẫn cứ yêu mà không sao dứt bỏ được nàng. Câu hỏi còn lại day dứt tôi là: phải chăng Hương chỉ cần mình để thay thế cho người yêu phương xa còn đang vắng mặt? Đã có lúc tôi cầu xin Thiên Hương cho mình biết điều gì đang day dứt tâm hồn nàng? Nàng đã bật khóc mà bảo: “Hương không cần Quốc nữa, hãy để cho Hương được yên!”. Nhưng khi thấy tôi có vẻ lảng tránh, thì nàng lại chủ động tìm đến với tôi.

5. Nụ hôn đầu đời

 

 Thầy Phan Ngọc Liên có tầm vóc cao lớn, nước da trắng trẻo cùng khuôn mặt khá đẹp trai với đôi tai to thường được gọi là “tai Phật”. Là một Phó Tiến sĩ mới tốt nghiệp ở Liên Xô về, thầy nổi bật trong khoa với những trang phục kiểu Nga như mũ lông, áo khoác dạ, đôi ủng da đen cao cổ và với giọng nói đậm chất Quảng Ngãi nhưng vẫn dễ nghe.

“Phương pháp luận sử học” là một môn khó học vì nó mang nhiều khái niệm trừu tượng, nhưng thầy Liên vẫn có cách làm cho chúng tôi dễ hiểu. Khi tham khảo cuốn “Mấy vấn đề về phương pháp luận sử học” do Viện Khoa học Xã hội xuất bản, tôi rất tâm đắc bài viết trong đó với nhan đề“Phương pháp lịch sử và phương pháp lô gic” đã trình bày rất rõ ràng về hai con đường để hình thành tri thức lịch sử. Nhưng thầy đặc biệt giảng kỹ về “Tính Đảng trong khoa học lịch sử” và yêu cầu chúng tôi đọc kỹ bài viết về vấn đề này trong cuốn sách đó. Thầy giảng rằng: mỗi con người đều thuộc về một giai cấp, nên mọi người sẽ nhận thức lịch sử theo quyền lợi của giai cấp mình; bởi thế mà những người theo chủ nghĩa Mác-Lênin (tức là tất cả các dân tộc trong phe XHCN) đều phải nhận thức theo lập trường của giai cấp vô sản; đó chính là tính Đảng trong khoa học lịch sử. Tôi hỏi: thưa thầy, vậy thì tại sao ta không gọi là “tính giai cấp” mà cứ phải gọi là “tính Đảng”? Thầy đáp: vì ĐCS là đội tiền phong của giai cấp, nên tính Đảng chính là sự kết tinh của tính giai cấp. Rồi thầy giải thích một cách đơn giản cho chúng tôi dễ hiểu: để giữ vững tính Đảng, mọi công trình nghiên cứu hay biên soạn lịch sử đều phải chiếu theo các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lãnh tụ các ĐCS, và phải theo đúng đường lối lãnh đạo của Đảng ta. Anh Xương hỏi thêm: thưa thầy, nếu như vậy thì “tính Đảng” và “tính khoa học” có mâu thuẫn với nhau không? Thầy giải đáp: vì giai cấp công nhân là lực lượng tiên tiến nhất trong xã hội, nên hệ tư tưởng của nó tức chủ nghĩa Mác-Lênin cũng là đỉnh cao khoa học của nhân loại; bởi thế mà tính Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chính là sự đảm bảo cho tính khoa học.

 Thế là tất cả chúng tôi đã hiểu rõ về tính Đảng, để tự tạo cho mình ý thức vận dụng nó trong việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử. Tôi nhanh chóng phát hiện rằng tất cả các giáo trình và bài giảng của các thầy mình đều bảo đảm tính Đảng một cách rõ ràng; về sau dần dần tôi còn nhận ra rằng không chỉ trong sử học, mà trong mọi lĩnh vực văn hóa-khoa học khác (triết học, văn học, nghệ thuật, âm nhạc…) đều phải có tính Đảng (tác phẩm nào xa rời hoặc trái ngược với tính Đảng đều bị cấm lưu hành, và tác giả của nó sẽ bị trừng trị thích đáng, tùy theo tội lỗi của người này lớn hay nhỏ). Nhờ đó, hình ảnh Đảng-Bác luôn luôn sáng chói như “mặt trời chân lý” trong ngôn từ của nhân dân nước Việt Nam DCCH, kể cả khi Bác Hồ lấy khăn tay lau nước mắt để trình diễn trước Quốc hội về sự đau xót đối với những sai lầm trong CCRĐ và Tổng Bí thư Trường Chinh bị mất chức để thay cho Bác nhận tội lỗi về mình.

Môn “Phương pháp Dạy học Lịch sử” do thầy Liên và thầy Trị phối hợp với nhau cùng giảng dạy theo cuốn giáo trình do chính hai thầy biên soạn. Thầy Trị vốn là bạn đồng nghiệp của ba tôi từ khi hai người cùng công tác trong ngành giáo dục ở Thanh Hóa. Có khuôn mặt chữ điền với khổ người cao lớn thường khoác chiếc áo bông kiểu mậu dịch quốc doanh bạc màu, thầy giảng dạy tận tâm và kỹ lưỡng theo phong cách của một “ông đồ xứ Nghệ”. Nhưng phải thừa nhận rằng những bài giảng của thầy Liên gây ấn tượng mạnh mẽ hơn với những tri thức mới do thầy mang từ Liên Xô về. Thầy chú trọng phân tích mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính với nhận thức lý tính, để từ đó hình thành biểu tượng và khái niệm lịch sử. Tôi đặc biệt thích thú với chủ đề tạo biểu tượng lịch sử mà thầy luôn lưu ý. Trong số các thầy cô giảng dạy ở khoa Sử ĐHSP Hà Nội, thầy Phan Ngọc Liên sẽ là người gắn bó lâu dài nhất với sự nghiệp của đời tôi, cho dù càng về sau tôi càng nhận thấy cái “tính Đảng” mà thầy luôn nhấn mạnh là một thứ không thể chấp nhận trong khoa học lịch sử cũng như trong bất cứ một lĩnh vực văn hóa-khoa học nào.

 

 Sau những ngày nghỉ hè đầy cảm xúc, tình cảm của tôi với Thiên Hương thật êm đẹp trong những ngày mùa thu đầu năm học mới.  Nhưng khi tiết trời ngày càng lạnh giá báo hiệu mùa đông đến, thì quan hệ giữa hai chúng tôi lại gợn lên những nét băn khoăn khó chịu. Dường như những đợt gió mùa đông bắc liên tục tràn về trong tháng cuối năm, với một cánh thư bay từ chiến trường miền Nam ra vừa đến tay nàng, đã khiến cả Thiên Hương và tôi đều nghĩ nhiều về “người cũ” của mình; nên sự nồng nhiệt mà hai chúng tôi đã dành cho nhau lại chuyển thành trạng thái lửng lơ quen thuộc: vừa muốn được yêu thương lại vừa e dè giữ kẽ với nhau.

 Trọng Cường tinh ý nhận ra những trắc trở trong tình cảm của tôi với Hương, nên đã cố gắng giúp cho hai chúng tôi gắn bó với nhau. Chẳng biết bằng cách nào mà cậu ấy đã lấy được bức thư của Chu Tác Nhân gửi Thiên Hương và trao nó cho tôi, “để mày nghiên cứu mà tìm cách đối phó với thằng đó!”- Cường bảo vậy. Đọc trộm thư riêng của người khác là một hành vi tệ hại, nhưng không còn cách nào khác để tìm hiểu những bí ẩn trong tâm hồn Thiên Hương mà tìm ra lối thoát cho mình, tôi đành tuân theo ý Cường (đọc xong tôi đưa lại để Cường bí mật trả nó vào chỗ cũ cho Hương). Quả nhiên bức thư đã làm chấn động tâm trí khiến tôi phải viết tới 22 trang nhật ký (từ ngày 17-12) để giãi bày những gì mà mình cảm nhận được trong đó. Chỉ riêng cách “thằng đó” gọi Thiên Hương là “em bé nhỏ” cũng đủ để tôi nổi xung với hắn: “thằng nhãi ranh còn kém tuổi Hương mà lại dám xưng ‘anh’ để gọi nàng như vậy!”. Nhưng chính cách xưng hô nghe trái tai ấy cùng những lời lẽ âu yếm tràn ngập trong thư đã cho tôi biết rằng hắn và nàng đã yêu nhau nồng cháy đến thế nào! Hơn nữa, việc hắn nhớ lại “những giờ phút thần tiên say đắm cùng nhau trong ngôi nhà hạnh phúc của chúng mình ở thủ đô” đã giúp tôi giải đáp rõ ràng điều bí ẩn mà mình luôn nghi hoặc: hắn và nàng đã “ăn cơm trước kẻng”, tức là khi đến với tôi Thiên Hương không còn trinh tiết nữa. Chính sự thật phũ phàng này đã khiến tôi rối bời tâm trí. Xót xa vì nàng đã dễ dãi trao thân cho một thằng ranh mới lớn mà đã sớm biết dở trò dâm dục, tôi “tưởng tượng mình có thể cầm dao đâm chết thằng nhóc con bất nhân đó như một con chó”. Nhưng rồi nghĩ lại, tôi cũng biết chuyện xảy ra giữa nàng với hắn cũng chỉ là một sự dại dột quá đà trong tình yêu sớm nở của tuổi học trò. So sánh Thanh Tâm với Thiên Hương, tôi phải tự dằn vặt mình về tội đã từ bỏ mối tình hồn nhiên trong trắng với cô trinh nữ láng giềng, để lao theo mối tình phức tạp nhiều trắc trở với cô bạn gái cũng yêu mình nhưng không cắt đứt được với người tình cũ mà cô đã hiến thân cho hắn. Nhưng khốn nỗi  là, cho dù Thiên Hương có như thế nào đi nữa, thì tôi vẫn cứ yêu mà không sao dứt bỏ được nàng. Câu hỏi còn lại day dứt tôi là: phải chăng Hương chỉ cần mình để thay thế cho người yêu phương xa còn đang vắng mặt? Đã có lúc tôi cầu xin Thiên Hương cho mình biết điều gì đang day dứt tâm hồn nàng? Nàng đã bật khóc mà bảo: “Hương không cần Quốc nữa, hãy để cho Hương được yên!”. Nhưng khi thấy tôi có vẻ lảng tránh, thì nàng lại chủ động tìm đến với tôi.

