NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 1 (phần 5,6))

( 28-11-2013 - 04:13 PM ) - Lượt xem: 915

NYS NHT - Bạn đọc \"Người yêu sách\" từng đọc ông qua nhiều bài viết trên tập san. Ông viết về Nguyễn Huy Tưởng ngay trong số ra mắt, về Phùng Quán và Vũ Trọng Phụng, về Hoàng Hữu Đản - \"nhà văn hoá uyên bác\" và Nguyễn Đình Thi - người \"nghệ sĩ lớn\" - trên những số gần đây nhất. Ông cũng là tác giả của các bài viết về từ và nghĩa tiếng Việt, về bảng chữ cái và các âm phụ, cả về những điều gây tranh cãi ở một cuốn sách mới ra... Kể cũng phải thôi, ông là nhà giáo ưu tú, tiến sĩ Lê Vinh Quốc, người có đầy đủ tư cách và nhiệt tình để luận bàn về những vấn đề trên. Bây giờ, mời bạn đọc về ông, qua tập hồi ký mà ông gọi là \"tiểu thuyết hồi tưởng\". Tác phẩm có tiêu đề \"Nước chảy dưới chân cầu\". Được sự đồng ý của tác giả, BBT xin chuyển đến bạn đọc lần lượt các chương tập hồi ký này.

5. Cách mạng

 Đối với gia đình ông Phán Thanh, Nguyên Đán năm Ất Dậu là một cái tết kém vui, vì mới vừa mất hai người con, lại thêm bệnh tình của cô Thảo vẫn kéo dài. Tuy nhiên, sau Tết ít lâu, khi nắng xuân bắt đầu bừng lên đẩy lùi những ngày đông xám xịt và lạnh giá, thì bệnh của cô bắt đầu thuyên giảm và  các cơn sốt lui dần. Sau  khi thăm khám cẩn thận, bác sĩ cho phép cô được ăn cháo, rồi khẩu phần của cô được tăng dần lên. Da thịt cô nảy nở trở lại, tóc bớt rụng và bắt đầu mọc thêm. Cô nhận biết mọi người mọi việc xung quanh và bắt đầu trở lại cuộc sống bình thường. Cô vô cùng cảm động khi được nghe kể rằng anh Nguơn đã vì mình mà không trở về quê theo lệnh của cha. Cô cũng hiểu rằng mình đã rất may mắn được điều trị đúng khoa học và chăm sóc hết sức chu đáo nên đã vượt qua được căn bệnh hiểm nghèo; trong khi rất nhiều bệnh nhân khác đã không thoát khỏi lưỡi hái tử thần của trận dịch thương hàn đó.

Thế rồi người Hà Nội lại được chứng kiến một thảm họa khác mà hậu quả của nó còn khủng khiếp gấp bội so với trận dịch kia: dân đói từ làng quê thuộc các tỉnh ở châu thổ sông Hồng lũ lượt kéo về thành phố xin ăn. Những người đàn ông, đàn bà và cả trẻ em, chỉ còn da bọc xương với nón mê áo rách hoặc quấn bao tải, đi xin bố thí trên khắp các đường phố, dần trở thành cảnh tượng quen thuộc hàng ngày. Rồi họ gục chết trên mọi nẻo đường, góc phố, xó chợ… Những chiếc xe bò chất đầy xác chết của dân đói chạy trên đường phố hàng ngày đến một nơi nào đó ở ngoại ô thành phố. Ở đấy, từng đống xác được đẩy xuống các hố lớn và sâu đã đào sẵn, rắc vôi bột lên và chôn thành những nấm mồ chung vô chủ. Nạn đói khủng khiếp năm 1945 và các thảm họa khác do chiến tranh gây ra đã làm cho những người Việt Nam có lương tri nhìn thấy rõ dân tộc mình đang bị đẩy đến hố diệt vong. Lòng yêu nước với tình nghĩa đồng bào được khơi dậy và những thành phần ưu tú của dân tộc quyết dấn thân vào con đường cách mạng cứu nước.

 

 Lúc bấy giờ, tổ chức cách mạng lớn nhất là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh) đã xây dựng căn cứ địa trên núi rừng Việt Bắc rồi phát triển lực lượng khắp nông thôn và đô thị. Chính ông Phán đã từng đọc được một số tài liệu “quốc cấm” do những bàn tay bí mật của đảng cách mạng đưa vào ngay tại công sở mình. Vì thế, trong lúc trò chuyện với vợ con, thỉnh thoảng ông nói rằng rồi đây thời cuộc sẽ thay đổi để tiến tới một “thế giới đại đồng”, trong đó mọi người đều bình đẳng, không có cảnh người bóc lột người, tất cả trẻ em đều được nuôi dạy trong các “ấu trĩ viên” và người già được nuôi dưỡng trong các “an lão đường”…Mọi người đều hiểu Việt Minh là một đảng cách mạng yêu nước, mà ít ai biết được rằng bên trong tổ chức đó có Đảng Cộng Sản Đông Dương làm nòng cốt. Ông Phán biết rằng Việt Minh đang lãnh đạo phong trào cách mạng, và cũng biết nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần bị Pháp lùng bắt, nhưng chưa hề nghe nói đến Hồ Chí Minh-lãnh tụ Việt Minh.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9 tháng Ba, nhân lúc các sếp tây hoặc chạy trốn hoặc bị bắt, ông Phán nộp đơn xin tạm nghỉ việc và không đến công sở nữa. Thế rồi ông lại biết chàng sinh viên sẽ trở thành con rể tương lai của mình cũng tham gia hoạt động cho Việt Minh. Chắc rằng tư tưởng cách mạng nảy nở trong tâm trí đã khiến cậu ta không muốn làm quan!

 Quả thật, chỉ một tháng sau cuộc đảo chính, cậu Bảy đã tham gia các hoạt động cứu nước của Việt Minh với các bạn bè của mình trong giới thanh niên trí thức văn nghệ sĩ lúc bấy giờ như Lưu Hữu Phước, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Đình Thi và nhiều người khác. Giữa lúc vận mệnh dân tộc đã trở nên vô cùng nguy khốn, những tác phẩm thấm đẫm lòng yêu nước và ý chí quật cường của các văn nghệ sĩ ấy đã rung động sâu sắc tình cảm và tâm hồn nhân dân, thôi thúc mọi người vùng lên giành độc lập. Vở kịch “Đêm Lam Sơn”, các ca khúc “Tiếng gọi Thanh niên”, “Lên đàng”, “Bạch Đằng Giang”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Người xưa đâu tá”, “ Hồn tử sĩ”… của Lưu Hữu Phước cùng nhóm Hoàng-Mai-Lưu cũng như các bài “Tiến quân ca”,“Chiến sĩ Việt Nam” của Văn Cao và bài “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng trong lòng dân tộc:

 Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than

Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang

Loài phát xít cướp thóc lúa cướp đời sống dân mình

Nào nhà tù, nào trại giam, biết bao nhiêu nhục hình

Đồng bào, tuốt gươm vùng lên!...                                

Lê Văn Nguơn không phải là một văn nghệ sĩ, nhưng là phóng viên báo “Gió Mới”- cơ quan ngôn luận của Tổng hội Sinh viên thuộc mặt trận Việt Minh, nên đã hăng say làm công tác tuyên truyền bằng báo chí, truyền đơn và diễn thuyết. Hơn một lần cô Thảo đã chứng kiến việc hiến binh Nhật lùng bắt người yêu mình cùng đồng đội; may mà họ đều trốn thoát.

Tham gia đội Tuyên truyền Xung phong ở Hà Nội do Trần Huy Liệu huấn luyện và phụ trách, nhưng không hiểu do đâu mà cậu Bảy lại có quan hệ mật thiết với Trần Văn Giàu (thường được gọi thân mật là Sáu Giàu), một nhà lãnh đạo cộng sản ở Nam Kỳ lớn hơn cậu 4 tuổi. Rất có thể Sáu Giàu là người đã mang đến cho Bảy Nguơn những ý tưởng đầu tiên về cách mạng ở Việt Nam.

 Cuộc cách mạng tháng Tám do Việt Minh lãnh đạo đã nhanh chóng thành công ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, trước lúc quân Trung Hoa tiến vào miền Bắc và quân Anh kéo vào miền Nam nước ta để giải giáp quân Nhật. Trong cuộc mít tinh bao gồm một biển người đầy khẩu hiệu và cờ hoa rực rỡ tại vườn hoa Ba Đình ở thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một quốc gia độc lập mới của dân tộc ra đời sau hơn 80 năm bị ngoại bang cai trị. Cha tôi đã tham gia cuộc mít tinh trọng đại đó. Về sau, ông còn kể rằng bức chân dung đặc tả Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn trước máy phóng thanh là một bức ảnh phục dựng. Chính ông có mặt trong lúc dàn dựng để chụp bức ảnh lịch sử này.

 

Bộ máy chính quyền của nước Việt Nam mới đã được thành lập theo kiểu mẫu của một chế độ dân chủ cộng hòa đích thực. Trích dẫn các nguyên lý  trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp, bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam đã khẳng định Nhân quyền là nền tảng của chế độ chính trị mà đất nước đã lựa chọn. Văn kiện bất hủ ấy không hề trích dẫn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, tuyệt nhiên không đả động đến đấu tranh giai cấp - nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản mà đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã từng nhập tâm trước khi trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tên gọi của nước Việt Nam mới là biểu trưng của chế độ mới. Tên gọi đó gắn liền với tiêu ngữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” xuất phát từ chủ nghĩa Tam Dân của nhà cách mạng dân tộc dân chủ Tôn Trung Sơn của Trung Quốc, đã đáp ứng đầy đủ nguyện vọng của dân tộc.

Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu năm 1946, mặc dù còn có những hạn chế về giá trị đích thực của nó do trình độ dân trí còn quá thấp kém, vẫn là sự kiện rất quan trọng trên con đường xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới đã quy định đầy đủ mọi quyền tự do của công dân, không có điều khoản nào trao đặc quyền lãnh đạo cho một đảng hay một giai cấp. Quốc hội cũng lập nên chính phủ chính thức do cụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch, một chính phủ liên hiệp các đảng phái và nhân sĩ trí thức không đảng. Bên cạnh các bộ trưởng Việt Minh cùng các bộ trưởng không đảng phái, còn có các bộ trưởng thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng (gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách)- hai tổ chức được quân đội Trung Hoa hậu thuẫn và do đó được đặc cách tham gia quốc hội. Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) giữ chức phó chủ tịch và cựu Hoàng đế Bảo Đại (đã trở thành công dân Vĩnh Thụy) cũng được cử làm cố vấn tối cao của chính phủ. Khi ấy Đảng Cộng Sản Đông Dương đã tuyên bố tự giải tán (nhưng vẫn hoạt động bí mật), nên các đảng viên tham gia quốc hội và chính phủ chỉ với danh nghĩa Việt Minh.

Bộ máy chính quyền của nước Việt Nam mới xứng đáng đại diện cho toàn dân tộc vừa thoát ách nô lệ. Nhờ đó, mọi tầng lớp nhân dân đã tin tưởng và ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh chèo lái con thuyền quốc gia vượt qua mọi phong ba bão táp để bảo vệ độc lập và tự do của Tổ quốc. Gia đình ông Phán nhiệt tình tham gia mọi phong trào do chính phủ phát động. Trong “Tuần lễ Vàng”, mọi người hăm hở đóng góp nữ trang cho chính phủ. Gia đình thực hiện “Hũ gạo cứu đói” bằng cách phát chẩn gạo cho dân nghèo. Các cô các cậu trong nhà cũng tham gia dạy các lớp “Bình dân học vụ” giúp dân thanh toán nạn mù chữ, đồng thời theo học các lớp cứu thương.

Ba tôi rất tự hào là mình đã tham gia cách mạng từ ngày tiền khởi nghĩa và trở thành công chức trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam mới. Thoạt đầu ông công tác tại Bộ Tuyên truyền, có lúc đã làm phát thanh viên đài Tiếng nói Việt Nam; nhưng không hiểu tại sao sau đó ông lại được chuyển về Bộ Canh nông. Dù ở cương vị nào, ông cũng hết sức tận tâm hoàn thành nhiệm vụ.

 

 Việc cậu Bảy trở thành quan chức chính phủ cũng trở thành niềm vui của gia đình ông Phán Thanh. Riêng cô Thảo vốn đã hết lòng yêu thương, nay lại có thêm sự cảm phục và ngưỡng mộ cậu. Trong tâm trí cô, không một chàng trai nào sánh được với người yêu của mình. Còn cậu Bảy vẫn đi lại thăm nom gia đình ông Phán theo tình cảm thân thiết như xưa, không hề tỏ ra là mình đã trở thành một nhân vật quan trọng. Chỉ có một điều khác trước là, trong khi trò chuyện với ông Phán và gia đình, cậu thường nói về tình hình chính trị, và không quên nhắc đến những ý tưởng và hành động sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Phán rất vui khi được bình luận về thời cuộc cùng với cậu, và thường đồng ý với chàng rể tương lai của mình. Chứng kiến đám quân Tàu nhếch nhác lôi thôi lếch thếch chân tay phù thũng gồng gánh đồ đạc dẫn theo cả vợ con kéo vào Hà Nôi, ông Phán lắc đầu: “Quân Đồng Minh gì mà trông như thổ phỉ thế này!”. Cậu Bảy cười mà nói rằng trong đạo quân ô hợp ấy cũng có một đơn vị chính quy trông rất có tư thế là Sư đoàn 93. Cậu còn cho ông Phán biết những mưu toan không vừa của đám tướng lãnh Tàu. Hai người cùng quan tâm đến việc các đồng tiền “Quan kim” và “Quốc tệ” của Trung Hoa Dân Quốc do đạo quân đó mang theo, tung vào thị trường Việt Nam ngày càng nhiều, khiến cho những người “am hiểu thời cuộc” ở Hà Nội tìm cách tích trữ chúng để làm giàu với hy vọng loại ngoại tệ này sẽ tăng giá. Khi quân Pháp nổ súng tái xâm lăng Nam Bộ, hai người bình luận rất nhiều về tương lai cuộc kháng chiến của ta ở đây. Cậu Bảy cho  biết Hồ Chủ tịch đã gửi điện và thư cho Tổng thống Mỹ Truman đề nghị Hoa Kỳ công nhận nền độc lập của Việt Nam và yêu cầu Liên Hiệp Quốc can thiệp để ngăn chặn cuộc xâm lược của Pháp ở Nam Bộ. Khi chính phủ ta ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng Ba cho phép Pháp đưa quân ra miền Bắc để thay cho quân Tàu rút về nước, ông Phán sợ rằng có thể người Pháp sẽ tái lập ách thống trị thuộc địa như trước. Cậu phân tích cho ông thấy kế sách khôn ngoan “lùi một bước để tiến hai bước”của chính phủ, vừa loại trừ được quân Tàu, vừa tranh thủ được thời gian hòa hoãn với Pháp để củng cố lực lượng của ta.

Bản Hiệp định là một nước cờ chính trị rất hay của cụ Hồ, nhưng cũng làm cho những người “am hiểu thời cuộc” bị một đòn bất ngờ choáng váng: cùng với việc quân Tàu rút về nước, các đồng “Quan kim” và “Quốc tệ” của chúng bị mất giá một cách khủng khiếp, chỉ còn là những tờ giấy lộn. Gia đình ông Phán cũng bị vạ lây trong vụ này. Vì nghe theo lời dụ dỗ của những người “am hiểu thời cuộc”, bà Phán đã đem bán ngôi nhà mà gia đình đang ở để thu về một bọc “Quan kim” rất lớn. Nay bà phải cay đắng đem cả bọc tiền giấy ấy ra đốt. Thế là gia đình ông Phán trở thành những người ở thuê trong ngôi nhà vốn là tài sản lưu truyền của chính mình.

 

 Khi những đạo quân Pháp xuất hiện trên đường phố Hà Nội với lá cờ “tam tài”, mọi người đều cảm thấy bất an. Với tâm trạng đầy lo lắng cho vận mệnh của dân tộc, cậu Bảy và gia đình ông Phán chăm chú theo dõi các cuộc hội đàm Pháp-Việt tại Đà Lạt và tại Fontainebleau cũng như chuyến viếng thăm nước Pháp của Hồ Chủ tịch. Cho đến khi bản Tạm ước được ký kết ngày 14-9, mọi người mới cảm thấy nhẹ nhõm. Bằng kinh nghiệm và tri thức của môt công chức thâm niên ngành tư pháp, ông Phán thừa nhận rằng những sự nhượng bộ của ông Hồ để đổi lấy hòa bình theo văn kiện này là rất đúng.

Hai người có thể nói với nhau đủ mọi chuyện, nhưng không hề nhắc tới việc cưới xin. Cậu Bảy không đề xuất, và ông Phán cũng không gợi ý. Có lẽ họ hiểu ngầm với nhau rằng giữa lúc nước nhà đang trong cơn nguy biến, thì phải lo việc công trước khi nghĩ đến tình riêng.

Nền hòa bình giành được qua bản Tạm ước quá mong manh trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp. Chẳng bao lâu sau ngày Hồ Chủ tịch về nước, quân Pháp đột kích quân ta ở Lạng sơn rồi nổ súng đánh chiếm Hải Phòng và khiêu khích ngay tại Hà Nội. Xe nhà binh Pháp phóng bạt mạng trên các đường phố thủ đô không kể ngày đêm. Những vụ xe Pháp cán chết người, lính Pháp bắt phụ nữ đem đi hãm hiếp hoặc ngang nhiên bắn chết công an Việt Nam xảy ra như cơm bữa. Một hôm cậu con trai của bác Khâm, khi ấy mới 14 tuổi, từ ngoài phố chạy về nhà loan báo: “ Chúng chiếm Phòng Thông tin của ta ở Tràng Tiền rồi!”. Vẻ mặt cậu bé đầy phấn khích, biểu lộ rõ ràng lòng căm thù quân xâm lược. Lòng căm thù ấy đã dâng lên đến tột đỉnh trong trái tim người Hà Nội.  Lệnh chiến đấu chưa có, nhưng sự chuẩn bị chiến đấu đã được xúc tiến vô cùng khẩn trương. Người Hà Nội đã mang cả bàn ghế, giường tủ và những vật dụng quý giá khác ra đường để xây đắp các ụ chiến đấu chắn ngang đường phố. Các nhà liên kế trong từng dãy phố được đục tường thông sang nhau để quân đội có thể cơ động đánh địch. Các đội  Quyết tử quân được thành lập với các chiến sĩ cổ quàng khăn đỏ sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Chính phủ kêu gọi tất cả những ai không có nhiệm vụ chiến đấu nhanh chóng tản cư ra khỏi thành phố để tránh bom rơi đạn lạc.

Trung tuần tháng 12, đại bác Pháp bắn tan nát phố Hàng Bún rồi lính Pháp xông vào nhà dân giết hàng loạt dân lành tay không tấc sắt; tiếp đó chúng đánh chiếm Bộ Tài Chính của ta. Ngày 18, Bộ Tổng chỉ huy Pháp gửi tối hậu thư cho chính phủ Việt Nam, đòi trong vòng 2 ngày phải giải giáp lực lượng tự vệ và trao quyền cai quản Hà Nội cho nó. Bị dồn đến đường cùng nhưng đã chuẩn bị trước, chính phủ Việt Nam quyết định trả lời một cách đích đáng.

20 giờ đêm 19 tháng 12 năm 1946, đèn điện toàn thành phố vụt tắt. Trong đêm đông tối mịt, lửa đạn bùng lên cùng tiếng súng rền vang khắp Hà Nội. Nhận được mệnh lệnh chiến đấu, các chiến sĩ Việt Nam anh dũng lao vào trận quyết chiến với quân cướp nước. Khi bình minh vừa rạng trong khói lửa rực trời, Đài Tiếng  nói Việt Nam đã truyền đi Lời  kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Hồ Chủ tịch:

 

“… Hỡi đồng bào, chúng ta phải đứng lên!..

Bất kỳ đàn ông, đàn bà; bất kỳ người già, người trẻ; không chia tôn giáo, đảng phái, giai cấp; hễ ai là người Việt Nam đều phải ra sức chống thực dân Pháp cứu Tổ Quốc…”

 

Thủ đô Hà Nội đã đứng lên, và toàn dân tộc bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp.

 

  6. Tuần trăng mật

 Ông Phán Thanh đưa gia đình rời Hà Nội đi tản cư từ trước khi xảy ra vụ tàn sát ở phố Hàng Bún. Nhờ cậu Bảy báo trước rằng chiến tranh sắp bùng nổ và Hà Nội sẽ trở thành chiến trường, ông quyết định ra đi trước khi chiến sự bắt đầu. Khi ấy bà Cả đã mất khá lâu; các con bà đều lớn tuổi, đã ra ở riêng và có sự nghiệp riêng rồi, nên ông để họ tự quyết định, không yêu cầu họ phải ra đi. Ông trả công hậu hỹ và thưởng thêm tiền cho những người giúp việc, để họ về quê kiếm sống. Mang theo tiền bạc, áo quần và đồ đạc thiết yếu, ông cùng bà Hai với 4 người con lên một chiếc xe hơi đã thuê trước, có cậu Bảy cùng đi đưa tiễn, rời khỏi ngôi nhà êm ấm với biết bao kỷ niệm, để bước sang một đoạn đời mới trên con đường trường chinh của dân tộc.

Chắc rằng ông Phán đã suy nghĩ nhiều về sự biến đổi cuộc đời đối với cả gia đình khi quyết định ra đi. Ông cho rằng sự biến đổi ấy chỉ có thể là tốt hơn. Sau một thời gian tản cư để tránh bom đạn, cả gia đình sẽ lại trở về mái nhà xưa, dù có thể bị tàn phá nhưng sẽ xây dựng lại, sống thanh bình trong một đất nước độc lập, tự do, không còn bóng quân xâm lược. Chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu? Không ai tính trước được. Sau này, có người kể lại rằng anh ta mang theo 4 bánh xà phòng thơm đi tản cư theo kháng chiến, và tin rằng số chất tẩy rửa thơm tho ấy đủ để tắm gội cho đến ngày chiến thắng. Ông Phán không tính thời gian theo sự hao mòn xà phòng, nhưng tin rằng ngày ấy không quá xa. Những người con cùng đi với ông bà Phán còn quá trẻ nên luôn háo hức với những điều mới lạ mà thời cuộc mang đến cho mình. Họ cảm thấy đi tản cư vui như được tham gia một chuyến dã ngoại dài ngày cùng thầy me, nên đã mang theo những cây đàn yêu quý để có thể ca hát tại nơi ở mới. Chỉ riêng cô Thảo là có dáng trầm tư, vì suy nghĩ về tương lai của gia đình và của mối tình với cậu Bảy.

Nơi ở đầu tiên của gia đình ông Phán trên đường tản cư là nhà một người bà con ở làng Thượng Phúc thuộc huyện Thanh Oai tỉnh Hà Đông, cách Hà Nội khoảng 30 km. Tại đây, sau khi trao đổi với ông Phán một số địa chỉ và cách thức liên lạc với nhau, cậu Bảy âu yếm chào tạm biệt cô Thảo, ước hẹn sẽ sớm được gặp lại nhau, rồi lên xe trở về nhiệm sở để chuẩn bị cùng với cơ quan đi kháng chiến.

Khi chiến sự bùng nổ ở Hà Nội, gia đình ông Phán vẫn còn ở lại đây với hy vọng sẽ nhanh chóng được trở về nhà cũ. Nhưng khi được biết chính phủ đã dời khỏi thủ đô về lại chiến khu để tiến hành cuộc “kháng chiến trường kỳ”, rồi lại có tin Bộ Canh Nông của cậu Bảy đã chuyển về Thanh Hóa, nơi quê hương bản quán của bà Hai, ông quyết định đưa gia đình về đây sinh sống lâu dài. Cả gia đình xuống bến đò Tam Quan bên bờ sông Nhuệ, đi thuyền đến Ninh Bình rồi lên tàu hỏa về tỉnhThanh Hóa. Khi ấy, theo sự phân chia chiến trường của chính phủ, tỉnh này thuộc về Liên khu 4 (bao gồm 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; gọi tắt là Thanh-Nghệ-Tĩnh).

 

 Một chiều lạnh giá đầu năm 1947, đoàn tàu hỏa dừng bánh tại ga Thị xã Thanh Hóa, mọi người hối hả chuyển hành lý xuống sân ga. Cô Thảo đứng trông đồ, trong khi bà Phán giục ông đi hỏi thăm địa chỉ Bộ Canh Nông. Bỗng có ai đó từ phía sau đặt tay lên vai cô Thảo và nói: “Em về đấy à?”. Giật mình quay lại, cô bỗng lặng đi khi nhận ra người đó; cùng lúc, cô Dung và cô Quỳ reo lên: “Me ơi! Anh Nguôn đây rồi!” Thì ra cậu Bảy nhận được tin báo về hành trình của gia đình ông Phán nên đã ra ga đón. Cả gia đình được đưa về ở tại nhà một người bà con gần gũi của bà Phán.

Ít hôm sau, cậu Bảy tới thăm cô Thảo và đột ngột ngỏ lời:

 -          Anh cưới em nhé?...

 Chờ đợi câu này đã lâu, nhưng vẫn cảm thấy bất ngờ trong niềm hạnh phúc dâng tràn, cô đáp nhỏ nhẹ:

 -          Em sợ lắm!...

-          Nếu không cưới thì đến bao giờ chúng ta mới lại có thể gặp nhau?

-          Em không biết, anh hỏi ý kiến me ấy!

 Rồi không đợi cậu đi hỏi ý kiến me, mà chính cô làm việc ấy:

 -          Me ơi me, anh Nguơn muốn cưới con!

 Dĩ nhiên ông bà Phán chấp thuận, và ngay lập tức đi tìm thầy xem ngày tốt để cử hành hôn lễ. Cậu Bảy cũng thuê chỗ ở mới tại một biệt thự xinh xắn cho cặp uyên ương về ở sau ngày cưới. Khi ấy thị xã đang tiến hành “tiêu thổ kháng chiến” bằng cách phá cầu đường, phá nhà và các xí nghiệp để cản bước tiến và gây khó khăn cho địch nếu chúng đến. Vì vậy, hôn lễ được cử hành gọn trong ngày 17-1, nhưng vẫn đủ các thủ tục thường lệ. Buổi sáng, chú rể cùng với các đại diện nhà trai do đích thân Bộ trưởng Bộ Canh nông Huỳnh Thiện Lộc dẫn đầu, tháp tùng có ông Đào Thiện Thi-Giám đốc Kho bạc của Bộ và phu nhân, ông Nguyễn Ân Triệu-chuyên viên cao cấp cùng một số quan chức khác. Trong những bộ trang phục sang trọng, phái đoàn ngồi ô tô đến gặp gia đình và họ hàng  nhà gái làm lễ đón dâu. Cô dâu trang điểm lộng lẫy trong bộ áo dài nhung đỏ quần trắng cùng chú rể chỉnh tề trong bộ complet màu mỡ gà cúi lạy tổ tiên trước bàn thờ. Xong, tất cả mọi người lên xe hơi ra khách sạn dự tiệc cưới. Giấy hôn thú được làm ngay tại bàn tiệc. Buổi tối, đôi vợ chồng mới đãi tiệc trà tại cơ quan Bộ. Vì cả thị xã đã bị cắt điện, nên bữa tiệc được soi sáng bằng ánh lửa lung linh của hàng chục chiếc đèn dầu, tạo nên một không khí ấm cúng và thân mật. Bên ông Bộ trưởng và phái đoàn đón dâu buổi sáng, bữa tiệc thêm đông vui với sự hiện diện của Thứ trưởng Ngô Tấn Nhơn, hai quan chức-nhà thơ nổi tiếng là Xuân Diệu và Huy Cận (nguyên Bộ trưởng) cùng các viên chức khác. Xuân Diệu đã ngẫu hứng sáng tác ngay một bài thơ đọc tặng đôi vợ chồng mới, chúc họ “đầu năm sinh Nguơn lớn, cuối năm đẻ Nguơn con!”

 Sau Tết nguyên đán Đinh Hợi, tức khoảng nửa tháng sau ngày cưới của ông Đổng lý Văn phòng, Bộ Canh Nông được Chính phủ điều chuyển lên Việt Bắc. Toàn thể cán bộ và nhân viên được chia thành nhiều nhóm lần lượt lên đường. Đoán biết rằng cuộc sống ở Việt Bắc sẽ vô cùng gian khổ, ông Đổng  định để vợ ở lại với cha mẹ. Nhưng được các bạn đồng nghiệp thuyết phục, ông quyết định cả hai vợ chồng cùng đi. Đoàn đi có 4 người: hai chuyên viên cao cấp là Đồng Sỹ Hiền và Nguyễn Ân Triệu cùng với ông bà Đổng. Vì con đường chính qua Hà Nội bằng tàu hỏa hoặc ô tô đã bị ta phá hoại và địch phong tỏa không thể dùng được, đoàn đã đi theo một tuyến đường đặc biệt để đảm bảo bí mật. Từ bến đò thị xã đi ca nô ngược sông Mã lên vùng thượng du tỉnh Thanh, rồi lên bờ đi xe ngựa băng qua miền rừng núi Hòa Bình, Sơn Tây. Đến một bến đò vắng bên bờ sông Thao lại xuống thuyền xuôi dòng, rồi ngược dòng sông Lô thẳng tiến vào chiến khu Việt Bắc. Mặc cho tiết trời mùa đông giá lạnh, chuyến đi thật bình yên, lại luôn băng qua những vùng rừng núi hoang sơ với phong cảnh lạ mắt và tuyệt đẹp, nên các bạn đồng hành nói đùa với vợ chồng ông Đổng rằng: “Đây là chuyến du ngoạn trong tuần trăng mật của anh chị!” Khi ngồi trên xe ngựa theo đường nhỏ xuyên rừng, mọi người bắt gặp từng đàn bươm bướm đông hàng trăm con, mỗi con to bằng cả bàn tay có màu sắc sặc sỡ với hoa văn giống nhau, bay lượn đuổi theo xe. Đi thuyền trên sông Lô, mọi người say sưa ngắm cảnh rừng núi rậm rạp xanh tươi hai bên bờ soi bóng xuống dòng sông xanh biếc; thỉnh thoảng lại gặp một đàn khỉ, leo trèo trên cây kéo ra tận bờ sông như để chào đón con thuyền lướt qua. Trời tối, thuyền êm trôi dưới ánh trăng mờ ảo, mọi người  mặc áo ấm cùng trò chuyện và ngắm cảnh trăng nước mênh mông. Bà Đổng khẽ cất tiếng hát các bài “Suối Mơ” và “Thiên Thai” của Văn Cao. Đêm khuya, tất cả chui vào ngủ trong mui thuyền.

Chính tôi đã được tạo thành trong chuyến du ngoạn nên thơ ấy. Sau này, ba tôi từng nói với má tôi rằng: “Con chúng ta sở dĩ thông minh là nhờ được thụ thai trên dòng sông chảy!” Ba tôi đã dựa trên kinh nghiệm của người xưa mà nhận xét như vậy chăng? Về sau khi đã trưởng thành, tôi cảm nhận được rằng hoàn cảnh khi được nảy sinh dường như có ảnh hưởng đến tính cách và khí chất của mình, đặc biệt là một tâm hồn lãng mạn.

Con thuyền đậu lại ở bến đò thị xã Tuyên Quang, mọi người lên bờ, đến tạm trú tại ngôi nhà của một chủ đồn điền cũ người Pháp nay đã bỏ hoang. Ít hôm sau, một nữ cán bộ của chính phủ đến đón, đưa đoàn đi đường bộ về châu Sơn Dương rồi phân chia mọi người về ở các nhà dân đã được chuẩn bị sẵn. Trong lúc chia tay ông bà Đổng và ông Đồng Sỹ Hiền, ông Nguyễn Ân Triệu trịnh trọng tuyên bố: “Kể từ đây, cuộc kháng chiến gian khổ của chúng ta đã bắt đầu!”

Các Bài viết khác