NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 10, PHẦN 1

( 17-04-2016 - 07:31 AM ) - Lượt xem: 650

Chính cái thái độ ỡm ờ và cách nói úp mở tạo nên vẻ khó hiểu của Hương khiến tôi càng thêm nghi hoặc về phẩm hạnh của nàng. Trong một lúc cởi mở đột xuất, Hương nhận xét rằng tôi “tán kém”!

CHƯƠNG MƯỜI-TRỞ THÀNH NGƯỜI HÀ NỘI

 

 

1. Con gái như là cái bóng

 

Đối với tôi, tâm hồn bí ẩn của Thiên Hương còn khó tìm hiểu hơn là tư tưởng và khuynh hướng của  hai cụ Phan vĩ đại.

 Có nhiều lúc Hương vô cùng thân thiết nồng ấm, nhưng khi khác lại tỏ ra lạnh lùng lãnh đạm với tôi như muốn giành lại tình cảm ấy cho người yêu phương xa, rồi lại khá dễ dãi khi giao tiếp với những ai thích mình. Chính cái thái độ ỡm ờ và cách nói úp mở tạo nên vẻ khó hiểu của Hương khiến tôi càng thêm nghi hoặc về phẩm hạnh của nàng. Trong một lúc cởi mở đột xuất, Hương nhận xét rằng tôi “tán kém”! Quả thật, tôi không biết tán và không ưa những kẻ tán gái, vì mình chỉ biết một thứ tình yêu xuất phát từ trái tim chân thành. Nhưng chẳng lẽ Hương lại tầm thường đến mức chỉ thích những kẻ dẻo mồm tán tỉnh mà không rung động với người đến với mình bằng tình cảm thực sự?

 Không tìm được lời giải thỏa đáng về nàng, tôi tâm sự về quan hệ của mình với Hương qua thư gửi hai bạn thân lâu năm là Triệu và Đồng. Trong thư trả lời, Triệu bảo bọn con gái bao giờ cũng khó hiểu, phải hỏi “các cụ bô” thì may ra mới có lời giải. Có lẽ Triệu đã đem chuyện của tôi ra kể với Nguyệt, nên tôi nhận được cả thư của anh chàng này. Như để khuyên tôi nên thận trọng, Nguyệt bảo mình “sắp được bỏ huy hiệu Đoàn” (tức là sắp được kết nạp Đảng), nhưng do gặp rắc rối trong quan hệ nam-nữ nên vẫn chưa được chi bộ thông qua. Còn Đồng khoe rằng cậu ta cũng đang rung động với một cô gái Đồ Sơn tên Hải; rồi cung cấp cho tôi một câu thành ngữ Nga dành cho các chàng trai đang theo đuổi bạn tình: “Con gái như là cái bóng (tiếng Nga: devushka kak tchenh), nếu ta đuổi theo nó thì nó chạy khỏi ta, nếu ta lùi trở lại thì nó đuổi theo ta!”. Kiểm nghiệm lại quan hệ giữa mình với Thiên Hương trong thời gian qua, tôi nhận thấy câu này quá hay và chính xác, đáng để ghi nhớ mà vận dụng.

Cho đến hôm chủ nhật 9-4, Hương đột ngột ra đi ngay trong đêm tối, thì dường như tôi đã nhìn ra sự thật. Phải có một cuộc gặp cần thiết và cấp bách lắm nàng mới đi gấp như vậy. Nhưng gặp ai? Sau khi cân nhắc mọi khả năng, tôi suy đoán rằng: Chu Tác Nhân đột xuất có chuyến nghỉ phép (hay đi công tác) ngắn ngày ra Bắc đã tìm được cách liên lạc với nàng, để hai người có thể tranh thủ gặp nhau mà thỏa mãn ái ân tại một nhà trọ nào đó. Tôi chưa từng được hưởng cái hạnh phúc ái ân ấy, nhưng cũng linh cảm rằng nếu Hương đã trao thân cho Nhân từ trước (tức là “ăn cơm trước kẻng”), thì khi phải xa cách chàng lâu ngày nàng khó giữ được chung thủy với người cũ của mình. Nay hai người gặp lại nhau, âu cũng là một sự tốt lành cho họ.

 Tin chắc vào sự suy đoán đó, tôi quyết định rút lui để nàng trọn vẹn hạnh phúc với Nhân (đúng như bài thơ “Đợi anh về” của Simonov). Khi Hương quay về, tôi tìm cách xa lánh nàng. Vào chủ nhật tiếp theo, tôi đến thăm thầy Niệm nhằm hòa giải giữa hai “tình địch” bất đắc dĩ để cùng nhau nhường người đẹp lại cho kẻ đã thực sự giành thắng lợi. Trong 2 tiếng đồng hồ, thầy trò chúng tôi trò chuyện cởi mở thân tình về văn hóa Nga, đi sâu vào âm nhạc và hội họa mà tuyệt nhiên không đả động gì đến Thiên Hương. Tôi nói mình thích những bức tranh của T’retiakov; thầy sửa rằng ông này không vẽ các tranh đó, mà  chỉ là nhà sưu tập. Thầy cho tôi xem một tập ca khúc Nga rất phong phú, thế là hai thầy trò cùng nhau tập hát bài “Cuộc sống ơi, ta mến yêu người!” (tiếng Nga: Ya liubliu t’ebe Jiznh) của Eduard Kolmanovskyi và Konstantin Vansenkin.

 Cuộc gặp gỡ này để lại trong tôi những ấn tượng rất tốt đẹp về thầy Dương Đức Niệm. Mọi sự ghen ghét của tôi với thầy đều bay đi hết. Quyết tâm để cho tình cảm của mình với Thiên Hương phai nhạt dần, tôi gửi đơn xin nghỉ phép về nhà với hy vọng tìm lại được Thanh Tâm yêu quý để nối lại tình xưa.

 Nhưng trong khi theo dõi phản ứng của Thiên Hương, tôi lại nhận thấy sự suy đoán của mình rất có thể sai. Nếu đã được gặp lại Nhân thì lẽ ra Hương phải vui tươi hớn hở và dễ dàng chấp nhận sự việc rời xa tôi; nhưng thực tế lại không phải thế. Nàng luôn nhìn tôi bằng cặp mắt buồn bã, như muốn thầm hỏi rằng sao bỗng nhiên lại xa lánh nhau như vậy? Rồi vào lúc tan lớp, nàng đến bên tôi mà nói nhỏ: “Đêm qua Hương đã thức trắng để làm đề cương!”. Cố giữ vẻ lạnh lùng, tôi thản nhiên đáp: “Còn mình vẫn cờ bạc với cụ Thọ, mà làm đề cương nhanh lắm!”. Nàng xịu ngay mặt xuống quay đi, khiến tôi phải ân hận mãi về câu nói cố ý gây sự của mình. Rõ ràng là Hương vẫn không muốn xa lánh tôi; vậy thì chắc gì đã có cuộc ân ái say đắm nào với Nhân để hâm nóng tình cũ của nàng?

 

 Đêm 18-4 có một trận mưa rào cực lớn kéo dài với sấm chớp ầm ầm. Sáng ra, nắng xuân tràn ngập bầu trời trong xanh làm những chùm hoa gạo đỏ càng thêm rực rỡ. Gió xuân hây hẩy thổi khiến cành lá rì rào; gió mơn man làn da gây cho người ta một cảm giác mát mẻ vô cùng dễ chịu. Có lẽ mùa mưa phùn gió bấc lạnh lùng đã kết thúc để được thay thế bằng mùa nắng vàng ấm áp khiến lòng người cũng nhẹ bớt nỗi buồn (ai dám bảo thuyết “Duy vật Địa lý” là không có cơ sở?). Hai hôm sau, tôi thoải mái lên đường trở về thành phố thân yêu.  Nhưng tình hình Hải Phòng lúc này quá căng thẳng, nhiều công trình xây dựng và nhà máy xí nghiệp đã sụp đổ tan tành dưới bom đạn Mỹ, khiến tôi chỉ ở nhà với ba má được có 2 ngày  rồi phải về ngay chỗ sơ tán của má và em Dũng ở An Lão, sống trong một chái nhà dân khá chật chội và việc mua thực phẩm cũng rất khó khăn. Sau một tuần, tôi phải trở về khoa mà không thể tìm lại được cô láng giềng yêu dấu. Thất vọng, trong lòng tôi cứ ngân lên mãi ca khúc “Tiễn bước sang ngang” của Hoàng Trọng:

 

                              Biết đến bao giờ gặp lại người em hồi ấu thơ

                              Để nói những lời ngập ngừng của bao ngày tháng qua.

                              Một phút gần nhau, để rồi mãi mãi lìa xa,

                              Đường về ngát những màu hoa, ngày nào đắm say lòng ta…

 

 Có lẽ số mệnh vẫn muốn tôi gắn bó với Thiên Hương cho dù những nỗi niềm day dứt vẫn còn nguyên đó. Hương biết cách nấu cháo bằng phích nước nóng: buổi tối bỏ vài nắm gạo vào phích, rót đầy nước sôi vào rồi đạy nút kín; sáng hôm sau sẽ có một phích cháo trắng nhừ dùng để ăn sáng. Thỉnh thoảng Hương rủ tôi sang cùng ăn cháo với nàng; thế là hai chúng tôi lại ngồi học bên nhau ở giảng đường cũng như ở nhà bác Tương.

 

 Có lẽ vì suy nghĩ nhiều mà học hành cũng căng thẳng nên tôi lại bị chứng mất ngủ. Trong một đêm thức trắng, tôi suy nghĩ lung tung viết đầy mấy trang nhật ký với những dòng tự chửi rủa mình, rồi tự bảo rằng mình “chết quách đi cho rảnh nợ”. Nhưng rồi những cơn khủng hoảng tinh thần như vậy đã qua đi khi tôi phải lao vào việc chuẩn bị cho một Hội diễn Văn nghệ sinh viên theo kế hoạch của Trường.

 Dưới sự chỉ đạo đầy nhiệt tình của trưởng ban văn nghệ Lê Bào (đã trở thành sinh viên năm thứ tư), đội kịch do Võ Xuân Đàn (Sử 3) làm đội trưởng, đội múa do Nguyễn Ngọc Tấn (Sử 2) đứng đầu, và tôi phụ trách ca nhạc đã say mê hướng dẫn các bạn luyện tập và chuẩn bị trình diễn.

 Hội diễn đã được tổ chức trong một đêm hè tại sân kho hợp tác xã Giai Lệ dưới ánh trăng và ánh đèn điện chạy bằng máy nổ, với một sân khấu gỗ dựng tạm nhưng cũng đủ phông màn và máy phóng thanh. Bà con nông dân và trẻ em từ các thôn trong xã kéo đến cùng toàn thể thầy trò Khoa Sử ngồi chật cái sân kho rộng mênh mông để thưởng thức cuộc vui hiếm có. Khán giả địa phương đã không phải thất vọng với những tiết mục trình diễn trên sân khấu, mặc dù họ chưa có thói quen vỗ tay cổ vũ. Tốp ca nam Sử 3 xuất hiện đầy khí thế trong trang phục giống như Hồng quân với mũ sắt, giày ủng cùng đàn accordeon, để trình bày ca khúc “Binh đoàn xe tăng” rất hay của Liên Xô mà đến khi xem họ tập hát tôi mới học được. Đội kịch gây ấn tượng mạnh với vở “Nhà 300” do Võ Xuân Đàn sáng tác và thủ vai chính, với cốt truyện chế giễu quân đội Mỹ bằng những màn hài hước khiến khán giả cười nghiêng ngả. Trên nền nhạc đệm bằng đàn t’rưng của Uspe, hai giọng ca nữ Đinh Thị Húa và Mai Xẩm nổi bật với các ca khúc “Tây nguyên bất khuất” (của Văn Ký), “Cô gái vót chông” (của Hoàng Hiệp), “Cánh chim Pongkle” (của Nhật Lai)…; Nguyễn Văn Chương hát chèo rất hay, được bà con nông dân tán thưởng (từ đó anh này được gọi tên là “Chương Chèo”)... Đội múa đã khiến khán giả say sưa với hai vũ điệu “Rông chiêng” (trong các bộ váy áo Tây nguyên) và “Chàm rông” (trong trang phục của các thiếu nữ Chăm). Tôi đặc biệt yêu thích Chàm rông với sự uyển chuyển duyên dáng cùng những động tác cầm quạt lắc tay độc đáo của các vũ nữ,  theo điệu nhạc dân tộc đầy cảm xúc mà chính Lê Bào đã đặt lời cho nó:

 

                              Mùa xuân, chim én lưng trời lượn bay

                              Có thấy chăng tháp Chàm yêu dấu,

                              Khi bóng đêm về, tháp Chàm sáng lên muôn vì sao trên nền trời

                              Tháp Chàm thắp lên bao niềm tin ở cuộc đời…

 

Dường như vũ điệu và ca khúc này đã kết tinh tâm hồn tuyệt đẹp của người Chăm, trong đó phảng phất một nét buồn truyền lại từ một vương quốc xưa huy hoàng mà nhanh chóng lụi tàn.

 Mặc dù hội diễn cũng như mọi hoạt động văn nghệ chỉ là phương tiện để tuyên truyền-giáo dục tư tưởng chính trị của Đảng, nhưng những cái hay cái đẹp của những tiết mục trình diễn vẫn giúp tôi nâng đỡ tâm hồn mình lên, để vượt qua nỗi buồn triền miên về thế thái nhân tình.

 

 Chương  trình học được hoàn tất vào ngày 15-7; nhưng chúng tôi chưa được nghỉ hè, mà chẳng hiểu vì sao lại phải tham gia một đợt đi thực tế đời sống nữa ở các địa phương. Lần này lớp tôi chia làm hai đoàn về các xã ở hai huyện khác nhau để giúp dân làm thủy lợi, nghĩa là phải lao động thực sự chứ không được vui chơi như lần trước. Giống như những đợt trước đây, trong đợt đi này ban cán sự lớp cũng tách Thiên Hương và tôi ra mỗi đứa ở một đoàn (chắc là họ biết chúng tôi có tình ý với nhau, nên luôn sắp xếp như vậy để tránh cho hai đứa khỏi vi phạm “kỷ luật dân vận”). May là tôi được ở cùng đoàn với anh Xương nên cũng đỡ buồn.

 Đích thân đồng chí Bí thư Huyện ủy đón tiếp đoàn chúng tôi ngay tại trụ sở Huyện ủy-Ủy ban Hành chính. Trong bộ trang phục đại cán 4 túi cài khuy kín cổ, đồng chí thể hiện sự oai vệ của nhà lãnh đạo địa phương bằng một bài phát biểu rất dài. Chắc là muốn phô diễn trình độ hiểu biết cao của mình để đám sinh viên đại học (vốn tự hào là có tri thức cao) không thể coi thường mình, nên ông mới nói dài nói dai như vậy. Nhưng càng nghe lời ông, tôi càng cảm thấy thất vọng với trình độ của ông. Mắc bệnh nói ngọng “l-n” quá nặng, ông bảo: “Trong lông nghiệp, công tác thủy nợi nà quan trọng nắm, các đồng chí có hiểu không?”. Cứ một giọng như thế, ông giảng giải về “công nghiệp hóa”, “thủy nợi hóa” và cả “bổ túc văn hóa”, về ý nghĩa của “cánh đồng 5 tấn” với khẩu hiệu “nghiêng đồng đổ lước ra sông”…Ông nêu gương các anh hùng “nàm thủy nợi” Phạm Thị Vách (của huyện Kim Động) và Vũ Thị Tỵ (của huyện Tiên “Nữ”); rồi ông quay về với nhiệm vụ “chiến nược” của hai miền: “miền Lam nà tiền tuyến nớn, miền Bắc nà hậu phương nớn”. Ông còn có thói quen đệm từ “ĐM” như là một thán từ ở cuối mỗi câu. Tuyên bố nổi tiếng của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình được ông trích dẫn như thế này: “Một mo cau với một quả cà đi xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng tấm nòng cộng sản, ĐM!”; ông thông báo thành tích của huyện trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho tiền tuyến như sau: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người, ĐM!”… Ngắm nhìn vẻ mặt khắc khổ đen đúa đầy nếp nhăn với hàm răng không đen, không trắng mà có màu xỉn rất lạ của ông (đến lúc đó tôi mới biết màu răng như thế được gọi là “cải mả”), tôi liên tưởng đến những người bần cố vô học như chú Xia ở ấp Hà Thanh xưa, đã được vươn mình sau CCRĐ mà trở thành những cốt cán lãnh đạo cách mạng của Đảng ta như đồng chí Bí thư này.

 Khi ông kết thúc bài nói, tiếng vỗ tay vang lên từ hàng ghế mà các cán bộ nhân viên huyện ngồi trong hội trường để cùng nghe với đoàn sinh viên. Một cán bộ đi lấy chiếc điếu cày mang đến cho thủ trưởng của mình, rồi khom lưng cung kính châm đóm cho đồng chí Bí thư rít thuốc lào. Nhìn Bí thư khoan khoái nhả khói lên trần nhà, tôi bỗng liên tưởng đến viên quan huyện trong truyện “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn. Sau ván bài tổ tôm được ù to, quan ra lệnh: “Điếu mày!” để tên lính lệ bưng điếu đến hầu quan. Sau bài nói của mình, đồng chí Bí thư không cần ra lệnh nhưng cũng có người sẵn sàng điếu đóm ngay lập tức. Mặc dù điếu của quan huyện phải là loại khảm xà cừ có chiếc cần cong vút, còn điếu của Bí thư huyện chỉ làm bằng tre bình thường như mọi chiếc khác mà nhân dân sử dụng, tôi vẫn có cảm tưởng rằng đồng chí Bí thư giống ông quan huyện hơn những người cộng sản mà mình được biết qua sách vở (như Paven Korsaghin chẳng hạn).

Lúc về đến nhà trọ, tôi nói với anh Xương: “Ông Bí thư nói ngọng này chẳng có tư duy gì hết, chỉ lặp lại như vẹt đường lối của Đảng!”. Anh giơ ngón tay cảnh cáo tôi: “Không được nói thế! Phải bảo rằng: lời đồng chí Bí thư khiến chúng tôi được sáng mắt sáng lòng!”.  Chẳng biết là anh đùa hay nói thật, nhưng câu đó của anh vẫn cho tôi một bài học: nếu muốn được yên thân thì chớ nên nói những điều không tốt về cán bộ lãnh đạo của Đảng. Ngày 22-7, tôi ghi vào nhật ký: “Ở một nước còn tồn tại nặng nề ý thức hệ phong kiến, người ta quen thói phục tùng và luồn cúi với bất cứ kẻ nào có thế lực để mưu cầu danh lợi, mà chưa hề biết tự hào về giá trị của con người mình”.

 Trong 5 ngày tại một xã mang tên đầy khí thế cách mạng là “Toàn Tiến”, chúng tôi đào đất đắp bờ làm con mương dẫn nước từ sông vào ruộng của các hợp tác xã. Mấy  ngày tiếp theo thì chuyển sang xã khác mang cái tên còn khí thế hơn là “Toàn Thắng”, và cũng làm công việc tương tự. Đang lúc thời tiết chuyển mùa khiến nắng mưa thất thường mà lao động lại khá nặng nhọc, nên sức khỏe của mọi người đều bị ảnh hưởng. Do bị viêm phế quản, anh Xương ho suốt đêm mà chẳng ngủ được bao nhiêu. Tôi cũng rất mỏi mệt, nhưng vẫn phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Cuộc lao động này khiến tôi nhớ lại những ngày cực nhọc ở công trường Muối Đồ Sơn, rồi cũng liên tưởng đến cả công trường Baiarơca của Paven Korsaghin. Nhưng tràn ngập trong lòng tôi là nỗi nhớ Thiên Hương da diết.

26-7 là một ngày mưa tầm tã, chúng tôi kết thúc đợt đi thực tế. Hai đoàn lại tụ họp cùng nhau tại một ngôi đình ở xã Toàn Thắng để làm lễ tổng kết. Thành tích lao động của chúng tôi được lãnh đạo địa phương và trường hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng rất có thể đợt lao động theo tinh thần XHCN này của chúng tôi đã mang lại lợi ích nhiều nhất cho ban chủ nhiệm các hợp tác xã sở tại: công sức của sinh viên sẽ biến thành “công điểm” của chính họ, rồi công điểm đó trở thành hoa lợi được chia, góp phần vào việc “xây nhà-xây sân” cho họ.

 Tôi và Hương lại được gặp nhau sau 10 ngày xa cách; vậy mà tâm trạng của tôi cũng khá lạ lùng: lúc xa nhau thì nhớ rất nhiều, nhưng lúc gặp lại thì chỉ thoáng xúc động khi vừa trông thấy nhau, rồi lại nhìn nhau bình thường như chưa hề xa nhau!

 

Về lại Phí Xá, chúng tôi hoàn thành nốt những gì còn lại của năm học trong mấy ngày cuối tháng Bảy. Điểm thi cuối năm được công bố: các môn thi của tôi đều đạt từ 8 trở lên (của anh Xương cũng tương tự). Chưa hết mừng về kết quả học tập, tôi lại phải  nghe những lời phê bình chối tai từ một số người trong các cuộc họp tổng kết của chi đoàn và của lớp: đồng chí Quốc học tập tốt và có khả năng văn nghệ, tuy nhiên còn “thiếu khiêm tốn”, “thiếu quan điểm quần chúng” và “có biểu hiện bè phái”. Kiểm điểm lại, tôi thấy mình đã sửa đổi rất nhiều để phù hợp với môi trường sống hiện tại. Tự biết kiến thức của mình vẫn còn nông cạn, tôi không hề tỏ vẻ hơn người, sao lại bảo là “thiếu khiêm tốn” (tức là kiêu ngạo)? Tôi luôn chào hỏi thân mật dân địa phương khi gặp họ trên đường làng (theo đúng phong tục ở nông thôn) và cũng được các chủ nhà trọ quý mến, vậy thì cớ sao lại bảo mình “thiếu quan điểm quần chúng”? Tôi thân với những người mình thích, bất kể họ là đảng viên, đoàn viên hay chỉ là quần chúng bình thường, thì có gì sai để có thể kết tội “bè phái”? Được sự biện hộ của anh Xương, chị Trúc và nhiều bạn bè khác, tôi thẳng thừng bác bỏ những lời lẽ của các nhân vật ấy.

 Coi những lời lẽ đó chỉ là sự đơm đặt của những kẻ ghét mình, nhưng tôi vẫn phải suy nghĩ dằn vặt để tìm lời đáp cho câu hỏi: vì sao họ ghét mình như vậy? Lời giải dễ thấy là lòng ghen tị của người đời đối với một kẻ giỏi hơn mà họ không sánh kịp; nhưng quan trọng lại ở điều này: mình sống theo một phong cách riêng mà họ không ưa (tựa như sự căm ghét dành cho quần ống tuýp và tóc đít vịt).Vậy họ muốn mình phải thế nào? Thì Nguyễn Văn Thưởng chẳng đã dạy mình đó sao: phải sống hòa đồng với họ, cần tuân phục và “điếu đóm” cho những kẻ có quyền thế từ thấp lên cao. Biết vậy, nên tôi dứt khoát chọn cho mình một thái độ ứng xử, như những dòng ghi trong nhật ký ngày chủ nhật 30-7: “Bắt một người tự biết mình là người phải cúi đầu xuống phục tùng kẻ khác như một con vật đâu có phải dễ dàng? Không, mình mãi mãi sẽ không cúi đầu”. Khi ấy tôi vẫn chưa được biết rằng “tâm lý bầy đàn” nặng nề trong xã hội tiểu nông kết hợp với “chủ nghĩa tập thể” của Đảng ta đã tạo nên một áp lực to lớn để hủy diệt bản ngã con người.

 Bữa liên hoan kết thúc năm học ngay chiều hôm đó đã mang lại niềm vui cho cả lớp, và tôi cũng được khuây khỏa phần nào. Với số tiền đóng góp của mọi thành viên, nhóm bạn nữ đã mua được gà vịt và nhiều thực phẩm “không phiếu” khác, rồi đun nấu tất bật trong bếp nhà cụ Thọ. Cánh đàn ông quét sân trải chiếu rồi bưng từng món ra bày đủ 7 mâm cỗ ngon lành (thêm một mâm nhỏ để dành cho gia đình cụ Thọ). Có các thầy cùng dự với lớp, cuộc liên hoan càng thêm trang trọng. Ngồi quây quần quanh những mâm cỗ trên chiếu, thầy trò thân mật trao đổi với nhau đủ mọi chuyện. Thầy Quang khen lớp này làm bài rất tốt; anh Xương hỏi: “Ai đạt điểm cao nhất, thưa thầy?”; thầy chỉ vào anh và đáp: “Còn ai vào đấy nữa!”. Lời khen của thầy đủ để xoa dịu những nỗi đau lòng và niềm cay đắng mà anh đã phải gánh chịu trong năm học vừa qua.

 

 Trước lúc bình minh ló dạng, ô tô qua cầu Long Biên rồi dừng bánh tại Bến Nứa-một bến xe lớn gần bờ sông Hồng của Hà Nội; thế là Thiên Hương cùng tôi xuống xe và đặt chân lên đất thủ đô sau một đêm không ngủ. “Hôm nay ngày bao nhiêu, Quốc?”- Hương hỏi; “mùng một tháng Tám” - tôi đáp, rồi thêm: “Nhớ mãi ngày hôm nay Hương nhé!”. Không nói gì nữa, hai đứa lặng lẽ bước. Trời sáng dần; tôi rủ: “Chúng mình lại chỗ kia chờ tàu điện đi!”; “Không! Hương thích đi bộ hơn!”- nàng đáp bằng một giọng nũng nịu. Đi bộ cũng thích mà đi xe cũng thích; lúc này đây nàng có muốn đi tàu bay thì tôi cũng chiều.

 Hôm qua, khi các bạn cùng lớp lần lượt ra về để mở đầu tháng nghỉ hè vui vẻ, Thiên Hương bất ngờ rủ tôi cùng đi chuyến xe đêm từ thị xã Hưng Yên về Hà Nội. Rất ngạc nhiên nhưng vô cùng mừng rỡ, tôi nhận lời ngay với nàng. Thiên Hương thật là tinh tế:  đi chuyến này không sợ gặp máy bay, nhưng chủ yếu là hai chúng tôi được hoàn toàn tự do bên nhau mà không có bạn bè nào đi cùng. Chợt nhớ lại hôm Hương một mình ra đi trong đêm tối, tôi mới vỡ lẽ rằng nàng đã biết có chuyến xe đêm về Hà Nội từ khi ấy (còn tôi thì không), và khi ấy nàng đã về nhà gấp vì một việc gì đó (đâu có phải đi gặp Chu Tác Nhân như tôi suy đoán!). Hạnh phúc tràn ngập trong lòng, tôi bước lên xe cùng với Hương, và nàng kéo tôi ngồi bên cạnh. Tôi chợt nhận ra rằng chính mình đã trở thành “cái bóng” ngoan ngoãn của nàng!

Chiếc xe lao vun vút trong đêm tối; tôi không còn biết đến tất cả những gì ở khắp xung quanh, chỉ biết có Nguyễn Thiên Hương bên mình. Trong bóng đêm huyền ảo được soi sáng bằng ánh trăng đỏ hạ tuần chiếu qua cửa xe, tôi cảm thấy Thiên Hương đang mỉm cười với một ánh mắt chứa chan tình cảm; và chợt nhận thấy dung nhan nàng có nét đẹp phảng phất hình bóng Đức Mẹ Maria. Chúng tôi nói với nhau những câu chẳng mấy ý nghĩa, nhưng lại đầy cảm xúc. “Mình đã quên hết tất cả những chuyện khó chịu cuối năm rồi!”- tôi thì thầm; nàng đáp “Ừ! Phải thế chứ…”. “Đêm nay trôi qua nhanh thật!”- tôi nói; nàng quay sang nhìn tôi: “Sắp có bão đổ bộ vào đất liền đó Quốc!”…

 Sáng nay trời vẫn đẹp mà chưa có dấu hiệu gì của bão, hai chúng tôi lâng lâng hạnh phúc thả bộ bên nhau. Đến Bờ Hồ, chúng tôi ngồi trên ghế đá cùng ngắm Tháp Rùa trong sương sớm, vào nhà Thủy Tạ ăn phở mậu dịch rồi lên tàu điện chạy về phố Huế. Đi bộ tiếp dọc theo phố Lò Đúc rồi thẳng tiến đến nhà Hương: số 58 phố Hàng Chuối. Đó là một biệt thự hai tầng kiến trúc theo kiểu Pháp với sàn gỗ và cầu thang gỗ giống như nhà tôi ở Hải Phòng. Tại đây, Hương sống với dì Phương (em ruột mẹ) và con trai dì cùng tuổi lại trùng tên với em tôi là Hùng, với cậu Đoàn Trọng Hậu - một bác sĩ nhãn khoa (em ruột của dì và mẹ Hương), lại còn có bà ngoại Hương rất già yếu luôn nằm trên chiếc giường ở một góc phòng. Dì Phương có tầm vóc nhỏ nhắn, vẻ mặt hiền hậu và nói năng rất nhỏ nhẹ dịu dàng. Mới lần đầu gặp mặt mà dì trò chuyện với tôi cứ y như là người thân trong gia đình. Bữa trưa, dì và Hương đãi tôi một mâm cơm ngon với thịt gà luộc rắc lá chanh, miến nấu đầu cổ cánh và món tim gan lòng xào mướp. Hương cho biết bố mẹ nàng cũng đang ở Hà Nội cùng một ông anh và các em nàng tại một ngôi nhà khác. Tôi cũng không tiện hỏi vì sao chỉ riêng nàng lại sống ở đây với dì và cậu.

Cơm xong, Hương nằm nghỉ ở phòng trong, còn tôi ngả lưng trên chiếc đi văng phòng khách. Cảm xúc về chuyến đi này cứ dâng lên tràn ngập tâm trí khiến tôi không thể chợp mắt. Hương trở dậy thấy tôi không ngủ liền rủ đi chơi tiếp! Tôi đứng ngay lên và mang theo hành lý, Hương dắt xe đạp ra; thế là lần đầu tiên trong đời tôi được cặp kè trên xe đạp với người bạn gái tràn đầy yêu thương đi dạo phố Hà Nội. Chúng tôi đến thăm Hà Trọng Cường ở nhà số 31 phố Hàng Khay (trông thẳng ra hồ Hoàn Kiếm), rồi lại ra Bờ Hồ để vừa ngắm cảnh vừa xem Cường trổ tài câu cá trộm.

 Tạm biệt Cường, hai đứa lại thẳng tiến ra Bến Nứa để tôi xếp hàng mua vé ô tô đi Hải Phòng. Tiễn tôi lên xe, Thiên Hương chỉ nói câu này: “Thôi, Quốc về đi! Cố gắng giữ sức khỏe nhé!”.  Chúng tôi chưa hề thốt ra một chữ “yêu”, nhưng tất cả những gì diễn ra từ đêm qua đến lúc này đã quá đủ để hiểu tình cảm mà mỗi đứa dành cho nhau là như thế nào. Vừa về đến nhà thì mưa trút xuống và gió lạnh nổi lên báo hiệu cơn bão đang ập đến; nhưng lòng tôi ấm áp vô cùng.

LÊ VINH QUỐC

 

Các Bài viết khác