 Sau này nghĩ lại, tôi bỗng nhận ra rằng nàng đã trả lời tôi một cách rõ ràng, không phải bằng lời nói, mà bằng thái độ và hành động thực tế. Nhưng khi ấy tôi quá ngu, cứ muốn nàng phải nói thẳng ra bằng lời, y như là “giải đáp thắc mắc” trong các buổi “thảo luận  tổ”, mà không biết rằng vấn đề tế nhị thầm kín trong tình yêu chỉ có thể giải thích và đáp ứng nhau qua thái độ và hành vi ứng xử. Đã có câu “thứ nhất cự ly, thứ nhì cường độ”, vậy mà tôi vẫn không chịu hiểu: Chu Tác Nhân dù có yêu nàng mãnh liệt đến mấy, nhưng ở mãi chiến trường xa thì vẫn thua Lê Vinh Quốc luôn kề cận bên nàng. Sự ngu xuẩn của tôi không chỉ làm cho mình luôn day dứt, mà còn khiến nàng phải đau khổ và thất vọng với mình.

 Rất may là tình cảm sâu sắc và chân thành đã giúp tôi bù đắp cho sự ngu xuẩn ấy, để dẫn tới lối thoát khỏi trạng thái lửng lơ khó chịu của hai chúng tôi một cách bất ngờ.

 

 Dù là người ngoại đạo hay có đạo, dù có tin sự tích Thiên chúa Giáng sinh hay không, thì đêm Nôen vẫn luôn tràn ngập cảm xúc về tình yêu thương của con người dành cho nhau. Sau bữa cơm chiều, tôi đến thăm Hương ở nhà bác Tương để tìm hơi ấm tình người trong đêm đông lạnh lẽo này. Chị Húa cũng đã đi tìm bạn của chị ấy, nên chỉ có Hương với bác chủ nhà đón tiếp tôi. Ngồi trên hai chiếc ghế dài đối diện nhau hai bên bàn nước, với ánh sáng ấm áp của ngọn đèn dầu đặt trên bàn, hai chúng tôi nói với nhau đủ mọi chuyện. Vừa đan áo, Hương vừa kể cho tôi ngọn nguồn của lễ Giáng sinh, những kỷ niệm của nàng cùng gia đình về ngày lễ trọng thể này, và cho biết từ sau ngày Giải phóng Thủ đô thì mọi người trong nhà hầu như không đi lễ nhà thờ nữa. Tôi phỏng đoán rằng khi mang thai cô con gái đầu, mẹ Hương thường đi nhà thờ và chiêm ngưỡng chân dung Đức Mẹ Maria rất nhiều, nên đã sinh ra Hương có nét đẹp phảng phất dung nhan thánh thiện ấy.

 Trời về khuya, bốn bề yên tĩnh. Bác Tương đã lên giường để “hai xoa-một đập” rồi đắp chăn nằm ngủ. Thiên Hương buông bộ đồ đan, lấy tờ giấy cắt một lỗ tròn thủng vừa bằng chỗ thoát khói ở chiếc bóng đèn thủy tinh, chụp giấy đó lên bóng đèn để ánh sáng tập trung chiếu xuống mặt bàn mà không lan tỏa khắp xung quanh. Nàng đem ra cuốn giáo trình Nga văn đặt trước mặt mình rồi nói nhỏ: “Quốc chỉ cho Hương cách dịch câu này nhé!”. Tôi lập tức bước qua để ngồi cạnh nàng. Cùng nhau dịch xong câu đó, hai chúng tôi ngồi sát lại nhau, không nói năng gì mà cũng không để ý gì đến mọi vật xung quanh nữa. Mặc dù cả hai đứa đang mặc áo ấm rất dày, tôi vẫn cảm nhận được một hương vị quyến rũ từ cơ thể nàng toát ra. Nhận thấy vạt chiếc áo bông của mình trở thành vật ngăn cách giữa hai thân thể, tôi kéo nó lên để đùi mình với đùi nàng áp vào nhau qua hai lớp quần mỏng. Hương không ngồi dịch ra, mà còn áp sát thêm, khiến tôi rạo rực nóng bừng cả người. Hồi hộp với khoái cảm từ sự cọ xát giữa hai thân thể, tôi nhẹ nhàng ngả đầu vào vai Hương, và nàng cứ để nguyên như vậy. Thế rồi, không thể kiềm chế được nữa, tôi run rẩy vòng tay ôm Hương và đặt lên má nàng nụ hôn đầu tiên của đời mình.

 Đúng lúc đó, bác Tương tung chăn ngồi bật dậy la lên: “Anh Quốc làm gì thế? Khuya rồi, về nhà đi!”. Tôi giật mình vội rời xa Hương và đứng lên: thì ra nãy giờ bác ấy chưa ngủ mà lặng lẽ theo dõi chúng tôi. Không hề tỏ ra bối rối, Hương nắm nhẹ tay tôi mà bảo nhỏ: “Thôi, Quốc về đi! Đừng sợ gì nhé, sẽ chẳng sao đâu!”. Tôi lặng lẽ bước ra cửa đi vào bóng tối, thoáng qua một cảm giác khó chịu như mình vừa bị bắt quả tang khi làm một việc mờ ám, nhưng trong lòng vẫn đê mê hạnh phúc.

Hôm sau, tôi ghi vào nhật ký: “Tôi đã yêu, đã ôm hôn Thiên Hương tội nghiệp; và như thế là từ nay hai chúng tôi đã chính thức gắn bó với nhau. Chắc là phải quên đi những ‘người cũ’ của mình để hướng về hạnh phúc tương lai. Nhưng rồi còn phải đối phó với dư luận khi người ta đã ‘phát hiện’ ra hành động của hai đứa. Mong rằng Hương yêu quý sẽ vững vàng trước những sự xúc phạm tàn ác”.

 

Chẳng phải đợi lâu, đúng ngày sinh nhật lần thứ 20 của tôi (27-12), hai đồng chí Quốc và Hương được mời đến gặp Ban Chấp hành Chi đoàn để giải quyết “sự việc phát sinh đột xuất”. Thật ngạc nhiên là Bí thư Huỳnh Thanh Trúc không có mặt, mà Phó Bí thư Nguyễn Văn Thưởng chủ trì cuộc họp với sự tham gia của Ủy viên Nguyễn Văn Thuyết và đồng chí Đinh Thị Húa (có lẽ được mời đến để làm chứng). Thưởng mở đầu: “Chi đoàn vừa được nghe quần chúng phản ánh là hai đồng chí có những hành vi không lành mạnh, có thể nói là quan hệ nam nữ bất chính, ảnh hưởng đến tư cách đạo đức của người sinh viên và đoàn viên. Vậy, đề nghị hai đồng chí thành khẩn báo cáo lại sự việc với tổ chức”. Tôi đáp liền: “Chắc đồng chí Thưởng đã được nghe bác Tương kể lại sự việc. Vậy bác ấy kể thế nào đề nghị đồng chí thuật lại cho chính xác, không được khái quát thành những tội lỗi mà chúng tôi không vi phạm”. Thưởng chất vấn ngay: “Hai đồng chí đã ôm hôn nhau, đúng không?”. Tôi đáp trả: “Cả lớp đều biết hai chúng tôi yêu nhau; vậy thì ôm hôn có gì là sai trái?”. Và thế là một cuộc tranh cãi đã diễn ra:

 

 - Đồng chí cần lưu ý là yêu phải báo cáo với tổ chức. Hai đồng chí chưa báo cáo, nên hành động đó vẫn là bất chính!

 - Tôi có nghe nói rằng lấy vợ lấy chồng thì phải báo cáo, nhưng chưa thấy ở đâu quy định yêu cũng phải báo cáo.

 - Nhưng nếu không báo cáo thì hành động của hai đồng chí vẫn là “ăn cơm trước kẻng”, là vi phạm đạo đức…

 - Theo tôi hiểu thì hôn nhau không phải là “ăn cơm trước kẻng”; chỉ khi nào ngủ với nhau…

 - Nhưng nếu bác Tương không ngăn chặn kịp thời, thì hai đồng chí đã…

 - Đồng chí không có quyền suy luận bừa bãi!

 

Thưởng cảm thấy bị đuối lý, nên quay sang hỏi nhân chứng: “Đề nghị đồng chí Húa ở cùng nhà với đồng chí Hương cho biết ý kiến!”. Chị Húa nói rất chân thật: “Khi đó tôi không ở nhà, nên cũng chỉ nghe bác Tương kể lại. Tôi không hiểu phong tục người Kinh thế nào, còn dân tộc tôi thì coi những chuyện như vậy là bình thường!”. Thưởng lại quay sang tôi: “Nhân dân địa phương không chấp nhận việc quan hệ trai gái trong nhà mình; vì thế hai đồng chí đã  phạm kỷ luật dân vận!”. Tôi cãi: “Chúng tôi chưa ‘ăn cơm trước kẻng’, nên không thể nói là đã vi phạm!”.

 Lúc đó Nguyễn Văn Thuyết mới lên tiếng: “Chúng ta cần phân biệt tình yêu chân chính với thói trai gái trụy lạc. Tôi xin hỏi: hai đồng chí có ý định tiến đến hôn nhân không?”. Tôi đáp: “Chúng tôi yêu nhau nên dĩ nhiên muốn tiến đến hôn nhân; chỉ có điều chưa thể biết chắc khi nào sẽ cưới!”. Thuyết hỏi thêm: “Đồng chí Hương có nhất trí với đồng chí Quốc không?”. Hương đáp gọn: “Nhất trí!”. Thuyết liền kết luận: “Vậy là đã rõ: hai đồng chí yêu nhau nghiêm túc; coi như đã báo cáo công khai tại cuộc họp này! Tôi cho rằng sự việc có thể kết thúc ở đây; đồng chí Phó Bí thư có đồng ý không?”. Bị bất ngờ trước ý kiến của Thuyết mà không còn lý lẽ nào khác để tranh cãi, Thưởng đành tuyên bố “Đồng ý!”- tức là hai chúng tôi chẳng có tội lỗi gì; rồi anh ta vẫn lèo thêm một câu: “Nhưng tôi  còn phải xin ý kiến chỉ đạo của chi bộ; và hai đồng chí cũng phải rút kinh nghiệm!”. Dĩ nhiên là chúng tôi không dám “tái phạm” việc đó ở nhà bác Tương nữa.

 Cũng may là sau đó không thấy chi bộ có ý kiến gì thêm (sau này tôi mới biết rằng khi ấy chi bộ đang còn bận giải quyết vụ đồng chí Nguyễn Văn Canh - lớp phó Sử 3C - có dấu hiệu “hủ hóa” với Minh Lan - một bạn nữ có nhan sắc bị tàn phá do di chứng của bệnh đậu mùa - nên không chú ý đến vụ của tôi). Thế là cuộc họp của “tổ chức” để can thiệp vào tình cảm riêng tư của hai chúng tôi đã kết thúc “có hậu” hơn là tôi tưởng. Chính là từ cuôc họp này mà quan hệ tình cảm giữa tôi với Hương đã trở nên chính thức công khai, chấm dứt trạng thái lửng lơ giữa “người cũ” với “người mới” của mỗi đứa. Cũng từ đó, tôi có nhiều thiện cảm với Nguyễn Văn Thuyết-một chàng trai gốc nông dân như Nguyễn Văn Thưởng, nhưng cao lớn, đẹp trai và hiểu biết hơn Thưởng nhiều. Điều đáng ngạc nhiên là bác Tương không hề tỏ ra khinh ghét hai chúng tôi, mà còn tự trách mình “đáng lẽ không nên báo cáo với tổ chức để hai đứa phải khổ”- bác đã nói với Hương như vậy. Chúng tôi hiểu tâm trạng mâu thuẫn của bác. Là một người dân nông thôn lâu năm sống với giáo điều “nam nữ thụ thụ bất thân” để luôn khinh bỉ những trò “trai trên gái dưới” có thể gây xúi quẩy cho mình, bác đã phản ứng trước hành vi hiếm thấy mà mình đột nhiên được chứng kiến. Nhưng là một phụ nữ lớn tuổi góa chồng, bác cũng hiểu tình cảm nam nữ không phải xấu xa mà còn là hạnh phúc; nên khi bình tâm lại bác vẫn thương hai chúng tôi. Dù sao thì tôi và nàng cũng đã có một kỷ niệm nhớ đời trong những ngày cuối cùng của năm 1967.

 

 Người ta thường nói yêu đương sẽ ảnh hưởng không tốt đến học tập, nhưng đối với tôi thì lại khác. Từ khi được giải thoát khỏi những băn khoăn vướng mắc trong tình cảm với Thiên Hương, tôi vừa yêu nàng say đắm, lại vừa hăng say học tập hơn nữa. Nhờ đó, sang năm mới 1968 tôi đã vượt qua kỳ thi cuối học kỳ với những điểm số rất tốt (kết quả của Hương cũng không tệ chút nào). Trước ngày kết thúc học kỳ, Khoa cho một số sinh viên giỏi chọn đề tài để làm Khóa luận Tốt nghiệp. Tôi đã chọn đề tài “ Quá trình  hình thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống Nhật ở Trung Quốc (1931-1937)” do thầy Nguyễn Anh Thái hướng dẫn. Thầy Bạch Ngọc Anh giao cho sinh viên Sử 3 thực hiện bài tập lớn: mỗi người vẽ một tập bản đồ Lịch sử Việt Nam hiện đại (từ 1930 đến nay). Loại bài tập này đúng là sở thích của mình, và tôi cũng đoán trước được là nó có thể được dùng làm tài liệu giảng dạy ở trường phổ thông sau khi mình tốt nghiệp trở thành giáo viên. Vì thế, tôi quyết tâm làm cho thật tốt, đồng thời sẽ giúp Thiên Hương và Trọng Cường cũng làm tốt bài này. Hương tự nhận nhiệm vụ đóng 3 tập giấy kẻ ca rô khổ lớn thành quyển có bìa cứng để chia cho 3 đứa vẽ thành tập bản đồ.

 Trước khi nghỉ Tết, tôi đến thăm thầy Nguyễn Văn Kiệm đúng lúc thầy đang tiếp một nhóm nữ sinh năm thứ hai. Vừa thấy tôi bước vào chào, thầy vồn vã hỏi ngay: “ Năm nay học hành thế nào?”. Tôi đáp: “Vẫn như năm ngoái thầy ạ; em chưa được điểm 7 nào!”. Một cô nữ sinh vui vẻ góp chuyện: “Bọn em cũng ít khi được 7 lắm; cứ đều đều 5-6 là tốt rồi!”. Thầy cười bảo: “Thế là các cô chưa biết anh này: Lê Vinh Quốc đấy! Đối với anh này thì ‘chưa được điểm 7’ nghĩa là được toàn những điểm từ 8 đến 10!”. Các cô ồ lên: “Thì ra đây là anh Quốc! Chúng em nghe danh anh đã lâu mà bây giờ mới được gặp!”. Bỗng chốc trở thành một nhân vật nổi trội, tôi cảm thấy ngượng ngùng nên đã khiêm tốn đáp rằng: “Mình ham thích lịch sử nên luôn cố gắng tìm hiểu kỹ mọi sự kiện, chứ chẳng tài giỏi gì đâu! Nếu kiên trì và cố gắng thì các bạn sẽ còn giỏi hơn mình!”. Nói vậy, chứ lời khen của thầy và sự thán phục của các cô ấy đã đem đến cho tôi một niềm hạnh phúc vô biên. Trước lúc ra về, tôi chúc thầy sớm xuất bản công trình nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Yên Thế; còn thầy chúc tôi sẽ tốt nghiệp với kết quả tốt nhất, để sớm trở thành đồng nghiệp của thầy trong Khoa.

 

 Chuyến về nghỉ Tết Mậu Thân 1968 là lần đầu tiên tôi đi cùng nhóm bạn Hà Nội với tư cách đồng hương của họ. Trọng Cường đi trước cùng cặp Mạnh Tùng-Tuyết Nhung ở lớp A; tôi đạp xe đèo Hương đi sau và cả bọn đã gặp nhau ở bến ô tô thị xã Hưng Yên gần như cùng một lúc. Chiều hôm ấy vừa là Chủ nhật lại đúng ngày ông Táo lên chầu Trời, nên đã có quá đông hành khách xếp hàng rất dài trước quầy bán vé. Đứng ở cuối hàng, chúng tôi không biết bao giờ mới đến lượt mình, mà mỗi người được mua tối đa 2 vé nên số vé bán ra càng mau hết; không khéo sẽ phải chờ để đi chuyến xe đêm, thậm chí có nguy cơ phải chờ đến sáng mai. Thế là Trọng Cường lặng lẽ chạy ra một hàng nước mua mấy điếu thuốc lá lẻ (nhưng có bao cẩn thận), rút ra một điếu châm lửa hút phì phèo (lần đầu tiên tôi thấy cậu ta hút thuốc). Quay lại chỗ chúng tôi để dặn Hương và Nhung đứng xếp hàng giữ xe đạp và đồ đạc, Cường kéo Tùng và tôi đi lên đầu hàng đang có một đám đông vây quanh cửa quầy bán vé. Dặn Tùng và tôi giữ chặt tiền trong túi quần để đề phòng bọn “lính mổ” đang trà trộn ở đây có thể móc túi, Cường bắt chuyện với một người đàn ông đang đứng xếp hàng sắp đến lượt vào mua vé, chìa bao thuốc mời ông “làm một điếu cho đỡ lạnh”, rồi thân mật đánh diêm châm lửa cho ông ta hút. Thế rồi cậu ta lặng lẽ chen vào hàng ngay trước ông này, lại kéo cả Tùng và tôi vào đứng trước cậu ta. Kết quả là chúng tôi nhanh chóng mua đủ vé cho cả bọn (kể cả vé chở xe đạp); và Cường còn kịp quay lại vẫy chào ông bạn hút thuốc vừa mua được vé sau mình!

 Nhờ biệt tài “chen ngang” của Cường (một tài năng không đẹp nhưng rất hữu ích dưới chế độ XHCN tức “xếp hàng cả ngày”), chúng tôi lên được chuyến ô tô khởi hành đầu tiên. Sau khi đưa xe đạp lên mui ô tô, Quốc-Hương và Cường ngồi băng ghế trước, Tùng-Nhung ngồi ngay băng sau thò tay lên trao cho chúng tôi gói lạc luộc để vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả. Chuyến đi thật êm đẹp, không hề gặp máy bay Mỹ ở giữa đường. Nhưng khi xuống xe đi bộ qua cầu phao vượt sông Hồng thì chúng tôi đã được chứng kiến tận mắt sự tàn phá của bom đạn Mỹ. Dưới ánh sáng mờ ảo của buổi hoàng hôn lạnh lẽo, chiếc cầu Long Biên huyền thoại đứng sừng sững với 2 nhịp bị cắt đứt hoàn toàn và một nhịp thứ ba chỉ còn nối với mố cầu bằng mấy thanh sắt cong queo. Chúng tôi lặng người đi trước cảnh tượng ấy. Hương nói nhỏ: “Quốc còn nhớ mới hôm về nghỉ hè chúng mình còn ngồi ô tô qua cầu?”. Tôi đáp: “Nhớ chứ, sao quên được, kỷ niệm của chúng mình mà!”. Vào lại xe để chạy thêm một đoạn rồi lại xuống xe ở  Bến Nứa, tôi lấy xe đạp định đèo Hương về nhà, nhưng nàng bảo: “Thôi, để Hương tự đi với tụi nó; Quốc về nhà đi kẻo ba má mong!”. Thế là nàng cùng “tụi nó” lên tàu điện đi Bờ Hồ, để rồi Tùng-Nhung về Hàng Điếu, Trọng Cường về Hàng Khay và Thiên Hương về Hàng Chuối. Hẹn sớm gặp lại nhau trong Tết, tôi một mình đạp xe trên chặng đường  quen thuộc về Cầu Giấy.

 

 Trong khuôn viên ĐHSP Hà Nội có “Khu Hiệu bộ” gồm 2 tòa nhà dài song lập hai tầng mái bằng, với tường vôi vàng và các khung cửa sơn màu xanh lá cây; đoạn cuối hai tòa lại nối với nhau bằng một dãy hành lang dài có mái che, tạo thành đáy một hình chữ “U” vuông mà mỗi cạnh là một tòa nhà. Mỗi tòa nhà chia thành hàng chục phòng với kích thước và công năng khác nhau. Một con đường đất khá rộng với hai vệ cỏ hai bên có hai hàng phi lao che mát đi qua phía trước Khu Hiệu bộ là đường giao thông duy nhất  nối liền nơi đây với các khu vực khác trong khuôn viên trường. Từ con đường này nhìn vào Khu Hiệu bộ, hai phòng đầu tòa nhà bên trái là nơi cư trú của gia đình GS Toán học Nguyễn Cảnh Toàn-Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội II (ở trên gác) và gia đình thầy Hồ Văn Điềm- Phó Hiệu trưởng cùng trường (ở dưới nhà); còn hai phòng đầu tòa nhà bên phải là nơi cư ngụ của gia đình thầy Nguyễn Chí Linh - Phó Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội I (ở dưới nhà) và gia đình thầy Lê Văn Nguơn – Trưởng ban Phụ trách trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội (ở trên gác). Ngoài ra, còn có phòng ở của một số cán bộ giảng day lâu năm (như thầy Nguyễn Lân chẳng hạn).

 Theo ba tôi về trường  đại học này, má tôi đành bỏ nghề dạy học để trở thành một cán bộ phụ trách văn thư của phòng Hành Chính nhà trường. Mặc dù chức vụ của ba tôi ở đây không kém địa vị cũ của ông ở Hải Phòng, nhưng chỗ ở của gia đình chúng tôi tại đây thua xa ngôi nhà cũ ở thành phố Cảng về cả diện tích và mọi thứ tiện nghi. Một căn phòng chỉ 28 mét vuông được ngăn đôi bằng một tấm vách gỗ; để phía trong trở thành phòng ngủ chật chội kê một chiếc giường đôi (cho ba má), một tủ nhỏ đựng quần áo và một chiếc giường đơn (cho em Dũng); và phía ngoài là phòng làm việc (với bộ bàn ghế văn phòng của ba cùng tủ sách đứng bên nó) kiêm tiếp khách (với bộ xa lông gỗ cũ một bàn bốn ghế) kiêm phòng ăn (bộ bàn ghế tiếp khách cũng là chỗ ăn cơm). Ba tôi còn treo bức tranh sơn dầu mà cậu Bính tặng ông trên tấm vách gỗ để làm đẹp cho chỗ làm việc của mình.

 Tại ban công là nơi có thể đứng nhìn ra đường để hưởng gió mát, má tôi đã tận dụng diện tích ở đó để đặt một cái chuồng nuôi gà.

 Ở trên gác không có sân cũng chẳng có vườn, tôi cảm thấy rất khó chịu về sự tù túng của chỗ cư ngụ mới này. Cũng may là tiếp giáp phòng ở của gia đình chúng tôi lại có một phòng rộng bỏ trống. Có những chiếc bàn dài lát gạch men trắng và cả một máng nước cũng lát gạch men như vậy, nơi đây vốn là một phòng thí nghiệm nhưng không hoạt động nữa vì mọi dụng cụ trong đó đã chuyển về khu sơ tán rồi. Thế là gia đình tôi được sử dụng thêm phòng này làm chỗ nấu ăn, rửa rau rửa bát và để xe đạp. Một chiếc giường cá nhân cũng được đặt thêm ở đây để dành cho tôi.

 Nếu các vòi trên máng nước ở phòng này thường xuyên có nước chảy, thì việc bếp núc sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng các vòi đó chỉ thỉnh thoảng mới có chút nước, nên chúng tôi phải mang xô và bình đi tuốt sang tòa nhà bên kia, hứng nước từ chiếc bể công cộng ở đó xách về thì mới có nước dùng. Việc tắm giặt cũng phải tiến hành bên cái bể nước đó với một buồng tắm thô sơ được che chắn bằng cót ép và giấy dầu. Còn việc bài tiết thì phải thực hiện ở phía bên kia đường, tại một nhà xí công cộng có 4 ngăn dưới một rặng tre rậm rạp và một hố tiểu công cộng đào xuống đất có tường xây hình bán khuyên bao quanh.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác