NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 10, PHẦN 3

( 16-05-2016 - 03:55 PM ) - Lượt xem: 630

Mãi đến hơn chục năm sau, khi đọc được những nguồn tư liệu mới, tôi mới dần dần nhận ra tình hình thực tế không tốt đẹp như vậy. Rồi hơn một chục năm nữa, khi tiếp cận được với những tài liệu lưu trữ của ĐCS (bônsêvích) Liên Xô được giải mật và đọc được nhiều sách từng bị cấm lưu hành, tôi mới biết vì sao người ta nói rằng “Để xây dựng thiên đường CNXH, Stalin đã khởi đầu từ địa ngục”.

3. Ánh sáng Cách mạng Tháng Mười

 

 Khóa trình LSTG Hiện đại mở đầu bằng chương “ Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga (1917-1920)”. Được học chương này đúng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thắng lợi của cuộc Cách mạng vĩ đại đó (7/11/1917-7/11/1967), chúng tôi cảm thấy rất vinh dự. Người giảng dạy cho chúng tôi là thầy Nguyễn Anh Thái, một cán bộ giảng dạy lâu năm đã từng du học ở Trung Quốc. Có tầm vóc cao lớn với vầng trán cao và mũi cao mắt sáng, trông thầy hơi giống chân dung của Plekhanov - người truyền bá chủ nghĩa Mác vào nước Nga. Bằng giọng nói mạnh mẽ, thầy giảng bài rất nhiệt tình và cuốn hút sinh viên. Chỉ tiếc rằng cuốn giáo trình “Lịch sử thế giới hiện đại” mang tên 3 tác giả Nguyễn Lam Kiều-Nguyễn Anh Thái-Nguyễn Xuân Trúc chưa phải là một công trình sử học hoàn chỉnh, mà chỉ dừng lại ở dạng đề cương chi tiết với rất nhiều mục lớn mục nhỏ và gạch đầu dòng; bởi thế mà văn phong của nó rất thô sơ và không thể hấp dẫn người đọc.

 Đây là chương quan trọng nhất trong cả khóa trình, bởi vì mọi lý luận về cách mạng XHCN của Lênin đều được thể hiện trong cuộc Cách mạng Tháng Mười để soi sáng cho phong trào cộng sản quốc tế mãi về sau. Chính vì vậy mà học chương này rất khó và  phải tốn nhiều công sức. Ngoài cuốn giáo trình kém chất lượng nói trên, tôi phải đọc nhiều tài liệu tham khảo từ bộ “Lênin Toàn tập”; và đặc biệt ham thích tác phẩm “Mười ngày rung chuyển thế giới” của nhà báo cộng sản Mỹ John Reed (Jôn Rít) qua bản dịch sang tiếng Việt. Một loạt tác phẩm văn học viết về cuộc cách mạng này (và đã được dựng thành phim) cũng giúp tôi hình dung khá rõ về con người với các sự kiện diễn ra trong đó: bộ ba tiểu thuyết “Con đường đau khổ” của Aleksey Tolstoy; ba vở kịch liên hoàn của Nikolai Pogodin là “Người cầm súng”, “Đồng hồ chuông Điện Kremli”“Khúc thứ ba bi tráng”; các tiểu thuyết “Sông Đông êm đềm” của Mikhail Sholokhov, “Thép đã tôi thế đấy” của Nikolai Ost’rovski…

 Với những nguồn thông tin đó, tôi đã hiểu quá trình phát triển của cách mạng Nga. Sự khủng hoảng của Đế Quốc Nga trong Chiến tranh thế giới đã làm bùng nổ cuộc Cách mạng Dân chủ Tư sản Tháng Hai 1917 lật đổ chế độ Nga Hoàng, lập nên một nước Nga “tự do nhất trong số các nước tham chiến” (theo lời Lênin). Từ đó, tất cả các đảng phái đã công khai hoạt động trên chính trường để xây dựng chính quyền mới: các đảng phái tư sản lập nên chính phủ Lâm thời; trong khi các đảng Xã hội Cách mạng, Mensêvích và Bônsêvích được quần chúng cách mạng bầu vào Xô Viết Công-Nông-Binh để đại diện cho họ. Trước tình hình đó, Lênin từ Thụy Sĩ về nước và vạch ra đường lối chiến lược mới cho đảng Bônsêvích: chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng XHCN giành chính quyền về tay giai cấp vô sản.

 Đường lối đó đã đưa đảng Bônsêvích vào cuộc đấu tranh không chỉ chống chính phủ Lâm thời tư sản, mà còn đương đầu với tất cả các đảng phái khác trong nền dân chủ Nga mới ra đời. Vì thế, ngay cả các ủy viên trung ương đảng như Zinoviev và Kamenev cũng phản đối Lênin, đòi Bônsêvích phải thỏa hiệp với các đảng phái khác trong Xô Viết. Tuy nhiên, bằng sách lược mềm dẻo và cách tuyên truyền vận động vô cùng khôn khéo của Lênin với các khẩu hiệu “Hòa bình! Ruộng đất! Bánh mì!”“ Tất cả chính quyền về tay Xô Viết!”, đảng Bônsêvích đã đẩy dần các đảng phái khác ra khỏi Xô Viết để chiếm đa số trong đó, rồi đưa Xô Viết ra đối đầu với chính phủ Lâm thời. Khi thời cơ đến, Lênin quyết định khởi nghĩa vũ trang đánh đổ chính phủ. Quyết định này lại gặp sự phản đối của các đồng chí muốn giành chính quyền bằng đường lối hòa bình thông qua nghị trường. Nhưng đa số trong trung ương đảng đã ủng hộ Lênin; và cuộc khởi nghĩa vũ trang của Hồng Vệ binh và binh lính cách mạng (do Trotsky chỉ huy dưới sự giám sát của Lênin) đã bùng nổ trong đêm 24 rạng ngày 25-10 theo lịch Nga cũ (tức đêm 6 rạng ngày 7-11-1917 theo lịch quốc tế hiện hành). Cuộc khởi nghĩa này không chỉ lật đổ chính phủ Lâm thời, mà còn xóa bỏ luôn nền dân chủ “tư sản” mà nước Nga vừa giành được, để lập nên một chế độ chính trị mới được gọi là Cộng hòa Xô Viết do đảng Bônsêvích độc quyền lãnh đạo, đưa đất nước tiến lên CNXH theo hệ tư tưởng cộng sản của Marx. Thế là chủ nghĩa cộng sản từ chỗ chỉ là một “bóng ma ám ảnh châu Âu” (như Marx và Engel viết trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”) đã biến thành hiện thực dưới chế độ Cộng hòa Xô Viết (do Lênin sáng lập).

 John Reed viết: “Lý do độc nhất của sự thắng lợi của những người Bônsêvich là đã thực hiện những nguyện vọng rộng lớn và giản đơn của các tầng lớp cơ bản nhất trong nhân dân, kêu gọi họ phá tan cái cũ và sau đó, trong khói bụi của sự sụp đổ này, cộng tác với họ để dựng lên cái mới …”. Khi ấy Reed chưa biết rằng cuộc cách mạng này đã dẫn đến một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài trong 3 năm (1918-1920) giữa Hồng quân của đảng Bônsêvich một bên, với bên kia là quân Bạch vệ và tất cả các thế lực chống cộng sản của nước Nga được thế giới bên ngoài hỗ trợ; làm cho 17 triệu người bị giết ở cả hai bên thù địch (tức là 10% dân số Nga, chưa kể 2,5 triệu người chết trong chiến tranh thế giới). Chính Lênin cũng bị bắn trọng thương và đất nước bị tàn phá tan hoang chỉ còn lại 14% sản lượng công nghiệp và 50% sản lượng nông nghiệp so với trước cách mạng. Quả thật, mục tiêu mà bài Quốc tế ca vạch ra đã đạt được:“Chế độ xưa, ta mau phá sạch tan tành!”.

 Từ đó, Cách mạng Tháng Mười được coi là sự kiện trọng đại mở đầu cho thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới; và ánh sáng của nó chiếu rọi khắp năm châu để thức tỉnh giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức tiến theo chủ nghĩa Mác- Lênin, trong đó có dân tộc ta do Đảng-Bác lãnh đạo.

 Được học như thế nên tôi cũng tin tưởng như thế. Khi thầy cho thảo luận về “Chiến lược và sách lược của Đảng Bônsêvích trong Cách mạng Tháng Mười”, tôi nhận thấy đường lối vô cùng sáng suốt của Lênin đã dẫn tới thắng lợi của cuộc cách mạng XHCN, mặc dù  Plekhanov có nói rằng “Lênin mê sảng”. Khi ấy, Cách mạng Tháng Mười đã gây nên rất nhiều cảm xúc, khiến tôi nổi hứng để dịch và đặt lời Việt cho mấy ca khúc cách mạng đương thời, và đã sáng tác bài thơ “Rạng Đông” theo tên của chiếc Tuần dương hạm đã bắn đại bác vào Cung điện Mùa Đông trong cuộc khởi nghĩa ở thủ đô Pêtơrôgrat để mở đầu cho sự ra đời của thời đại mới:

 

                               Sông Nêva đường bệ - như nước Nga đường bệ

                               Gió nhẹ xô mặt sóng lao xao

                               Một con tàu tung bọt trắng ào ào

                               Đưa nước Nga tiến vào chương sử mới.

 

                               Cung Mùa Đông lạnh ngắt

                               Từng phòng cửa đóng chặt

                               Nhưng cuộc đổi thay rung trời chuyển đất

                               Đã bắt đầu!

 

                               Bóng con tàu chiếu đèn pha rực sáng

                               Là bóng ma ám ảnh bọn nhà giàu

                               Đã từ lâu

                               Giờ bắt đầu nhả đạn!

 

                               Ầm!...- tư bản!...

                               Ầm!...- Nga Hoàng!...

                               Ầm!... – tan hoang!...

                               Ầm!... – sụp đổ!...

 

                               Bùng lên cơn giông tố

                               Chất chứa trong toàn Nga!

                               Buổi bình minh rực đỏ

                               Lửa đạn reo đón chờ…

                               …

 Nhưng rồi giữa đống hoang tàn sau cuộc nội chiến, chính Lênin đã phải tỉnh ngộ rằng không thể xây dựng chế độ mới bằng cách phá sạch chế độ xưa; ngay cả “sáng kiến vĩ đại” về “Ngày Thứ bảy Cộng sản” lao động với tinh thần hy sinh không hưởng thù lao cũng không cứu được sự diệt vong của đất nước đã tan nát với 5 triệu người chết đói. Bởi thế, Lênin đã phải đề ra “Chính sách Kinh tế Mới” (Novaya Ekonomicheskaya Politika-NEP) để bước đầu phục hồi CNTB; rồi trước khi qua đời đã dặn rằng “ Nước Nga XHCN sẽ nảy sinh từ nước Nga của Chính sách Kinh tế Mới”. Nhưng người kế nhiệm ông là Stalin đã không tuân theo lời dặn đó.

 

Ngày 23-9, trong khi đợt gió mùa Đông Bắc đầu tiên thổi về mang theo mưa rả rích, tôi nhận được thư của má thông báo: má đã chuyển công tác và cắt chuyển hộ khẩu của gia đình từ Hải Phòng về Hà Nội; hiện giờ má và em Dũng đã về ở với ba trong khu tập thể Trường ĐHSP Hà Nội; em Dũng đã lên học lớp 3 tại trường Cấp I Dịch Vọng (Từ Liêm-Hà Nội). Thế là tôi cùng gia đình đã chính thức trở thành người Hà Nội, thật vinh dự biết bao! Ấy vậy nhưng tôi không vui mà lại buồn. Tôi cảm thấy mình như một kẻ tha phương không quê hương bản quán mà cứ nay đây mai đó: từ Tuyên Quang về ấp Hà Thanh, từ ấp về thị xã Thanh Hóa, từ Thanh Hóa ra Hải Phòng, và bây giờ từ Hải Phòng lại lên Hà Nội. Lưu giữ tình cảm thắm thiết với Hải Phòng, tôi không biết Hà Nội có coi mình là một con dân của nó không, hay chỉ cho mình tá túc như một kẻ lạc loài? Điều an ủi duy nhất với tôi là: từ nay mình đã trở thành đồng hương của Thiên Hương với Trọng Cường.

Để chuẩn bị cho Hội diễn Kỷ niêm 50 năm Cách mạng Tháng Mười, Khoa chỉ định tôi làm Trưởng ban Văn nghệ (thay cho Lê Bào đã tốt nghiệp ra trường). Tự biết khả năng của mình không bằng người “tiền nhiệm”, nhưng tôi vẫn nhiệt tình thực hiện nhiệm vụ được giao dưới sự chỉ đạo của chính thầy Thái.

Thoạt đầu, tôi định tổ chức Hội diễn thật ấn tượng, bằng cách cho một số bạn nam hóa trang thành các Hồng Vệ binh (còn gọi là Xích Vệ), thủy binh và binh lính cách mạng như trong cuộc cách mạng Nga, để họ cầm súng đứng trước sân kho HTX chào mừng bà con trong xã vào xem biểu diễn. Nhưng rồi gặp nhiều khó khăn trong việc chế tác các bộ trang phục lịch sử dùng để hóa trang, nên dự định này không thành. Thay vào đó, tôi thiết kế phông nền của sân khấu bằng những hình tượng đặc trưng của Cách mạng Tháng Mười: chiến hạm Rạng Đông chiếu đèn pha qua đêm tối và Lênin đứng chỉ tay về phía tương lai. Chủ đề của hội diễn lại phù hợp với sự ham thích nhạc Nga của mình, nên tôi dễ dàng chọn ra những ca khúc thích hợp để trao cho các khối lớp tập luyện. Các tác phẩm đương thời mà Hồng Vệ binh và Hồng quân đã hát như “Dan Prikaz” (Lệnh đã ban ra), “Revoliutsionnaiya Pesnhiya” (Bài ca Cách mạng) do chính tôi đặt lời Việt sẽ là những tiết mục mở đầu cuộc biểu diễn; tiếp đó là những ca khúc thịnh hành của Liên Xô hiện tại. Kèm theo là những bài hát đầy khí thế chiến đấu của nước ta, để cho thấy cách mạng Việt Nam là sự kế tục truyền thống Cách mạng Tháng Mười Nga. Về múa, tôi và Ngọc Tấn thống nhất diễn lại điệu “Chàm Rông” vốn được khán giả ưa thích, thêm điệu “Múa hái rau” do Đặng Minh và Thu Vân (năm thứ tư) biểu diễn. Dựng lại vở kịch “Nhà 300” khi tác giả kịch bản kiêm diễn viên chính Võ Xuân Đàn đã rời khoa đi nhận công tác, tôi phải đề nghị Hà Trọng Cường đóng thay. Hóa ra cậu bạn tôi cũng rất có khiếu văn nghệ: không chỉ đóng rất tốt vở kịch này, Cường còn khuấy động được bầu không khí vui tươi của khán giả từ các thôn trong xã ngồi chật ních sân kho HTX Phí Xá bằng các ca khúc vui nhộn “Lỳ và Sáo” (của Văn Chung), “Hát mừng các cụ dân quân” (của Đỗ Nhuận).

 Cuộc hội diễn kỷ niệm sự kiện trọng đại trong lịch sử nhân loại đã thành công tốt đẹp. Ánh sáng Cách mạng Tháng Mười dường như đã chiếu rọi suốt nửa thế kỷ qua cho đến tận thôn Phí Xá hẻo lánh này. Ánh sáng ấy sẽ còn chiếu mãi, cho đến khi cuộc cải tổ CNXH của Gorbachov thất bại dẫn đến sự sụp đổ tan tành của Liên Bang Xô Viết (tức Liên Xô)-thành quả của Cách Mạng Tháng Mười; để rồi trong khói bụi của đống đổ nát này, Liên Bang Nga thoát ra và trở về với những gì mà người Nga đã đạt được từ cuộc Cách Mạng Tháng Hai năm 1917.

 

Cuốn giáo trình LSVN Hiện đại đứng tên hai tác giả là Ngọc Anh-Thục Nga, nhưng chỉ có thầy Bạch Ngọc Anh giảng dạy nó cho chúng tôi (có lẽ cô Trần Thục Nga bận làm Bí thư Đảng ủy Khoa nên không có thời gian dạy học). Là một người đàn ông trung niên tầm thước nói giọng xứ Quảng của dân miền Nam tập kết, thầy có gương mặt khá điển trai với mũi cao mắt sáng và mái tóc quăn điệu đàng cùng với chiếc răng vàng  nổi bật. Lúc bấy giờ Trường có chủ trương đặt thêm chức vụ “chủ nhiệm lớp” để cán bộ giảng dạy nắm sinh viên chắc hơn, nên thầy Ngoc Anh  vừa giảng dạy lại vừa làm chủ nhiệm lớp Sử 3B của chúng tôi.

 Khóa trình LSVN Hiện đại được mở đầu từ thời kỳ diễn ra hai trào lưu cách mạng theo hai hệ tư tưởng khác nhau phát triển song song, cho đến năm 1930 khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng thất bại (chấm dứt vai trò cách mạng theo hệ tư tưởng tư sản) và Đảng Cộng Sản Đông Dương  được thành lập (để nắm độc quyền lãnh đạo cách mạng theo hệ tư tưởng vô sản tức chủ nghĩa Mác-Lênin). Việc Đảng ta ra đời (ngày 3-2-1930) đã đánh dấu bước ngoặt trọng đại của cách mạng Việt Nam (cũng như Cách mạng Tháng Mười là bước ngoặt trọng đại của cách mạng thế giới). Sự vĩ đại và thiêng liêng của Đảng với cờ đỏ búa liềm (được truyền từ Cách mạng tháng Mười sang) đã được trình bày qua thơ Tố Hữu, thơ Chế Lan Viên cùng nhiều thi sĩ khác, rồi qua nhạc của Đỗ Minh, của Phạm Tuyên và rất nhiều nhạc sĩ khác.

 Giai đoạn mới do Đảng ta lãnh đạo theo đường lối chiến lược “Phản Đế-Phản Phong” (chống đế quốc và phong kiến) đã bắt đầu bằng một phong trào cách mạng với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ-Tĩnh (1930-1931). Nêu khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ”, Đảng ta đã huy động quần chúng công-nông nổi lên “dần xương đế quốc, xẻo môi quan trường” để phá sạch tan tành chế độ xưa:

 

Trên gió cả cờ đào phất thẳng

Dưới đất bằng giấy trắng tung ra

Giữa thành một trận xông pha

Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng!

 

Bom và súng  của đế quốc-phong kiến đã nhấn chìm cuộc nổi dậy của dân nghèo giương cờ đỏ búa liềm trong biển máu; nhưng nhờ có phong trào này mà Đảng ta đã được công nhận là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản (QTCS) do Lênin thành lập và Stalin kế tục.

 Học về phong trào này, chúng tôi thấy Đảng ta đã theo đúng đường lối cách mạng của Lênin; ngoại trừ sai lầm “ấu trĩ” trong việc coi “trí” (tức trí thức) là đối tượng hàng đầu phải bị tiêu diệt. Tôi chỉ có chút băn khoăn về việc Đảng ta nhận định Xô Viết Nghệ-Tĩnh là “cuộc tổng diễn tập” cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám sau này: diễn tập sao lại có nhiều người chết đến thế (ngay cả Tổng Bí thư Đảng là đồng chí Trần Phú cũng bị bắt và chết trong tù)? Tôi cũng chưa thật hiểu tại sao cụ Phan Khôi lại bình luận sự kiện đó bằng thơ như thế này:

 

Ngồi buồn đốt đống lửa rơm

Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào

Khói bay lên tận thiên tào

Ngọc Hoàng phán hỏi: thằng nào đốt rơm?

 

Thực ra, Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng nổ quá muộn so với cao trào cách mạng thế giới (1918-1923). Do ảnh hưởng từ cách mạng Nga, cách mạng lan khắp châu Âu đã lật đổ Đế chế Đức và đập tan Đế quốc Áo-Hung, từ đó những người theo QTCS đã lập nên nước Cộng hòa Xô Viết Bavaria (ở Đức) và nước Cộng hòa Xô Viết Hungary theo khuôn mẫu nước Nga Xô Viết. Nhưng các nước Cộng hòa Xô Viết đó đều bị các chính phủ tư sản tiêu diệt, chỉ để lại di sản là các đảng cộng sản theo Quốc tế III. Thất bại trong  phong trào cách mạng vô sản ở phương Tây, Lênin chuyển sang phát động cách mạng ở phương Đông bằng bản “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”. Chính văn kiện này đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Lênin, tức là “đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản”- đúng như Bác Hồ đã tự viết về mình. Khi học về sự kiện này, chúng tôi đều hiểu đơn giản rằng: từ khi đến Mátxcơva tham gia QTCS, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một nhà Mác Xít-Lê Nin Nít trung thành với hệ tư tưởng đấu tranh giai cấp bằng bạo lực cách mạng; và sẽ áp dụng nó vào cách mạng Việt Nam.

 Mãi đến nhiều năm sau,  khi tiếp cận được với nhiều thông tin và sự kiện mới, tôi bỗng hiểu ra rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không đơn giản như vậy. Mặc dù đã tham gia QTCS, Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ vững chủ nghĩa yêu nước của mình mà chưa bao giờ cổ vũ cho cuộc đấu tranh giai cấp. Khi trào lưu thành lập các đảng cộng sản (ĐCS) lan tràn từ Âu sang Á, Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ thành lập “Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội”- một tổ chức đấu tranh cho độc lập dân tộc; mặc dù ông có đưa một số thành viên của nó sang Liên Xô theo học Trường Đảng Stalin. Chỉ đến khi những người đó trở về thì họ mới xúc tiến thành lập ĐCS. Ngay trong lúc thành lập Đảng, bản “Chính cương sách lược vắn tắt” của Nguyễn Ái Quốc vẫn nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giới hạn vấn đề đấu tranh giai cấp; trong khi bản “Luận cương Chính trị” do Trần Phú soạn thảo lại nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh giai cấp và coi nhẹ vấn đề dân tộc. Stalin hài lòng với Trần Phú và nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc “theo chủ nghĩa dân tộc”; do đó cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã bùng nổ theo đường lối của Trần Phú để trở thành bằng chứng cho sự trung thành của Đảng ta đối với QTCS.

 

 Stalin đã lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH của Liên Xô theo đường lối do chính ông vạch ra, bao gồm 2 sự nghiệp lớn là “Công nghiệp hóa XHCN”“Tập thể hóa nông nghiệp” qua các kế hoạch 5 năm. Khi học về công cuộc này, chúng tôi đều nhận thấy sự nghiệp công nghiệp hóa của Liên Xô đã thắng lợi nhờ tinh thần lao động hăng say của nhân dân theo khẩu hiệu “Lao động là vinh quang” với phong trào thi đua Stakhanốp (người thợ mỏ đã tăng năng suất của mình lên 14 lần) và với phong trào lao động tình nguyện của Đoàn Kômxômôn tức Thanh niên Cộng sản (họ đã xây dựng nên thành phố Kômxômôn trên sông Amua ở miền Viễn Đông hoang vắng như tiểu thuyết “Dũng cảm” của Vera Ketlinskaiya đã miêu tả). Chúng tôi cũng biết trong sự nghiệp tập thể hóa nông nghiệp đã diễn ra cuộc đấu tranh nhằm “tiêu diệt kulak như một giai cấp”, khiến cho toàn thể nông dân phải “suy nghĩ trên luống cày của mình” để từ bỏ tư tưởng tư hữu mà nộp đơn xin gia nhập các nông trang tập thể (như nhà văn Mikhail Sholokhov đã miêu tả qua bộ tiểu thuyết “Đất vỡ hoang” của ông).

 Đạt được những thành tựu vĩ đại trong các sự nghiệp đó, nên chỉ sau hai kế hoạch 5 năm (mà mỗi kế hoạch đều hoàn thành vượt mức trong 4 năm 3 tháng) thì Liên Xô đã hoàn thành công cuộc xây dựng CNXH và thành tựu vĩ đại này được ghi nhận bằng bản Hiến Pháp 1936. Khi ấy, thế giới tư bản vừa trải qua cuộc đại khủng hoảng kinh tế (1929-1933), còn Liên Xô lại trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ 2 trên thế giới (chỉ sau Mỹ). Điều đó chứng tỏ chế độ XHCN ưu việt hơn chế độ TBCN và đời sống của nhân dân Liên Xô đã trở nên vô cùng sung sướng, như bài “Ca ngợi Tổ quốc”  (Pesnhiya o Rodinhe) đã miêu tả:

 

                              Bầu trời Âu, Liên Xô là nơi biết bao người

                              Cùng đoàn kết kiến thiết quốc gia vững bền

                              Người công nhân trên khắp thế gian đều trông về

                              Ôi cuộc đời phóng khoáng biết bao người mơ…

 

Chính vì vậy mà ngay từ thời thơ ấu tôi đã được nghe và được hát rằng “Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa”, để rồi ngày càng tin chắc rằng đất nước ấy là một thiên đường trên trái đất.

Mãi đến hơn chục năm sau, khi đọc được những nguồn tư liệu mới, tôi mới dần dần nhận ra tình hình thực tế không tốt đẹp như vậy. Rồi hơn một chục năm nữa, khi tiếp cận được với những tài liệu lưu trữ của ĐCS (bônsêvích) Liên Xô được giải mật và đọc được nhiều sách từng bị cấm lưu hành, tôi mới biết vì sao người ta nói rằng “Để xây dựng thiên đường CNXH, Stalin đã khởi đầu từ địa ngục”. Công nghiệp hóa đã tiến hành bằng lao động cưỡng bức rẻ mạt được trả công rất thấp hoặc làm việc không công và chỉ được động viên bằng các danh hiệu thi đua hay phong trào “tình nguyện”, thậm chí 7 triệu người đã bị bắt vào các trại lao động khổ sai; còn thành quả đạt được thì luôn được thổi phồng so với thực tế. Tập thể hóa nông nghiệp đã diễn ra gay go quyết liệt đến mức chính quyền phải huy động Hồng quân để tiêu diệt kulak (tức phú nông); gần 4 triệu kulak và những nông dân chống tập thể hóa bị bỏ tù và lưu đày đến các vùng hoang vu (phân nửa trong số đó đã chết vì lao động khổ sai trong điều kiện sống nghiệt ngã); 6 triệu nông dân chết đói vì mùa màng bị tàn phá; hàng chục triệu gia súc (bò, lợn, cừu…) bị nông dân giết hại trước khi họ nộp đơn xin gia nhập nông trang tập thể.

 Cuộc đấu tranh về đường lối xây dựng CNXH đã diễn ra vô cùng gay gắt ngay trong ĐCS (bônsêvích) Liên Xô. Stalin đã buộc tội những đảng viên bất đồng chính kiến với mình là “chống Đảng” và là “kẻ thù của nhân dân” để thẳng tay khủng bố và tàn sát họ qua những cuộc “thanh Đảng”. Trên 681.000 đảng viên đã bị xử tử, trong đó bao gồm các nhà lãnh đạo đảng Bônsêvích từ hồi Cách mạng tháng Mười như Zinoviev, Kamenev, Sokolnikov, Bukharin, Rykov, Smilga… Riêng Trotsky (người đã thành lập Quốc tế IV tức “Đệ Tứ Quốc Tế” chống Stalin) đã trốn ra nước ngoài, nhưng cũng bị điệp viên của Stalin phát hiện và dùng búa đập vỡ sọ chết. Hơn 35.000 sĩ quan Hồng quân bị tử hình hoặc tù đày; trong số bị xử tử và tù đến chết có 3 nguyên soái (Tukhatchevsky, Egorov và  Blyukher), 226 tướng lĩnh từ cấp tư lệnh tập đoàn quân, quân đoàn đến sư đoàn và hàng trăm chính ủy cùng cấp. Rất nhiều nhà lãnh đạo các ĐCS ngoài Liên Xô đã bị truy nã và thủ tiêu. Chính Nguyễn Ái Quốc cũng nằm trong tầm ngắm thanh trừng của Stalin (nhiều lần đồng chí Nguyễn đã phải viết kiểm điểm về việc xa rời lập trường giai cấp); nên việc Nguyễn Ái Quốc có hành tung bí mật và liên tục thay tên đổi họ ở ngoài biên giới Liên Xô không chỉ là để thi hành nhiệm vụ của QTCS, mà còn để bảo vệ sinh mạng cho chính mình.

 Rõ ràng là cánh đồng hoa mà nhân dân Liên Xô vui hát trên đó đã được tưới bón bằng quá nhiều xương máu. Những người chết không thể nói gì được nữa; còn những người sống sẽ phải thích nghi với chế độ mới mà phấn đấu hy sinh cho lý tưởng cộng sản. Để các thế hệ mai sau tuyệt đối trung thành với Đảng (tức là với lãnh tụ tối cao), cả một hệ thống tổ chức vô cùng chặt chẽ đã được thành lập nhằm đưa toàn bộ xã hội vào khuôn phép: từ Đội Nhi đồng Tháng Mười (có huy hiệu Lênin ngày bé) qua Đội Thiếu niên Tiền phong (quàng khăn đỏ và đeo huy hiệu ngọn lửa đỏ với dòng chữ “vsegda gatov” tức “luôn luôn sẵn sàng”) đến Đoàn Thanh niên Cộng sản (mang thẻ Đoàn và đeo huy hiệu Kômxômôn) rồi vươn lên Đảng (với thẻ Đảng được coi là vô cùng thiêng liêng). Chính là dựa trên hệ thống này mà thiên đường CNXH đã hình thành. Trong thiên đường ấy, chân lý duy nhất thuộc về Đảng, được truyền qua hệ thống tổ chức nói trên để toàn dân thực hiện mọi việc theo sự chỉ đạo của Đảng mà lập công dâng Đảng; mọi tài sản cũng là của Đảng (tức “sở hữu toàn dân”“sở hữu tập thể”), được Đảng dùng để nuôi sống dân theo các tiêu chuẩn do Đảng quy định. Vì thế, thiên đường này đã được những người có trí tuệ sâu sắc mệnh danh là “CNXH (hay CNCS) trại lính”. Quá thất vọng với chế độ chính trị mà mình từng nồng nhiệt ca ngợi, những nhà thơ lớn như S. Esenin (Exênhin), V. Mayakovsky (Maiacốpski)…đã phải tự tử; còn nhà văn bônsêvích danh tiếng A. Fadeyev (Phađêép), tác giả cuốn “Đội cận vệ thanh niên” mà tôi đã từng ham thích, cũng  phải tự chấm dứt đời mình vì bị lương tâm dày vò, do ông đã góp phần kết liễu sự nghiệp của nhiều đồng nghiệp để lập công dâng lên Stalin, mà vẫn bị thất sủng với lãnh tụ vĩ đại. Nhưng cũng có những nhà văn kiên cường chịu đựng mọi tai ương, lặng lẽ sáng tác để phơi bày sự thật qua các tác phẩm của mình đưa ra nước ngoài xuất bản như B. Pasternak (với tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago”) hay A. Solzhenitsyn (với các tiểu thuyết “Tầng đầu địa ngục”, “Trại Ung thư”, “Quần đảo ngục tù”…)…

 Nhiều năm sau tôi mới được đọc cuốn tiểu thuyết “Trại súc vật” ( “Animal farm”) của George Orwell, để thán phục cách miêu tả tuyệt hay của nhà văn Anh chuyên viết truyện giả tưởng này về thiên đường CNXH do cuộc Cách mạng tháng Mười Nga tạo nên.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác