NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 10, PHẦN 4

( 08-06-2016 - 07:46 AM ) - Lượt xem: 669

Toàn thể dân tộc Việt Nam hân hoan đón chào buổi bình minh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng trên nền tảng nhân quyền với tiêu chí “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”, được bảo đảm bằng “Hiến pháp 1946”. Chủ tịch Hồ Chí Minh được toàn dân ngưỡng mộ như một vị “cứu tinh dân tộc” và suy tôn là “Cha già dân tộc”, rồi được gọi bằng cái tên thân thiết là “Bác Hồ”.

 4. Cha già dân tộc

 

Khi giảng về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa phát xít, thầy Nguyễn Anh Thái đã làm chúng tôi ngạc nhiên khi ông cho biết rằng Quốc trưởng Adolf Hitler của Đức Quốc Xã có nguồn gốc xuất thân là một thợ sơn, nghĩa là thuộc thành phần giai cấp công nhân. Điều đó cho phép giải thích một cách logic rằng tại sao chính đảng do ông ta  sáng lập và lãnh đạo lại mang tên chính thức là “Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội chủ nghĩa Đức” (viết tắt là NAZI tức Quốc Xã). Thêm nữa, lá cờ của đảng Quốc Xã cũng màu đỏ như cờ của ĐCS, chỉ khác nhau ở biểu tượng trên đó: cờ Quốc Xã có hình thập ngoặc màu đen trên vòng tròn trắng, còn cờ ĐCS mang hình búa liềm vàng. Ngoài ra, đảng Quốc Xã cũng đưa các thế hệ người Đức vào đội Thiếu niên Phát xít và đoàn Thanh niên Hitler rồi vươn lên Đảng với đủ cả khăn quàng, huy hiệu và thẻ đoàn-thẻ đảng như các tổ chức đội-đoàn-đảng của ĐCS.

 Tuy nhiên, CNXH Quốc gia của Đức Quốc Xã dựa trên hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc cực đoan lại hoàn toàn đối lập với CNXH Xô Viết theo hệ tư tưởng đấu tranh giai cấp của CNCS. Vì thế, cái gọi là “CNXH Quốc gia” thực chất là chủ nghĩa phát xít (do bạn đồng minh của Hitler là Mútxôlini tạo ra ở nước Ý). Theo định nghĩa của Tân Chủ tịch QTCS Ghêoocghi Đimitơrốp, “chủ nghĩa phát xít là nền chuyên chính khủng bố công khai tàn bạo nhất, sô vanh nhất, hiếu chiến nhất của tư bản tài chính” (dĩ nhiên nó khác biệt với “chuyên chính vô sản” của QTCS). Với bản chất như vậy, chủ nghĩa phát xít là kẻ thù không đội trời chung của CNCS.

 Mãi đến hơn chục năm sau, tôi mới phát hiện ra rằng Hitler chưa bao giờ là “thợ sơn” như thầy trò chúng tôi vẫn hằng tin tưởng, mà ông ta vốn là một họa sĩ không thành đạt. Trong tiếng Anh, chữ “painter” có nghĩa là “thợ sơn” nhưng cũng là “họa sĩ”. Sự nhầm lẫn tai hại giữa 2 nghĩa đó đã biến Đức Quốc trưởng từ một kẻ thuộc thành phần “trí thức tiểu tư sản tạch-tạch-sè” thành một người thuộc “giai cấp vô sản đáng kính”. Nhưng dù vậy thì bản chất “CNXH Quốc gia” tức chủ nghĩa phát xít của ông ta trong nhận thức của chúng tôi vẫn không hề thay đổi. Có điều khó giải thích được là đảng Quốc Xã của Hitler ngày càng được đa số nhân dân ủng hộ trong các cuộc tranh cử vào chính quyền; để rồi ông ta trở thành một Quốc trưởng độc tài của nước Đức Quốc Xã vào năm 1933. Từ đó, Hitler được tôn thờ ở Đức chẳng khác gì Stalin được sùng bái ở Liên Xô. Con đường phát triển của Đức Quốc xã (tức “Đệ tam Đế Chế”-Third Reich) tràn ngập xương máu của những người Do Thái, những người cộng sản, các lực lượng chống phát xít đòi tự do dân chủ và của tất cả những ai bất đồng chính kiến với Quốc trưởng. Ngay cả kẻ đồng sáng lập đảng với Hitler là Ernst Rohm cũng bị giết vì  y dám cạnh tranh quyền lực với lãnh tụ tối cao. Các trại tập trung với lò thiêu người mọc lên khắp nơi để bảo đảm “không gian sinh tồn” cho chủng tộc Đức thượng đẳng trên những giống nòi hạ đẳng.

 

 Với giọng nói nhỏ nhẹ của một người tầm thước có khuôn mặt đôn hậu, thầy Nguyễn Xuân Trúc giảng về “Chiến tranh Thế giới thứ Hai (1939-1945)”. Tôi say mê học chương này với nguồn tư liệu vô cùng phong phú của Liên Xô đã được nhập tâm từ trước đến giờ, để giúp mình nhận thức sâu sắc với nhiều cảm xúc dâng trào:  hàng chục cuốn truyện đã đọc như “Dôia và Sura”, “Anh hùng Matơrôxốp”, “Đội Cận vệ Thanh niên”, “Nam tước Phôngônrinh”, “Khoảng trời Bantích”, “Chuyện một người chân chính”, “Những người Xô Viết chúng tôi”, “Những cuộc chiến đấu trên đường Vôlôcôlamxcơ”, “Sư đoàn Păngphilốp”, “Trong chiến hào Stalingrát”, “Hầm bí mật bên bờ sông Enbơ”, “Mùa xuân trên sông Ôđe”…, thêm cả câu chuyện “Ông giáo già” đã được học ở trường từ thời thơ ấu; các bộ phim “Số phận một con người”, “Bài ca người lính”, “Em bé tìm cha”, “Công phá Bá Linh”…; những ca khúc “Cuộc chiến tranh thần thánh”, “Kachiusa”, “Ánh lửa”, “Có một thiếu niên thành Lêningrát”, “Chiều hải cảng”, “Giờ này anh về đâu”, “Binh đoàn xe tăng”…; các tập tranh ảnh chiến tranh mà nổi bật là bức tranh cổ động “Rodina-Match zovyot!” (Tổ Quốc-Mẹ hiền đang kêu gọi!) và những bức ảnh về cuốn “Nhật ký của Tanhia” vô cùng xúc động; quan trọng nhất là các bộ hồi ký “Nhớ lại và suy nghĩ” của nguyên soái Giucốp, “Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh” của đại tướng Stêmencô, “Xe tăng Liên Xô trong trận hội chiến ở Cuốcxcơ”

 Theo bài giảng của thầy, chúng tôi dễ dàng nhận biết thủ phạm gây chiến tranh xâm lược  là “Trục phát xít” Đức-Ý-Nhật. Nhưng chính sách của các cường quốc dân chủ phương Tây (Mỹ, Anh, Pháp) nhằm dung dưỡng, thỏa hiệp và nhân nhượng bọn phát xít để chúng gây chiến chống Liên Xô (nổi bật là việc “trói chân tay Tiệp Khắc trao cho Hitler” trong Hội nghị Munich) chính là nguyên nhân dẫn tới chiến tranh. Liên bang Xô Viết kiên quyết đấu tranh bảo vệ hòa bình, nhưng vì Paris và London không chân thành hợp tác với Mátxcơva nên Liên Xô phải ký Hiệp định Xô-Đức không xâm lược nhau (23-8-1939) để tranh thủ thời gian củng cố quốc phòng. Nhờ đó, khi Đức tấn công Ba Lan (1-9-1939) và Anh-Pháp tuyên chiến với Đức thì Liên Xô vẫn bình an vô sự.

Học về diễn biến của chiến tranh luôn rất thú vị. Mặc dù căm ghét bọn phát xít, tôi vẫn phải thán phục chiến lược “chiến tranh chớp nhoáng” của quân Đức đã giúp chúng đánh chiếm Ba Lan trong thời gian chưa đầy 1 tháng, rồi đập tan liên quân Anh-Pháp và buộc nước Pháp phải đầu hàng chỉ trong một tháng rưỡi (do đó quân Nhật đã kéo vào Đông Dương thuộc Pháp). Nhưng gây xúc cảm mạnh nhất cho tôi vẫn là “Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô” chống phát xít Đức. Vì bị quân Đức tấn công bất ngờ (22-6-1941) nên Hồng quân Liên Xô buộc phải rút lui trong giai đoạn đầu cuộc chiến, nhưng đã đứng vững trong vòng vây ở Lêningrát, đứng vững rồi chuyển sang phản công ở Mátxcơva, và đã tiêu diệt 33 van quân Đức trong trận đánh vĩ đại Stalingrad, rồi đập tan quân Đức ở Kursk làm xoay chuyển tình thế chiến tranh. Hồng quân chuyển sang tấn công địch để giải phóng đất nước mình, giải phóng các nước Đông Âu rồi đánh chiếm thủ đô Berlin buộc Đức Quốc xã phải đầu hàng và Hitler tự tử trong hầm chỉ huy (giai đoạn chiến tranh này được diễn tả kỹ lưỡng trong bộ phim “Giải phóng” của điện ảnh Xô Viết).

 Trong thắng lợi của phe Đồng Minh tiêu diệt phe phát xít, Liên Xô đóng vai trò quyết định, còn Mỹ-Anh và các nước khác chỉ là vai phụ. Ngay cả cuộc đổ bộ ở Normandy cũng được coi là “quá muộn và không nhiều tác dụng”; còn việc Mỹ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki cũng không đủ sức mạnh để buộc Nhật phải hạ vũ khí, mà chỉ có việc Liên Xô tấn công đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc (tức xứ Mãn Châu) mới quyết định sự đầu hàng của Đế quốc Mặt Trời…

 Mãi đến nhiều năm sau, tôi mới dần dần nhận ra những sự thật khác với những gì đã học. Bản Hiệp định Xô - Đức không xâm lược nhau thực chất là sự phân chia các lãnh thổ mà hai nước được quyền xâm chiếm. Khi Đức xâm lược Ba Lan ở phía Tây, thì Liên Xô xâm chiếm miền Đông nước này và bắt hàng vạn tù binh (bao gồm 22.000 sĩ quan tù binh Ba Lan sẽ bị tàn sát tập thể tại khu rừng Katyn), xâm chiếm 3 nước Litva, Latvia và Estonia, rồi tấn công cả Phần Lan nhưng không khuất phục được nước này. Trong giai đoạn đầu cuộc chiến Xô-Đức, quân Đức đã nhanh chóng đánh bại Hồng quân, tiêu diệt và bắt sống hàng triệu tù binh để chiếm đóng những vùng lãnh thổ rộng lớn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại này của Liên Xô: bị tấn công bất ngờ (do Stalin quá tin tưởng ở “tình hữu nghị” với Hitler và không tin các nhà tình báo của chính mình), vũ khí kém và thiếu nghiêm trọng (do nền công nghiệp chưa đủ khả năng sản xuất), chiến thuật lạc hậu và thiếu sĩ quan giỏi (những người này đã bị Stalin giết hoặc bắt giam trong các đợt thanh trừng), tinh thần chiến đấu thấp (nhiều người không muốn chiến đấu cho lý tưởng cộng sản nên dễ dàng đầu hàng, có cả một tập đoàn quân phản chiến theo địch để chống chính quyền Xô Viết).

 Liên Xô đã đứng vững và chuyển bại thành thắng nhờ có lãnh thổ to lớn (địch không đủ sức chiếm hết), có điều kiện về nhân lực và tài nguyên để tổ chức lại lực lượng quốc phòng  (kể cả việc thả các sĩ quan đang bị tù đi chiến đấu), nhận được viện trợ quân sự của Mỹ… Nhưng quan trọng nhất là Đảng đã dùng danh xưng “Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại” thay cho “lý tưởng cộng sản” để khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân mà tạo nên sức mạnh chiến đấu. Thế tức là Stalin đã theo “chủ nghĩa dân tộc” mà ông luôn coi là thù địch; rồi ông giải tán luôn QTCS để tranh thủ sự phối hợp và viện trợ của các nước Đồng Minh “tư sản”.

 Cuộc đổ bộ của Đồng Minh ở Normandy (6-6-1944) có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp tiêu diệt phát xít Đức (được diễn tả rất hay qua bộ phim “Ngày dài nhất”-“The longest Day” của Hoa Kỳ). Tuy vậy, cái giá mà Liên Xô phải trả trong cuộc chiến chống Đức là đắt nhất thế giới: 27 triệu người (cả quân và dân) tức14% dân số đã bị giết (so với Đức chỉ 9,5 triệu người chết trên tất cả các mặt trận chống Liên Xô và cả Mỹ-Anh-Pháp). Khi chiến tranh đã vượt khỏi biên giới Liên Xô và chuyển sang các nước Đông Âu, thì sự nghiệp “Vệ quốc” cũng kết thúc để Hồng quân trở lại với “lý tưởng cộng sản” bằng việc lật đổ các chính phủ tư sản, lập nên các chính phủ cộng sản (được gọi là chế độ “dân chủ nhân dân”) ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư, Romania, Bulgaria, Albani, Hungary; rồi nước CHDC Đức được thành lập ở vùng chiếm đóng của Liên Xô trên lãnh thổ “Đệ tam Đế chế” cũ. Đó là sự hình thành “Hệ thống XHCN” ở Đông Âu do Liên Xô bảo trợ để đối lập với “Hệ thống TBCN” ở Tây Âu do Mỹ đứng đầu trong tình trạng “Chiến tranh lạnh” kéo dài suốt hơn 40 năm.

 Ở chiến trường Châu Á-Thái Bình Dương, sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản và chính phủ nước này đã phát thông báo xin đầu hàng, Liên Xô mới “tuyên chiến” với Nhật và tiến đánh đạo quân Quan Đông đã sẵn sàng đầu hàng Đồng Minh từ trước.

 

sao thì cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai cũng tạo ra tình thế thuận lợi để dân tộc ta vùng lên giành độc lập. Nhận rõ điều này, Nguyễn Ái Quốc bí mật về Việt Nam (sống trong hang Pac Bó ở tỉnh Cao Bằng) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

 Giáo trình của chúng tôi cũng như sách “Lịch sử Đảng Lao động Việt Nam” đều viết rằng đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Tám (tháng 5-1941) để “hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng”: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, thành lập mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh) để đoàn kết toàn thể dân tộc tiến hành cuộc cách mạng đánh Pháp đuổi Nhật giành độc lập.

Nhiều năm sau, khi đi sâu vào diễn biến các sự kiện qua nhiều nguồn tư liệu mới, tôi mới nhận ra rằng cuộc Hội nghị này còn đi xa hơn nhiều so với sự “chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng” đã khởi đầu từ Hội nghị Trung ương lần thứ Sáu (11-1939). Tập hợp xung quanh Nguyễn Ái Quốc trong chiếc lán nhỏ giữa rừng Pác Bó có 7 đại biểu tham dự hội nghị là Trường Chinh (Quyền Tổng Bí thư Đảng), Hoàng Văn Thụ (Ủy viên Trung ương), Hoàng Quốc Việt (Ủy viên Trung ương), Bùi San (đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ), Hồ Xuân Lưu tức Trân Quốc Thảo (Xứ ủy Trung kỳ) và 2 đại diện Ban lãnh đạo Hải ngoại là Vũ Anh và Phùng Chí Kiên. Hoàng Quốc Việt đề nghị đồng chí Nguyễn Ái Quốc xuất trình chứng minh thư và giấy ủy quyền của QTCS; nhưng 2 đại biểu Hải ngoại đã xác nhận đầy đủ tư cách của người chủ tọa hội nghị. Khi ấy những ai theo lập trường đấu tranh giai cấp của Trần Phú đã bị thực dân Pháp bắt và giết gần hết, nên những người tham dự hội nghị này dễ dàng tin theo đường lối cách mạng giải phóng dân tộc do Nguyễn Ái Quốc vạch ra. Theo nghị quyết của hội nghị, vấn đề đấu tranh giai cấp bị loại bỏ hoàn toàn, thậm chí cả hai nhiệm vụ chiến lược “phản đế-phản phong” cũng bị bác bỏ (không tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày, chỉ chống những đế quốc đang thống trị nước ta). Bản Chương trình Mặt trận Việt Minh đã vạch rõ “chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở…”; các đoàn thể “cứu quốc” của Việt Minh giương cao lá cờ đỏ sao vàng (thay cho cờ đỏ búa liềm của Đảng), tiến tới nền độc lập theo chính thể dân chủ-cộng hòa (chứ không phải là cộng hòa Xô Viết). Như vậy, Việt Minh đứng ra lãnh đạo cách mạng thay cho ĐCS đã lùi vào bóng tối; và hệ tư tưởng cộng sản Mác-Lênin đã bị loại bỏ để thay thế bằng hệ tư tưởng nhân quyền giành độc lập dân tộc.

 Để cắt đứt với quá khứ của mình trong hình ảnh một chàng trai mày râu nhẵn nhụi mặc Âu phục chỉnh tề trên diễn đàn QTCS, Nguyễn Ái Quốc đã thay hình đổi dạng bằng bộ râu dài và trang phục dân tộc miền núi hay bộ “đại cán” kiểu Tôn Trung Sơn, rồi mang một cái tên mới rất đẹp là Hồ Chí Minh.

 Tình hình thế giới ngày càng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho nhà cách mạng dân tộc Hồ Chí Minh thực thi đường lối của mình. Chiến tranh Xô-Đức bùng nổ khiến Stalin không còn quan tâm đến ĐCS Đông Dương nữa; việc giải tán QTCS lại càng giúp cho Việt Minh đoạn tuyệt hẳn với CNCS. Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Roosevelt về việc tước bỏ quyền cai trị của Pháp ở Đông Dương để từng bước cho xứ này tiến tới độc lập đã giúp  Hồ Chí Minh đặt trọn niềm tin và hy vọng ở Hoa Kỳ. Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương  giữa Mỹ với Nhật đã mở đường cho Việt Minh hợp tác với Hoa Kỳ chiến đấu chống Nhật. Hàng chục phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi đã được du kích Việt Minh giải cứu và hộ tống sang Trung Quốc trao trả cho Bộ tư lệnh Hoa Kỳ ở Côn Minh. Sau các cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh với tướng tư lệnh Mỹ Claire Chennault và với thiếu tá tình báo Achimedes L. A. Patti, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Minh với Sở Tình báo Chiến lược (OSS) và các lực lượng quân Mỹ có trách nhiệm ở Đông Dương đã được thiết lập. Cán bộ Việt Minh đã in hàng vạn truyền đơn cổ động cho sự hợp tác Việt-Mỹ trong chiến đấu để không quân Mỹ rải khắp Bắc Kỳ. Một đơn vị biệt kích Mỹ có biệt danh  “Đội Con Nai” đã nhảy dù xuống khu giải phóng Việt Bắc để huấn luyện cho 200 chiến sĩ du kích Việt Minh trở thành “Bộ đội Việt-Mỹ”. Nhiều vũ khí và khí tài của Hoa Kỳ đã được thả dù xuống hoặc vận chuyển từ Trung Quốc sang tiếp tế cho du kích Việt Minh khi ấy đã trở thành Việt Nam Giải Phóng Quân. Nhờ có điện đài rất tốt, các nhà lãnh đạo Việt Minh đã xác định chính xác thời điểm Nhật đầu hàng Đồng Minh ( sau ngày nước này bị Mỹ ném bom nguyên tử) để chớp đúng thời cơ phát động Tổng khởi nghĩa. Bộ đội Việt-Mỹ  trong hàng ngũ Việt Nam Giải Phóng Quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã tiến đánh Thái Nguyên rồi tiến về Hà Nội. Ngay cả bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham khảo khi soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam cũng do tình báo Mỹ cung cấp. Theo sự mô tả của nhà sử học Bernard Fall trong cuốn “The Two Vietnam” của ông,“ Khi lực lượng của ông Hồ tiếp quản thủ đô Hà Nội, sự có mặt của nhiều sĩ quan cao cấp Mỹ ở các công sở Việt Minh và cờ Mỹ bay trên nóc nhà của họ, đã cho những người Pháp sống sót và dân chúng biết rằng Mỹ đã có quan hệ chính thức với chế độ Việt Minh và hoàn toàn ủng hộ những người cách mạng”.

 

 Toàn thể dân tộc Việt Nam hân hoan đón chào buổi bình minh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng trên nền tảng nhân quyền với tiêu chí “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”, được bảo đảm bằng “Hiến pháp 1946”. Chủ tịch Hồ Chí Minh được toàn dân ngưỡng mộ như một vị “cứu tinh dân tộc” và suy tôn là “Cha  già dân tộc”, rồi được gọi bằng cái tên thân thiết là “Bác Hồ”. Khi thực dân Pháp nổ súng tái xâm lăng nước Việt theo chỉ thị của tướng De Gaulle, nhân dân Nam Bộ đã anh dũng đứng lên kháng chiến. Ca khúc “Nam Bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn sẽ mãi mãi làm rung động lòng người về tinh thần xả thân vì nước của đồng bào ta ngày ấy:

       

                              Mùa thu rồi, ngày hăm ba ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến.

                              Rền vang trời lời hoan hô, quân dân Nam nhịp chân tiến ra trận tiền.

                              Thuốc súng kém, chân đi không, mà lòng người giàu lòng vì nước.

                              Nóp với giáo mang ngang vai, nhưng thân trai nào kém oai hùng…

 

 Sau khi thực dân Pháp tái chiếm Sài Gòn-Chợ Lớn, đồng bào Nam Bộ vẫn một lòng hướng về Cha già dân tộc. Tài liệu lịch sử đã ghi rõ: Ngày 25-8-1946, các vị đại diện toàn thể đồng bào Nam Bộ họp mặt tại Hà Nội đã ra bản Quyết nghị xin Quốc hội và Chính phủ trung ương “đổi ngay tên thành phố Sài Gòn lại làm tên thành phố Hồ Chí Minh, để tượng trưng sự chiến đấu, hy sinh và cương quyết trở về với Tổ quốc của dân Nam Bộ”. Trong danh sách 57 người ký tên dưới bản Quyết nghị này, có Trần Hữu Nghiệp, Trần Công Tường, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Lê Văn Nguơn, Nguyễn Văn Cương, Hoàng Quốc Việt, Đinh Văn Hớn, Nguyễn Ân Triệu, Diệp Tư… Như vậy là chính ba tôi (Lê Văn Nguơn) cùng các bạn bè thân thiết của ông trong giới trí thức danh tiếng của Nam Bộ đã chân thành và nồng nhiệt suy tôn Hồ Chủ tịch. Sự suy tôn này hoàn toàn xứng đáng với sự nghiệp cách mạng mà Hồ Chí Minh đã cống hiến cho dân tộc theo đường lối vô cùng sáng suốt của chính ông cho đến lúc đó.

 Giờ đây, vị Cha già dân tộc chỉ còn bước đi cuối cùng để bảo vệ nền độc lập vừa giành được: thỉnh cầu Hoa Kỳ công nhận nước Việt Nam DCCH để có giải pháp ngăn chặn cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Theo đó, Hồ Chủ tịch đã lần lượt 8 lần gửi thư và điện văn cho Tổng thống Truman (người kế vị Tổng thống Roosevelt vừa từ trần), yêu cầu Tổng thống Mỹ “công nhận nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam và sự hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”. Nhưng Washington đã đáp lại bằng sự im lặng hoàn toàn sau mỗi lần nhận được thông điệp từ ông Hồ; kể cả khi ông đã cho giải tán ĐCS Đông Dương, và đã ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp để thừa nhận “Việt Nam là một quốc gia tự do nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên Hiệp Pháp”.  

Sự im lặng tuyệt đối đó của Washington cho thấy rằng: Hoa Kỳ đã quyết không công nhận nước Việt Nam DCCH (cho dù ông Hồ có phải cộng sản hay là không); mà ngược lại còn ủng hộ người Pháp quay trở lại tái chiếm Việt Nam. Ông Hồ đã đưa cuộc đấu tranh giành độc lập đi theo đúng đường lối của nước Mỹ với sự trợ giúp của chính Hoa Kỳ. Vậy mà vì sao lúc này nước Mỹ lại quên đi những kỷ niệm tốt đẹp với Việt Minh trong chiến tranh, để chuyển sang ủng hộ kẻ thù của dân tộc Việt Nam là thực dân Pháp? Lời giải cho câu hỏi này nằm ở sự thay đổi tình hình thế giới sau chiến tranh. Khi ấy, sự bành trướng mạnh mẽ của cộng sản theo đà tiến của Hồng quân ở Đông Âu đã buộc Hoa Kỳ xoay chuyển đường lối đối ngoại của mình: từ bỏ kế hoạch trao trả độc lập cho Đông Dương để lôi kéo nước Pháp làm đồng minh trong cuộc chiến tranh lạnh chống phe cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Thế là ông Hồ bị người Mỹ bỏ rơi, và bước đi cuối cùng của ông đã bị chặn đứng.

 Trong bữa dạ tiệc tiễn người bạn chiến đấu cũ của mình là thiếu tá Archimedes Patti về nước, Hồ Chí Minh đã tâm sự rằng: “Nếu Mỹ chỉ cần dùng ảnh hưởng của mình đối với De Gaulle thì cũng có thể đạt được một thỏa hiệp tạm thời ở Việt Nam mà trong đó không chỉ riêng Pháp mà tất cả các các nước bạn bè đều có lợi từ nền độc lập của Việt Nam”. Lời tâm sự đó chứa đựng nỗi niềm cay đắng của ông Hồ đối với đất nước mà mình đã gửi gắm trọn niềm tin và hy vọng. Thất bại ở bước đi cuối cùng của Hồ Chí Minh đã tước đoạt của nước Việt Nam DCCH một cơ hội vàng để giành được độc lập tự do theo những giá trị về nhân quyền của thế giới văn minh; đẩy dân tộc ta vào hai cuộc chiến tranh đẫm máu trong suốt 30 năm, rồi kết thúc bằng một đất nước thống nhất theo khuôn mẫu “Trại súc vật” của CNCS được mang tên Cộng hòa XHCN Việt Nam. Không ai ngờ được rằng vận mệnh của một dân tộc cũng có thể phát biểu theo cách của Napoleon: “Từ tương lai tươi sáng đến hiện thực đen tối chỉ có một bước!”.

 Cái bước bi thảm ấy không phải do sai lầm của Hồ Chí Minh, mà lại do hai cường quốc dân chủ là Pháp và Mỹ gây ra; và sai lầm của hai cường quốc ấy không chỉ mang lại thảm họa cho dân tộc Việt Nam, mà còn làm tổn hại to lớn cho chính họ với thất bại nặng nề trong cả hai cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau khi cuốn cờ rút khỏi nước ta, cả người Pháp và người Mỹ đều phải hối tiếc về sai lầm của họ trong quan hệ với Hồ Chí Minh trước ngày chiến tranh bùng nổ. Trong cuốn hồi ký chứa đầy giá trị lịch sử nhan đề “Why Vietnam?”(Tại sao Việt Nam?), Achimedes Patti đã ghi lại lời tâm sự trên của ông Hồ để khẳng định rằng “Chỉ có Hồ Chí Minh mới giữ được ngọn đuốc độc lập bừng cháy trong trái tim và khối óc những người Việt Nam, cộng sản cũng như không cộng sản; và duy nhất chỉ có ông đã trở thành hiện thân của chủ nghĩa quốc gia Việt Nam-một Washington Việt Nam.” Vì thế,  “thật đáng tiếc là chính đất nước chúng ta [tức Hoa Kỳ] đã không nhìn nhận cho hết thực tế này và đã không vạch ra được một phương hướng có thể đáp ứng lại những quyền lợi tối cao của chúng ta”, nên “đã hoàn toàn gạt bỏ mọi hành động của chính phủ Mỹ trong việc thăm dò các khả năng mở được đường tới chính phủ Hồ Chí Minh”.

 

 Trước họa xâm lăng của thực dân Pháp với sự đồng lõa của Hoa Kỳ, không còn con đường nào khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến chống Pháp. Đáp lời kêu gọi của vị Cha già dân tộc, toàn dân Việt Nam nhất tề đứng lên anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược mà không nhận được bất cứ sự trợ giúp nào từ thế giới bên ngoài. (Ba tôi cùng các bạn bè trí thức của ông đã theo Chính phủ lên Việt Bắc tham gia kháng chiến với tinh thần như vậy). Cho đến khi ĐCS Trung Quốc giành được chính quyền ở Trung Hoa lục địa, Hồ Chủ tịch liền quyết định tiến một bước mới: tìm kiếm sự viện trợ của các đồng chí cộng sản cũ của mình ở Trung Quốc và Liên Xô. Chuyến công du bí mật đầu năm 1950 của Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông, rồi cùng với Mao sang Mátxcơva gặp Stalin đã thành công; với kết quả là Việt Nam DCCH được công nhận là thành viên của phe XHCN, đồng thời viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô được chuyển cho Việt Nam kháng chiến chống Pháp như là một bộ phận của cuộc chiến tranh lạnh chống phe TBCN do Mỹ đứng đầu.

 Ai cũng biết rằng viện trợ của hai nước lớn trong phe XHCN đã giúp cho quân ta giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ để kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp bằng Hiệp nghị Genève lập lại hòa bình trên đất nước chia đôi với Việt Nam DCCH ở miền Bắc và Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam.

 Nhưng có điều chẳng mấy ai biết được là: Hồ Chí Minh đã phải trả giá như thế nào để có được những sự viện trợ này? Văn bản về những cam kết của ông Hồ với Mao và Xít (Ta Lin) trong chuyến công du bí mật ấy vẫn mãi mãi nằm trong bí mật. Nhưng những gì diễn ra sau chuyến đi quan trọng ấy của ông, cùng vài bức thư mà ông bí mật gửi cho Stalin được phát hiện, đã phơi bày tất cả sự thật.

Trước hết, Hồ Chí Minh phải từ bỏ chủ nghĩa dân tộc theo hệ tư tưởng nhân quyền, để trung thành với chủ nghĩa cộng sản theo hệ tư tưởng đấu tranh giai cấp. Theo đó, ĐCS ra công khai tại Đại hội lần thứ hai của Đảng (tháng 2-1951) với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm đường lối lãnh đạo. Từ đó, Hồ Chủ tịch phải thiết lập bộ máy nhà nước chuyên chính vô sản theo mô hình của Liên Xô và Trung Quốc: giải tán Việt Minh và xóa bỏ Hiện pháp 1946 để Đảng nắm độc quyền lãnh đạo nhà nước; tiến hành “chỉnh đốn tổ chức” để loại khỏi bộ máy nhà nước những nhân sĩ trí thức không đảng và những người có lý lịch liên quan đến các tầng lớp thượng lưu xã hội; chuyển Quân đội quốc gia (tức Vệ quốc đoàn) thành “Quân đội nhân dân” của Đảng và thanh lọc bộ máy chỉ huy quân đội theo “lập trường giai cấp”; áp dụng quan điểm “văn nghệ phục vụ chính trị” trong mọi hoạt động văn hóa-nghệ thuật. Hơn nữa, Hồ Chí Minh phải tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội bằng vũ lực (với cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” tiêu diệt hàng vạn người bị quy là “địa chủ”, tịch thu ruộng đất tài sản của họ chia cho dân bần cố). Ngoài ra, cộng sản Việt Nam còn phải gánh vác thêm “nghĩa vụ quốc tế” ở Đông Dương với cộng sản Lào và Cao Miên để hợp thành liên minh chiến đấu Việt-Miên-Lào (tức là đưa toàn cõi Đông Dương vào cuộc chiến chống Pháp).

 Sự cam kết thể hiện qua thực tiễn trên đã quá đủ để nhà cách mạng dân tộc Hồ Chí Minh trở về với thân phận một nhân vật cộng sản cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng các cấp trên là Mao Trạch Đông và Xít Ta Lin. Khi ấy, đại biểu Nam Bộ tại Đại hội Đảng là Trần Văn Giàu đã phản đối việc nêu khẩu hiệu “Tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ Chủ tịch” làm đường lối của Đảng. Ông chất vấn: trình độ lý luận của Hồ Chí Minh “ăn đứt” Mao Trạch Đông; vậy thì cớ sao Đảng ta lại phải đặt “tư tưởng” của Mao lên trên “tác phong” Hồ Chủ tịch? Nhưng ông đã được trả lời rằng: Bác Hồ không có tư tưởng riêng, mà chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm “kim chỉ nam” cho hành động! Rồi chính Bác nhấn mạnh: Stalin và Mao Trạch Đông là những lãnh tụ “không bao giờ sai”. Từ đó, cả nước phải treo chân dung ba vị lãnh tụ là Stalin-Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông. Trần Văn Giàu bị cách chức, còn nhà thơ Tố Hữu đã được dịp để ca ngợi mối quan hệ mật thiết giữa Bác của ta với Bác của Tàu như sau:

 

Bác Mao nào phải đâu xa,

Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao!

 

Hình ảnh vị Cha già dân tộc đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trong ánh nắng Ba Đình với lời lẽ đầy tình nghĩa “tôi nói, đồng bào nghe rõ không?” đã mãi mãi chìm vào quá khứ. Thay vào đó là một Bác Hồ đã viết bài báo “Địa chủ ác ghê” (ký bằng mật danh “C.B.”) để mở đầu cuộc CCRĐ bằng vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm (người đã dành cả điền sản, tiền bạc và con cái mình hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng của Việt Minh); rồi bịt râu hóa trang bí mật vi hành để chứng kiến các đồng chí của mình hành hình man rợ người nữ ân nhân cách mạng ấy. Thì ra những điều khủng khiếp về CCRĐ với những cuộc “chỉnh huấn” kinh dị mà tôi đã được mắt thấy tai nghe từ thời thơ ấu trên đất tỉnh Thanh, thêm cả cái chết bi thảm của em Tuấn tội nghiệp của tôi, đều có chung thủ phạm gây ra là “Ba vị lãnh tụ” mà tôi đã từng cố vẽ chân dung từng vị sao cho thật đẹp để được nghe người lớn ngợi khen! Riêng trường hợp Hồ Chí Minh, những ai hiểu rõ sự thật cũng có thể phát biểu theo cách của Napoleon: “Từ vị cứu tinh dân tộc đến tên tội phạm quốc gia chỉ có một bước”.

 Tuy nhiên, phải nhiều năm sau tôi mới nhận ra sự thật trớ trêu đó; còn khi đang học và trong suốt những năm đầu làm nghề dạy học của mình, tôi vẫn cứ đinh ninh rằng Cha già dân tộc luôn luôn vĩ đại!

 

Các Bài viết khác