NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 10, PHẦN 2

( 06-05-2016 - 10:42 AM ) - Lượt xem: 593

Nhìn ngắm từng chi tiết nơi ngôi nhà thân yêu và khuôn viên của nó, tôi càng cảm thấy phi lý khi mình sắp phải rời bỏ nó. Chỗ nào cũng đầy ắp kỷ niệm khiến nó gắn chặt với tâm hồn tôi. Cây phượng nhú quả non bên mấy chùm hoa đỏ cuối mùa vẫn đứng đó với dấu vết hai chữ lồng “Q-T” chưa phai mờ hẳn

2. Thành phố xinh xắn mến yêu ơi…

 

Một lớp học cấp 1 của Tp.Hải Phòng sơ tán về huyện An Lão, ngoại thành Tp.Hải Phong trong Chiến tranh phá hoại 1964-1973

lẽ vì bão mà máy bay Mỹ phải giảm cường độ hoạt động, nên mấy hôm nay cả Hà Nội và Hải Phòng không có báo động phòng không. Nhờ đó mà gia đình chúng tôi lại được hưởng những giờ phút yên vui trong ngôi nhà đầm ấm tại thành phố Cảng. Ba vẫn bám trụ ở nhà, má và 2 em tôi đã về nhà nghỉ hè từ trước, nay thêm tôi thế là đủ mặt. Nhưng tôi đã cảm nhận được rằng gia đình chúng tôi sắp có chuyển biến lớn.

 Em Hùng vừa tốt nghiệp lớp 10 tại Trường Phổ thông Cấp 3 An Lão, đã làm hồ sơ xin vào Đại học Bách khoa Hà Nội (hai anh em tôi theo 2 khuynh hướng khác nhau: tôi thích khoa học xã hội và nghệ thuật, còn Hùng thích khoa học tự nhiên-kỹ thuật). Nhưng quan trọng hơn là thông tin mới của ba: Bộ đã có quyết định phân chia ĐHSP Hà Nội  thành 3 trường nhỏ để thuận tiện cho việc quản lý trong hoàn cảnh chiến tranh, gồm có Trường ĐHSP Hà Nội I (với các khoa khoa học xã hội), Trường ĐHSP Hà Nội II (với các khoa khoa học tự nhiên) và Trường ĐHSP Ngoại Ngữ (với các khoa ngoại ngữ); trong đó chính ba được bổ nhiệm làm “Trưởng ban Phụ trách” (sẽ trở thành Hiệu Trưởng) Trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội. Thế tức là gia đình chúng tôi sắp phải rời xa thành phố cảng Hải Phòng để về thủ đô ngàn năm văn vật.

 Đã nặng tình với Thiên Hương người Hà Nội, nhưng khi về Hải Phòng thì tôi lại nhớ ngay đến cô láng giềng mà minh vẫn ấp ủ trong lòng. Vài ngày sau khi bão tan, nhìn sang khu tập thể trên gác nhà Misô, tôi mừng rỡ khi thấy tấm cửa sắt tại phòng ở của gia đình Thanh Tâm đã được kéo lên, chứng tỏ có người từ nơi sơ tán đã về. Rồi thấy bé Tùng (em Tâm) đứng bên cánh cổng sắt ra vào khu tập thể; tôi lập tức chạy sang gặp nó. Sau 2 năm không gặp, bé đã lớn lên nhiều nhưng vẫn thản nhiên trò chuyện với tôi như chưa hề có thời gian xa cách ấy:

 

-        Tùng ơi, chị Tâm có về không?

-        Đáng lẽ hôm nay chị ấy cũng về, nhưng rồi lại bảo mai mới đi!

-        Sao thế?

-        Hôm qua chị ấy buồn, bỏ không ăn cơm mà lại mắng em ăn vụng kẹo! Nhưng em có ăn vụng đâu…

-        Rồi sao nữa?

-        Đêm qua chị ấy ngồi đọc truyện rất lâu, còn em nằm trong màn. Tưởng em đã ngủ rồi, thế là chị ấy đứng dậy mở tủ lấy kẹo ăn. Em mách má, chị ấy lại còn khóc…

 

 Có tiếng cô Nhu từ trong nhà gọi ra, Tùng vội chạy vào với má. Câu chuyện rất “trẻ con” ấy của bé khiến tôi xúc động: Tâm vẫn hồn nhiên ngây thơ như hồi nào, mà lại có nỗi buồn đến mức quên ăn để rồi trút giận vào em mình và khóc. Liên tưởng nỗi buồn ấy có thể nảy sinh từ sự nhớ nhung mà em dành cho mình, tôi càng hy vọng rằng mình sắp được gặp lại em. Nhưng rồi ngay sáng hôm sau thì niềm hy vọng đó đã bị cắt đột ngột, khi tấm cửa sắt ở nhà Tâm đã lại sập xuống, và suốt nhiều ngày sau cũng chẳng thấy nó được kéo lên nữa. Tôi chỉ còn biết tự trách mình đã không tranh thủ hỏi bé Tùng về địa chỉ nơi sơ tán của Tâm; nhưng cũng lại phải tự hỏi mình: đã có Thiên Hương rồi, sao lại còn vương vấn với Thanh Tâm nhiều thế? Đó là một câu hỏi rất khó trả lời mà tôi cứ đeo đẳng mãi.

 

 Trước ngày ba tôi lên đường đi nhận nhiệm vụ mới, chú Trần Hoàn (Giám đốc Sở Văn hóa), chú Đặng Đình Khoa (trưởng phòng của Sở Giáo dục) và rất nhiều bạn bè đồng nghiệp đã đến thăm ông. Khi biết người sẽ thay thế ba tôi làm Giám đốc Sở là Phó Giám đốc Hoàng Xạ-nguyên trưởng Ty Giáo dục Kiến An, một số cán bộ Sở đã bày tỏ nguyện vọng được theo ba tôi sang cơ quan mới. Qua đó, tôi biết rằng ba mình được các đồng nghiệp và cộng sự quý mến biết nhường nào. Bạn đồng hương Nam Bộ là các bác Hồ Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Cương và Lâm Văn Nết (thuyền trưởng tàu biển “Hữu Nghị”) dành cho ba tôi một bữa “nhậu” chia tay đậm chất quê hương. Với một món “chả rán” đặc biệt do má tôi làm kèm theo bún, rau sống và nước chấm chua cay ngọt, bốn vị ngồi trong phòng khách liên tục nâng những ly rượu quốc doanh và trò chuyện rôm rả. (Sau đó tôi mới biết món đặc biệt này được chế biến từ nhau thai nhi do bác sĩ Cương lấy từ bệnh viện Việt-Tiệp mang đến, với lời giải thích rằng cái này rất bổ vì chính nó là nguyên liệu để điều chế thuốc bổ filatov). Cuộc nhậu chưa tàn thì còi báo động phòng không rú lên khiến mọi người phải bỏ chạy ra hầm trú ẩn: một đợt oanh tạc mới của không quân Mỹ đánh vào Hà Nội và Hải Phòng lại bắt đầu. Các nguồn tin cho biết: ngày 11-8 cầu Long Biên - nơi ô tô chở tôi với Thiên Hương vừa đi qua 10 ngày trước đó - đã bị bom Mỹ đánh trúng làm gãy đổ 3 nhịp, giao thông qua sông Hồng tạm thời bị gián đoạn.

Vô cùng lưu luyến với cảnh xưa người cũ nơi mảnh đất thân yêu, tôi đi thăm để chào từ biệt bác Khâm và gia đình anh Tín; thăm Triệu, Nguyệt và mấy bạn cũ có mặt tại thành phố lúc này. Nhìn qua những người hàng xóm láng giềng, tôi cảm thấy ghen tị với họ về một cuộc sống bình yên không rời khỏi thành phố quê hương. Bà Trẻ đã ngồi bán hàng dưới mái hiên nhà Misô không biết tự thuở nào, nay vẫn đang ngồi đó và mãi về sau cũng vẫn vậy; rồi chị Bình con gái bà và 2 đứa con chị tức cháu bà sẽ lại “kế nghiệp” bà ở chính chỗ ấy. Gia đình anh Thành cũng sống ở đây từ thời Pháp thuộc, do đó anh đã từng đi lính cho Pháp, rồi lấy vợ và trở thành thợ sửa chữa xe đạp kiêm chiến sĩ tự vệ dưới chế độ ta, còn hai con gái xinh đẹp của anh chị (cái Thái và cái Hòa) mãi mãi vẫn là gái Hải Phòng chính hiệu. Gia đình cụ Kính và anh Khái cũng cư ngụ nơi đây từ lâu lắm rồi, nay vẫn đang ở đây và chẳng có lý do gì khiến họ phải rời xa chốn này. Còn tôi không mong gì hơn là trở thành một người Hải Phòng như họ để mãi mãi sống với cảnh xưa người cũ nơi đây, vậy mà không thể được!

Nhìn ngắm từng chi tiết nơi ngôi nhà thân yêu và khuôn viên của nó, tôi càng cảm thấy phi lý khi mình sắp phải rời bỏ nó. Chỗ nào cũng đầy ắp kỷ niệm khiến nó gắn chặt với tâm hồn tôi. Cây phượng nhú quả non bên mấy chùm hoa đỏ cuối mùa vẫn đứng đó với dấu vết hai chữ lồng “Q-T” chưa phai mờ hẳn. Cây xoan trong vườn nặng trĩu quả xanh luôn gợi nhớ những chùm hoa màu tím nhạt cùng những cánh hoa rơi khiến tôi liên tưởng tới sức sống và tình yêu chung thủy. Cây nhãn đã bao mùa ra trái để mấy anh em tôi trèo hái hàng ngày; rồi trở thành mái che mỗi khi tôi đứng bên tường trên nóc hầm trú ẩn mà nhìn sang nhà Misô ngóng đợi hình bóng Thanh Tâm. Chính căn hầm trú ẩn này cũng không chỉ là nơi tránh bom, mà còn lưu dấu bao trò chơi tinh nghịch của chúng tôi quanh nó, kể cả việc bắt gà trong đó. Ngay cả sợi dây thép phơi quần áo cũng không phải là một vật vô tri, khi trên nó đã từng có mảnh vải ngụy trang của em yêu vắt qua khiến tôi phải ấp môi hôn…

   Anh Khái bên láng giềng lại mang đàn guitar sang chơi và chúng tôi cùng nhau hát những ca khúc gắn với bao kỷ niệm đẹp tươi về Hải Phòng: “Thành phố Hoa phượng đỏ” (của Lương Vĩnh-Hải Như), “Thành phố chúng ta, nhà máy chúng ta” (của Hoàng Vân), “Bài ca đảo Bạch Long Vĩ” (của Vũ Ngọc Quang), “Bạch Long Vĩ đảo quê hương” (của Huy Du)… Nhưng cảm xúc sâu lắng nhất đọng lại mãi trong tôi vẫn là ca khúc quen thuộc “Chiều hải cảng” (của Soloviev Sedoi) với cả lời Nga và lời Việt:

 

                        …  Thành phố xinh xắn mến yêu ơi,

                              Ngày mai ta sẽ vắng xa Người!

                              Làn sóng thúc hối ta,

                              Biển khơi đón chúng ta

                              Thoáng xa khăn xanh thắm vẫy chào ta…

 

Hát về hải cảng của thành phố Leningrad, nhưng ca khúc này lại diễn tả đúng tâm hồn tôi khi sắp phải rời xa thành phố cảng Hải Phòng. Tôi không bao giờ muốn và chưa bao giờ lường trước cái ngày mà mình sẽ phải mãi mãi từ biệt thành phố xinh xắn mến yêu này.

 

 Vào một ngày đầu thu trung tuần tháng Tám có hai ô tô đến đậu bên đường trước cổng nhà tôi: một chiếc xe con commăngca và một chiếc xe tải lớn phủ bạt. Đó là xe của Trường ĐHSP Ngoại Ngữ Hà Nội đến đón ba tôi và gia đình về thủ đô. (Tài xế cho biết rằng xe phải qua sông Hồng bằng cầu phao thay cho cầu Long Biên đã bị bom phá).

 Với sự giúp đỡ của các chú các bác từ trên gác chạy xuống cùng 2 tài xế, ba má và 2 em tôi nhộn nhịp thu dọn bàn ghế giường tủ rồi khiêng vác mọi thứ lên chiếc xe tải. Riêng tôi không tham gia việc ấy, chẳng phải vì lười biếng, mà vì không nỡ đưa những đồ dùng thân thiết của gia đình mình ra khỏi ngôi nhà thân yêu mà mình đã sống yên vui đầm ấm suốt bao năm qua. Chọn một chỗ thích hợp bên ngoài chiếc cổng phụ để có thể ngắm nhìn toàn cảnh ngôi nhà theo một góc độ đẹp, tôi vẽ lại nhà mình với từng họa tiết điển hình, tô điểm thêm một bầu trời trăng sáng trên mái ngói hình chóp của nó để làm tăng cảm xúc. Nước mắt tôi lại rơi trên bức tranh đầy ắp kỷ niệm này. Từ biệt nhé, ngôi nhà số 27 phố Hồ Xuân Hương Hải Phòng.

 Ba một mình xách cặp lên ô tô đi Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới. Má khóa cửa, giao chìa khóa nhà cho bác Năng (Trưởng phòng Quản trị của Sở), rồi cùng 3 anh em tôi lên xe đạp đi về nơi sơ tán ở xã Quang Trung huyện An Lão. Tại đây, chúng tôi tận hưởng những ngày nghỉ hè cuối cùng, để má hoàn tất thủ tục xin chuyển công tác theo chồng về Hà Nội. Nhưng người thứ hai trong gia đình chúng tôi rời Hải Phòng về thủ đô không phải má mà lại là em Hùng khi nó được gọi đi học. Giấy gọi không phải của Trường Đại học Bách khoa, mà của Bộ Giáo dục mời lên Hà Nội tập trung để chuẩn bị đi du học tại Liên Xô. Do Hùng được hưởng tiêu chuẩn ưu đãi dành cho học sinh miền Nam (còn tôi thì không), Ban Thống nhất Trung ương (cơ quan quản lý cán bộ và học sinh miền Nam tập kết ra Bắc) đã can thiệp với Bộ Giáo dục (có lẽ do ba tôi đề nghị) để đưa em vào danh sách học sinh du học nước ngoài nhằm đào tạo cán bộ sau này về phục vụ miền Nam. Hùng háo hức chuẩn bị cho chuyến du học và xin má cho mua một chiếc va ly mới rất đẹp đang bày bán ở cửa hàng bách hóa tổng hợp. Đó là loại hàng “cao cấp” nên giá rất đắt, nhưng má cũng chiều lòng cậu con trai mà mua cho nó.

 Thế là thêm một lần nữa tôi nhận thấy em Hùng luôn gặp may hơn, và thành đạt sớm hơn mình trên con đường tiến thân. Có lẽ cái số mệnh được quy định bởi “tháng tuổi bọc năm tuổi” luôn phát huy tác dụng; nhưng chắc cũng còn những nguyên nhân khác nữa. Chẳng hạn như tính cách khác nhau của mỗi đứa: tôi thường hướng vào cuộc sống nội tâm đầy hoài cảm về quá khứ; còn Hùng luôn hướng ngoại để thích ứng với hoàn cảnh mới mà vươn đến tương lai. (Chắc chắn rằng Hùng không lưu luyến cảnh cũ người xưa nơi thành phố quê hương bằng tôi, mà đang tập trung tâm trí vào viễn cảnh tươi đẹp của cuộc du học trên đất Liên Xô). Thêm nữa, má thương tôi ngoan hiền mà không hay đòi hỏi những gì mình muốn (bằng chứng là tôi đang sử dụng chiếc ba lô cũ của ba má có từ thời kháng chiến chống Pháp, mang nó đi công trường Muối rồi lại mang đi học đại học); còn  Hùng được má khen là khôn, vì nó luôn biết đòi hỏi những gì mình cần (thí dụ như chiếc va ly mới để đi du học nước ngoài). Hiểu rằng mỗi tính cách sẽ dẫn đến một thành quả khác nhau trong cuộc sống, tôi bằng lòng với những gì mình đạt được, và mừng cho Hùng về những thành công của nó trên đường đời. Không hề ghen tị với Hùng, tôi cũng quên luôn những cuộc cãi cọ giữa hai anh em về quan hệ với Thanh Tâm, thay vào đó là tình thương nhớ dành cho cậu em sắp phải xa đất nước.

 Má nấu một bữa “ăn tươi” để tiễn Hùng lên đường với chỉ một món mì xào bò. Thịt bò “không phiếu” đã mua được ở chợ, chỉ việc thái mỏng rồi ướp nước mắm tỏi. Nhưng mì sợi thì phải tự chế biến từ bột mì. Má hòa bột vào nước lã, rồi dùng nồi nước sôi có bịt một miếng vải thưa mà tráng bột loãng trên đó thành những bánh mỏng (như người ta tráng bánh cuốn), sau đó thái bánh thành những sợi mì. Xào mì với rau cải trên chảo rồi đổ thịt bò vào xào tiếp; vậy là  bốn má con chúng tôi có một bữa liên hoan chia tay đáng nhớ.

 

 Hùng đi được ít ngày thì đến lượt tôi trở về khoa bằng một chuyến du hành đặc biệt. Vì ngại quay về thành phố để đi ô tô có thể gặp nguy hiểm, lại nghe nói có đường tắt “rất gần” từ An Lão đến Tiên Lữ (Hưng Yên), tôi được má giao cho chiếc xe đạp Peugeot để đi theo đường này.

 Khởi hành lúc 2 giờ chiều, tôi đạp xe theo đường số 10 qua đò Cựu rồi đi suốt qua huyện Tiên Lãng, qua luôn huyện Vĩnh Bảo là hết đất Hải Phòng. Đến  huyện Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương khi trời xẩm tối, tôi ghé vào một quán nước ven đường ăn tạm chiếc bánh chưng nhỏ và chuối thay cơm. Cảm thấy sợ hãi vì đường không gần như mình tưởng và không biết bao giờ mới đến; nhưng đã đâm lao thì phải theo lao, tôi đành cố đạp xe qua huyện Thanh Miện (Hải Dương). Quanh quẩn dò hỏi mãi mới biết con đường đất dẫn ra đê sông Luộc thuộc huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên. Khi ấy trời tối mịt mù, đèn đóm tắt hết để xóm làng bên sông chìm vào giấc ngủ mà không còn một tiếng gà kêu chó sủa; trên đê tuyệt nhiên không một bóng người, cũng chẳng có tiếng ếch nhái hay côn trùng. Không có chỗ để xin ở trọ và cũng không thể nhờ cậy sự giúp đỡ của bất cứ ai, tôi vô cùng sợ hãi về sự cô đơn giữa đêm khuya thanh vắng đầy bí ẩn. Rất may là có một mảnh trăng khuya xuất hiện trên bầu trời ít mây giúp tôi nhìn được con đường mòn trên đê giữa hai bờ cỏ tối thẫm. Tin rằng con đường này sẽ dẫn mình đi thẳng tới đích, tôi cố nén sợ hãi để nhấn bàn đạp tiến tới. Không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, tôi cứ mải miết đạp và thầm mong được nhìn thấy những hình bóng của một nơi quen thuộc. Bỗng “rầm” một cái, cả người và xe tôi ngã chổng vó xuống một chỗ trũng. Thì ra đó là một đoạn đê bị cắt ngang để mở lối cho dân trong làng đi ra ngoài bãi sông, mà tôi không nhìn thấy nên cứ phóng xe qua. Thật may là sau cú ngã đó, cả người và xe vẫn không hề hấn gì, tôi lồm cồm đứng dậy dắt xe lên mặt đê đi tiếp. Tôi còn bị ngã 2 cú như vậy nữa, nhưng có lẽ nhờ trời thương nên vẫn tiếp tục đạp xe đi được. Một lúc lâu sau, tôi vui sướng nhận ra hình bóng thân quen của bến đò La Tiến với cây đa cổ thụ. Phấn chấn trong lòng, tôi phóng xe nhanh trên đoạn đường quen thuộc của huyện Tiên Lữ cho đến khi nhìn thấy lờ mờ hình dáng cây gạo cao lớn của thôn Phí Xá in trên bầu trời tối đen.  Về đến nhà cụ Quyết  lúc quá nửa đêm, tôi đã đơn độc hoàn thành “cuộc hành trình qua ba tỉnh” (hơi giống với “Cuộc hành trình qua ba bể”- một phim truyện của Liên Xô).

 Cuộc hành trình này khiến tôi thấm thía về nỗi cô đơn khủng khiếp của con người khi phải một mình dấn bước trên con đường mù mịt chẳng biết bao giờ mới đến mục tiêu.

 

 Lên năm thứ ba, chúng tôi được học Lịch Sử Thế Giới Hiện Đại (từ 1917 đến nay) với thầy Nguyễn Anh Thái và thầy Nguyễn Xuân Trúc, Lịch Sử Việt Nam Hiện đại (từ 1918 đến nay) với thầy Bạch Ngọc Anh, Phương pháp luận Sử học và Phương pháp Dạy học Lịch sử với thầy Phan Ngọc Liên và thầy Trần Văn Trị. Trong Khoa còn có những tên tuổi khác mà chúng tôi chưa được học, như thầy Phạm Hữu Lư (ở Tổ bộ môn LSTG Cận đại) và thầy Nguyễn Lam Kiều (Tổ LSTG Hiện đại); cũng có thêm những cán bộ giảng dạy trẻ đã đứng lớp hoặc chuẩn bị được đứng lớp: Nguyễn Cảnh Minh (Tổ  LSVN Cổ-Trung đại), Trần Bá Đệ (Tổ LSVN Hiện đại), Lương Văn Nham (Tổ LSVN Cận đại), Nguyễn Thị Quế (Tổ LSTG Hiện đại), Phạm Hồng Việt (mới du học Liên Xô trở về, được biên chế vào Tổ LSTG Cổ-Trung đại), Nguyễn Bá Tiệu (mới du học Liên Xô về, phụ trách bộ môn Khảo Cổ học), Nguyễn Xuân Minh (đã chuyển về trường Đại học Sư phạm Việt Bắc mới thành lập năm 1966)... Bên cạnh đó, trong số sinh viên vừa học xong năm thứ tư có Trịnh Vương Hồng được giữ lại để trở thành cán bộ giảng dạy của Khoa; trong số sinh viên vừa tốt nghiệp năm thứ ba có 10 người được học lên năm thứ tư (nhưng chỉ 2 người trong đó sẽ được giữ lại để bồi dưỡng thành cán bộ giảng dạy của Khoa là Đặng Quang Minh và Lại Bích Ngọc, thêm Trần Đức Minh sẽ về trường Đại học Sư phạm Việt Bắc).

 Cùng với các thầy mới và môn học mới, tôi lại có thêm chỗ ở mới. Chẳng biết bằng cách nào mà Hà Trọng Cường kiếm được một nhà trọ khác, rồi rủ tôi cùng sang đó ở cho vui. Thế là hai chúng tôi thoát khỏi sự kèm cặp của anh Hạnh (ở nhà chị Thục) và anh Thiều (ở nhà cụ Quyết) để được vui sống cùng nhau tại nhà bác Cạc, một nông dân dong dỏng cao trạc 45- 50 tuổi có chiếc mũi dài tựa như mỏ vịt. Việc tự ý chuyển nhà như vậy có vẻ vượt quyền kiểm soát của cấp trên; nhưng ban cán sự lớp không tìm được lý do gì để ngăn cản chúng tôi, nên đành phải chấp nhận một sự đã rồi.

 Nhà bác Cạc có tường gạch mái ngói với ba gian hai chái khá khang trang, lại có sân gạch và vườn tược rộng rãi. Thẳng góc với ngôi nhà chính là một nhà phụ hai gian tường đất mái tranh dành cho chúng tôi trọ học, trong đó kê một chiếc giường đôi, chiếc tủ gỗ nhỏ và chiếc bàn nhỏ. Ở đây chúng tôi cảm thấy thoải mái hơn ở nhà cũ rất nhiều. Hai vợ chồng bác cùng hai cô con gái (cô chị tên Hoàn 18 tuổi và cô em tên Nhi tuổi 16) ở trong nhà chính, nên Cường và tôi được hoàn toàn tự do trong nhà phụ.

Bác Cạc trai ít để ý đến những chuyện vặt vãnh xung quanh; nhưng bác gái thì hay so bì tị nạnh với một nhà hàng xóm kế bên nhà mình. Cô con gái nhà đó may mắn có người yêu đi học công nhân kỹ thuật ở Tiệp Khắc, nên thỉnh thoảng lại nhận được mấy món quà quý từ ngoại quốc gửi về. Đáng lẽ phải kín đáo sử dụng những quà đó, nhưng cô nàng lại cứ thích khoe chúng cho hàng xóm biết, nên bác Cạc gái hết sức khó chịu. Mỗi lần ngửi thấy mùi thoang thoảng của nước hoa ngoại từ nhà hàng xóm bay sang, bác liền tiến đến chiếc nồi đất mẻ miệng dùng đựng nước tiểu ở cuối vườn gần nhà cô đó, đứng dạng háng vén váy đái thật mạnh vào nồi cho nước tiểu sục lên, rồi nói rõ to: “Gớm! Nước đái gì mà khai thế!”. Đó là cách bình phẩm hả hê của bác đối với mùi thơm nước hoa mà mình ngửi được, để trả lời sự khoe khoang của cô hàng xóm.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác