NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 1 (phần ,3,4)

( 18-11-2013 - 06:28 PM ) - Lượt xem: 616

NYS NHT - Bạn đọc \"Người yêu sách\" từng đọc ông qua nhiều bài viết trên tập san. Ông viết về Nguyễn Huy Tưởng ngay trong số ra mắt, về Phùng Quán và Vũ Trọng Phụng, về Hoàng Hữu Đản - \"nhà văn hoá uyên bác\" và Nguyễn Đình Thi - người \"nghệ sĩ lớn\" - trên những số gần đây nhất. Ông cũng là tác giả của các bài viết về từ và nghĩa tiếng Việt, về bảng chữ cái và các âm phụ, cả về những điều gây tranh cãi ở một cuốn sách mới ra... Kể cũng phải thôi, ông là nhà giáo ưu tú, tiến sĩ Lê Vinh Quốc, người có đầy đủ tư cách và nhiệt tình để luận bàn về những vấn đề trên. Bây giờ, mời bạn đọc về ông, qua tập hồi ký mà ông gọi là \"tiểu thuyết hồi tưởng\". Tác phẩm có tiêu đề \"Nước chảy dưới chân cầu\"

3. Dòng họ ngoại

 

tôi sinh ngày 5-10-1924 (nhằm ngày 7 tháng Chín năm Giáp Tý theo âm lịch), có tên khai sinh là Phùng Thị Thảo, một cái tên giản dị và khá phổ biến của phụ nữ Bắc Kỳ. Khi sinh ra tôi, má hơn 23 tuổi.

Ông ngoại tôi là Phùng Văn Thanh, con trưởng cụ đồ nho Phùng Văn Thúy với cụ bà nhũ danh Lê Thị Khuyên làm nghề buôn bán nhỏ. Dòng họ Phùng của ông có nguồn gốc ở Sơn Tây, ra Hà Nội lập nghiệp đã mấy đời nên đô thị này trở thành quê hương bản quán. Là người thuộc lớp nho sĩ cuối cùng của nước ta ở Bắc kỳ, lại tiếp thu được những học vấn mới do người Pháp mang đến xứ Đông Dương thuộc địa của họ, ông được bổ dụng làm Chủ sự tại Tòa án Thượng thẩm Hà Nội trực thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương. Chức vụ của ông thuộc vào bậc trung trong guồng máy chính quyền, được dân ta quen gọi là Thông phán, nên ông ngoại tôi thường được gọi là ông Phán Thanh, hoặc đơn giản hơn là ông Phán.

Ông có hai bà vợ. Bà cả nhũ danh Vũ Thị Tít sinh cho ông bốn người con (hai trai, hai gái) và bà hai nhũ danh Phạm Thị Nhung cũng có bốn con (ba gái, một trai). Nếu như ở Nam Bộ, người ta loại bỏ chữ “cả” ra khỏi thứ tự các con trong gia đình, thì ở Bắc Kỳ người ta lại chỉ chú trọng đến chữ “cả” để gọi người con đầu lòng; còn những đứa con tiếp theo là thứ mấy thì không cần quan tâm, vì chúng chỉ được gọi bằng tên. Trưởng nam của ông ngoại tôi là bác cả Phùng Gia Huấn (còn có tên riêng ở nhà là Phúc nên thường được gọi là Cả Phúc), tiếp theo là bác Phùng Thị Sâm trưởng nữ (gọi theo tên chồng là Khâm), rồi đến bác Phùng Trác Ngọc thứ nam và thứ nữ là bác Phùng Thị Yến (tên riêng để gọi ở nhà là Trà). Mẹ tôi là Phùng Thị Thảo, con trưởng của bà hai nhưng là con thứ năm trong gia đình. Sau mẹ tôi là cậu Phùng Huy Bính, dì Phùng Thị Phù Dung và dì Phùng Thị Hồng Quỳ của tôi.

Ông ngoại tôi luôn giữ gìn gia pháp theo các giá trị về trung-hiếu-tiết-nghĩa, nhân-nghĩa-lễ-trí-tín và công-dung-ngôn-hạnh. Nhưng ông không nệ cổ mà sẵn sàng cho các con tiếp thu nền văn hóa mới do người Pháp đem lại. Ở công sở, ông mẫn cán chu toàn phận sự một cách quang-minh-chính-đại mà tuyệt nhiên không nhận quà cáp biếu xén của bất cứ ai. Làm việc trong công sở của người Pháp, nhưng ông luôn mặc quốc phục với áo dài khăn đóng, rất hiếm khi dùng âu phục. Ông cũng không lấy lòng thượng cấp bằng bất cứ cách nào, ngoại trừ sự cần-kiệm-liêm-chính và chí công-vô tư. Các sếp Tây thường mắng mỏ những thuộc cấp người Việt bằng những từ ngữ thô bỉ, nhưng chưa có ai dám xúc phạm tới ông. Do sự mẫn cán và những phẩm hạnh cao quý của mình, ông Phán đã được Tổng thống Pháp trao tặng huân chương Bắc đẩu Bội tinh và triều đình Huế ban huy chương Kim Khánh; còn cụ bà thân sinh ông được vua ban bức trướng “Mệnh Phụ Phu Nhân” bằng lụa vàng ghi công dưỡng dục của cụ đối với một người con trung hiếu. Trong các dịp lễ tết, chính vị sếp người Pháp thường hay tặng quà cho ông Phán và các con; còn ông chỉ là người đáp lại một cách lịch sự. Có lần, một tên trộm lẻn vào nhà ông Phán bị cảnh sát bắt giao cho gia chủ xử lý. Ông nói rằng: “Người ta vì nghèo túng mà bất đắc dĩ phải làm càn”, rồi bảo cảnh sát tha cho tên đó.

Nhà ông Phán gắn biển số 14 trên đường phố nhỏ mang tên Wielé (sau này sẽ đổi là Tô Hiến Thành) ở gần hồ Bảy Mẫu, được xây theo lối nhà phố cổ không có lầu nhưng rộng rãi khang trang. Với chiều ngang hơn 5m ở mặt tiền và kéo dài hơn 30m vào bên trong, lại thêm 10m của dãy nhà ngang hợp thành hình thước thợ, ngôi nhà có 5 gian phòng chính, 2 sân và các công trình phụ. Trước hết là gian bán hàng nhìn ngay ra mặt phố. Mặc dù lương tháng của ông Phán khá cao (khoảng 120 đồng bạc Đông Dương, tương đương 3-4 lượng vàng), nhưng bà hai vẫn thích buôn bán để tăng thu nhập, nên phải có gian này. Thoạt đầu bà cho người ta thuê để bán tạp hóa, rồi mở hiệu may; nhưng sau đó chính bà đứng ra bán nước mắm rồi bán gạo. Cổng chính được mở bên hông gian này để đi vào các gian phòng khác. Kế tiếp gian bán hàng là gian thờ, nơi đặt bàn thờ gia tiên với chân dung các vị tổ tiên treo ngay ngắn trên tường. Nối tiếp gian thờ là sân trước, được trang trí bằng một hòn non bộ soi mình trong ao nước nhỏ có một cặp voi sứ ở hai bên bờ. Sân trồng nhiều cây hoa lan và hoa thiên lý để lấy hương thơm và bóng mát. Đi qua sân là đến phòng khách, có sập gụ, tủ chè và một bộ salon cũng bằng gỗ gụ có mặt bàn đá cẩm thạch hình tròn với 4 chiếc ghế tựa được chạm trổ tinh vi. Ở hai bên cửa vào có một cặp đôn sứ, trên đặt chậu cây thường là hoa thủy tiên. Căn phòng  còn được tô điểm bằng các đôi câu đối và các nhạc cụ dân tộc treo trên tường: đàn tranh, nguyệt, hồ, nhị…Tiếp theo là phòng ăn, nơi mọi thành viên trong gia đình thường ngồi “xếp chân bằng tròn”quây quần quanh mâm cơm, trên một tấm phản lớn bằng gỗ quý được kê cao. Còn có cả một bộ bàn ăn theo kiểu Tây để sử dụng khi cần thiết. Rồi đến bếp, buồng tắm, phòng vệ sinh. Đi qua sân sau thì đến dãy nhà ngang có phòng ở của cụ bà thân sinh ông Phán. Khi cụ quy tiên thì trở thành nơi ở của bà cả, rồi đến bác Sâm (thường được gọi theo tên chồng là Khâm) cùng cậu con trai độc nhất sớm mồ côi cha là anh Tín. Ngoại trừ phòng này, trong nhà không có phòng ngủ riêng cho bất cứ ai. Ông Phán ngủ ngay tại phòng khách, bà hai nằm tại gian thờ với cô con gái út; còn những người khác có giường ngủ đặt xen vào các gian phòng. Gia nhân trong nhà thường có một anh bếp lo việc cơm nước, một anh xe chuyên chạy xe kéo và một cô hầu gái mà khi ấy được gọi là “con sen” làm các việc vặt trong nhà.

Tôi không biết ngôi nhà này được xây dựng từ bao giờ, chỉ biết rằng nó đã tồn tại từ khi dân Hà thành vẫn còn dùng nước giếng và thắp đèn dầu. Thế rồi nền văn minh mới đã đến với ngôi nhà cũ khi đèn điện làm sáng trưng các gian phòng, quạt máy xua tan sự nồng nực, nước máy qua các đường ống dẫn thẳng vào trong nhà…Củi và than vẫn được dùng để nấu bếp, nhưng đã có diêm để nhóm lửa rất tiện lợi, hơn hẳn cách giữ lửa và lấy lửa xưa kia. Diêm được quý đến nỗi mọi người thường chẻ mỗi que ra làm hai để dùng được lâu hơn. Chỉ có phòng vệ sinh là vẫn sử dụng loại “hố xí thùng” để người ta ngồi xổm mà thả phân qua lỗ hổng vào chiếc thùng hứng bên dưới. Khi thùng sắp đầy sẽ có người của sở Vệ sinh đến “đổi thùng”.

 

 

Ngôi nhà ông ngoại tôi luôn là tổ ấm của gia đình, mặc dù ông có phần yêu quý bà hai hơn bà cả. Dù là con của bà nào, các anh chị em trong gia đình vẫn hết sức thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Vì các con bà cả lớn tuổi hơn nhiều, đã sớm lập gia đình riêng (ngoại trừ cô Trà), nên các con bà hai thân thiết với nhau hơn. Họ thường cùng nhau chơi đùa, cùng đi dạo phố hoặc rủ nhau đi xem chiếu bóng. Cả bốn chị em cùng ham thích văn nghệ, nên trong nhà luôn có các nhạc cụ thông thường của tân nhạc: đàn guitar, banjo, alto, mandoline…Các ca khúc lãng mạn trữ tình của những tác giả tân nhạc Việt Nam  đầu tiên thường vang lên trong các buổi ca nhạc gia đình. Tuy vậy, mỗi người cũng có một sự đam mê khác nhau. Cậu Bính rất ham thích vẽ, nên đã vào học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Dì Dung say mê ca hát và hát khá hay. Dì Quỳ nhỏ nhất nhà lại ham thích múa. Mẹ tôi cũng thích ca nhạc, nhưng còn ham mê đọc sách hơn. Ngoài chương trình học ở trường nữ học Đồng Khánh, cô Thảo thường đọc tiểu thuyết của nhóm Tự lực Văn đoàn, lại còn được cha dạy chữ nho và giảng truyện Kiều cho nghe. Cô đã học hết bậc Cao đẳng Tiểu học và còn là một trong số ít phụ nữ Hà thành đầu tiên biết và dám đi xe đạp.

Những ngày Tết bao giờ cũng là dịp tận hưởng hạnh phúc trong tình cảm gia đình. Việc chuẩn bị Tết thường được bắt đầu vài hôm trước ngày ông Táo lên chầu trời. Cây tràng pháo leo bên cổng nhà phải được chăm bón sao cho những chuỗi hoa màu đỏ hoa hiên của nó bừng nở giống như tràng pháo. Ông ngoại tôi không quên treo ngoài cổng tấm biển “Về quê ăn Tết”, để khỏi phải nhận quà biếu của những người hàm ơn hay muốn nhờ vả mình. Nhà cửa được sơn sửa sạch đẹp; mọi thứ đồ đồng và đồ gỗ trong nhà đều được đánh bóng. Sập gụ được trải đệm gấm hoặc đệm dạ, bộ ghế tiếp khách cũng được trải đệm thổ cẩm và đệm thêu. Các giò thủy tiên được mua về để gọt tỉa củ cái sao cho hoa nở đúng ngày đầu năm mới. Một cây nêu được dựng giữa sân để yểm trừ ma quỷ, không cho chúng vào nhà. Bà hai cùng cô con gái lớn của mình đi xe kéo lên phố Hàng Đường và chợ Đồng Xuân mua các loại thực phẩm đặc biệt dùng trong dịp Tết, bao gồm cả thịt, đậu và lá dong để gói bánh chưng. Các cô cậu khác đến làng hoa Nhật Tân chọn mua cành đào, rồi mua các loại hoa quả về trưng bày. Ông Phán đích thân dùng mực tàu giấy đỏ viết đôi câu đối treo hai bên bàn thờ, thay cho đôi câu của năm cũ cũng do chính ông viết. Mọi người trong nhà lần lượt tắm gội thật sạch sẽ trước lúc giao thừa với nước nóng và hương thảo mộc hay xà phòng thơm tùy sở thích của mỗi người. Tối 30, sau khi mọi sự chuẩn bị đã hoàn tất, cô Thảo thường giúp bà nội mình bỏ tiền vào các phong bao màu đỏ để cụ mừng tuổi con cháu vào ngày đầu năm mới. Ông Phán đốt trầm hương trong chiếc đỉnh trên bàn thờ và chuẩn bị lễ cúng giao thừa. Mùi trầm hương êm dịu và thanh cao lan tỏa khắp nhà tạo nên cảm giác lâng lâng thoát tục trong những ngày Tết vui tươi và đầm ấm. Đúng lúc chuông đồng hồ điểm 12 tiếng giữa đêm giao thừa, một tràng dài gồm hàng trăm pháo “tép” xen lẫn những quả pháo “đùng” treo trên cây nêu được đốt nổ vang nhà cùng tiếng pháo râm ran trên khắp thành phố, để xua đi những gì xui xẻo trong năm qua và đón mừng năm mới tốt lành vừa tới.

Sáng mùng một Tết, mọi người trong nhà ăn mặc thật đẹp với quần áo mới tụ họp ở phòng khách. Cụ bà thân sinh ra ông ngoại tôi mặc áo gấm chít khăn nhung ngồi nghiêm trang trên sập gụ (khi mẹ tôi ra đời thì cụ ông đã mất). Dưới nền gạch có trải chiếu hoa, toàn thể con cháu (cả dâu và rể) theo thứ tự từ trên xuống dưới lần lượt tiến đến chúc thọ cụ, rồi được nhận phong bao tiền mừng tuổi của cụ. Ai cũng muốn cho lời chúc của mình thật hay để cả nhà cùng vui. Trong ngày hôm đó, ông bà ngoại tôi đi chúc tết họ hàng và bạn bè. Các con ở nhà thỏa sức vui chơi hay đi cùng bè bạn. Bữa cỗ tối hôm đó rất thịnh soạn. Ngoài bánh chưng với dưa hành và “giò, nem, ninh, mọc” theo truyền thống, mâm cỗ thường có bốn món nước là bóng, miến, măng, mực với thịt gà luộc kèm lá chanh, thịt xào hạnh nhân trộn mộc nhĩ nấm hương và một món nộm chua ngọt hơi cay giúp người ăn thêm ngon miệng. Sau bữa ăn, cả nhà cùng nhau đánh bài: người lớn “xoa” mạt chược hay đánh tổ tôm, trẻ con chơi tam cúc hay cá ngựa cho đến tận đêm khuya.

Thời con gái của mẹ tôi cứ thế êm đềm trôi năm này qua năm khác, ngay cả khi chiến tranh thế giới bùng nổ rồi quân Nhật kéo vào Đông Dương.

 

 

Một hôm, chị Thảo cùng em Bính ra phố mua đồ dùng, tiện thể ghé vào một hiệu phở để điểm tâm. Đang ăn bỗng phát hiện một chàng trai ngắm nhìn mình say đắm, chị thẹn thùng tự nhủ: “Nhìn gì mà ghê thế!”,nhưng trong lòng bỗng dưng xao xuyến. Trong bộ trang phục giản dị gồm sơ mi trắng và quần kaki, chàng thanh niên trán cao có đôi mắt sáng với tia nhìn mạnh mẽ và đôi môi tươi cười hợp thành một khuôn mặt rất đẹp trai đã làm rung động tâm hồn cô thiếu nữ 19 tuổi. Rõ ràng tiếng sét ái tình cùng một lúc đã đánh trúng cả hai người mà sau này sẽ trở thành cha và mẹ tôi.

 

 

 

 

 

4. Hai tấm vé tàu

 

Ngay từ những ngày đầu sống tại Hà Nội, cha tôi đã nhận xét rằng thành phố này nhỏ hơn và không nhộn nhịp bằng Sài Gòn, nhưng lại vượt trội về nhan sắc phụ nữ. Thật may cho ông là các cô gái Hà thành được thán phục về nhan sắc đó lại rất ưu ái đối với chàng sinh viên Nam Bộ sẽ trở thành cha tôi sau này. Theo tiêu chuẩn tối ưu của các cô để kén chồng lúc bấy giờ là “đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu” và “phi cao đẳng bất thành phu phụ”, thì chàng sinh viên ấy đã đáp ứng một cách hoàn hảo, nhưng họ không chinh phục được chàng. Có cô vừa đẹp lại vừa giàu đã trao cho chàng cả tâm hồn và thể xác, nhưng vẫn không nhận lại được một tình yêu đích thực. Vậy mà chính cô gái được gặp ngẫu nhiên trong hiệu phở đã làm cho tình yêu của chàng thực sự bừng nở. Có đôi mắt nhung rất đẹp và cánh mũi thanh tú trên khuôn mặt trái xoan xinh xắn, nhan sắc của cô Thảo vẫn không rực rỡ bằng một số kiều nữ mà chàng từng quen biết; miệng cô còn hơi rộng so với những đôi môi chuẩn mực. Nhưng cô có dáng người thon mảnh với vẻ đẹp dịu dàng phảng phất hình bóng người mẹ tội nghiệp đã sinh ra chàng. Có lẽ chính dung mạo đặc biệt ấy đã chinh phục được trái tim chàng.

Kể từ khi chàng tìm được đến nhà để làm quen với nàng, tình cảm giữa hai người ngày càng sâu đậm và quan hệ giữa chàng với gia đình ông Phán cũng ngày càng thêm gắn bó. Một hôm, chàng được ông Phán mời đến nhà dùng cơm. Để chuẩn bị cho sự kiện đặc biệt này, chàng phải ôn lại những kinh nghiệm đã qua về những bữa cơm của người Bắc. Khi cả nhà đã ngồi quanh mâm, thì mọi người theo thứ tự từ dưới lên trên đều phải cất lời mời, khởi đầu là người con út trong nhà: “Mời thầy-me, mời các anh chị xơi cơm!”; cho đến khi vị gia chủ “mời cả nhà!” thì bữa ăn mới chính thức bắt đầu. Có lần đến nhà một người bạn vào đúng bữa cơm, chàng được mọi người vui vẻ “ mời anh xơi cơm!”. Nhưng khi đã trèo lên phản để cùng ngồi ăn, chàng bỗng phát hiện ra ánh mắt ngạc nhiên của mọi người. Vài người bên mâm còn ghé tai nhau  thì thầm điều gì đó. Về sau, chàng mới biết rằng khi người Bắc mời đột xuất trong bữa cơm, thì khách nên từ chối khéo bằng môt lời xã giao, mà không nên đáp ứng bằng cách vui vẻ nhập cuộc như người Nam vẫn vậy. Ở quê nhà, ngay từ nhỏ chàng đã được dạy cách nhai ngậm miệng sao cho không phát ra tiếng động và văng thức ăn, cách đặt tay trên bàn sao cho lịch sự, và cả cách sử dụng dao nĩa với khăn ăn khi dùng cơm tây, nhưng chưa hề biết cách mời cơm như người Bắc.

 Thật may là trong bữa cơm tại nhà người yêu, chàng không phải dùng đến những kinh nghiệm nói trên. Thường ngày gia đình ông Phán vẫn ăn cơm trên phản, nhưng để chiêu đãi cậu Bảy, ông đã dọn cơm trên bộ bàn ăn kiểu Tây với bát đĩa, ly tách cùng dao nĩa và rượu vang sang trọng, chẳng khác gì những bữa tiệc của ba má chàng ở quê hương. Chàng thật sự cảm động về bữa ăn đặc biệt mà gia đình nàng dành cho mình.

Không khí đầm ấm vui vẻ trong gia đình nàng dường như đã bù đắp cho chàng những gì mà chàng chưa nhận được đầy đủ ở gia đình mình nơi quê hương. Chính không khí ấy đã làm sâu sắc thêm tình cảm giữa chàng với nàng. Luôn giữ gìn đạo đức gia phong, nhưng ông bà Phán cũng thoải mái tạo điều kiện để con gái cùng bạn trai của mình có thể tự do tâm sự. Mỗi khi chàng đến nhà, phòng khách được hoàn toàn dành riêng cho hai người. Dần dần, nàng được phép đi chơi cùng chàng ở bên ngoài; rồi chính nàng cũng hay đạp xe đến thăm chàng ở nhà riêng mà chàng thuê trọ. Trong những lúc gần nhau với tình cảm dâng trào, nàng bao giờ cũng biết cách giữ gìn phẩm hạnh của mình. Điều ấy không làm chàng phật ý, mà còn khiến cho chàng thêm quý trọng người yêu.

 

 

Chuyện cậu Bảy yêu một cô Bắc Kỳ đã đến tai ông Hội đồng (có lẽ do cậu Mười viết thư về kể với cha). Ông liền viết thư cho cậu: “Ba không chấp nhận việc con có quan hệ luyến ái với một cô gái Bắc. Mong con học thành tài rồi trở về quê để yên bề gia thất”. Nhưng khi nhận được thư phúc đáp của cậu, nêu rõ gia cảnh và đức hạnh của cô cùng tình cảm tha thiết của cậu, thì ông không nhắc tới chuyện này nữa.

Một hôm, ông Phán hỏi rằng sau khi học xong cậu có muốn ra làm quan thì cho biết để ông giúp đỡ. Cậu thẳng thắn trả lời: “Học xong con muốn đi dạy học chứ không thích làm quan!” Ông không nói gì thêm với cậu, nhưng nói riêng với bà hai: “Cậu này thật gàn, bao nhiêu người muốn làm quan mà không được, mình lại thích đi dạy học!” Nhưng chỉ ít lâu sau, mọi người sẽ dần dần hiểu rằng tại sao cậu lại có ý muốn khác người như vậy.

Cuối năm 1944, những cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ nhắm vào các căn cứ Nhật ở Bắc Kỳ ngày càng trở nên ác liệt. Nhân dân Hà Nội và Hải Phòng đã thường xuyên phải xuống hầm trú ẩn khi còi báo động cất lên. Bom Mỹ đã mấy lần trút xuống Hà Nội; nhiều cuộc ném bom làm tan nát từng dãy phố ở cảng Hải Phòng với hàng nghìn người chết được moi ra từ các đống gạch vụn. Bác Cả Phúc đã mất tích sau một trận bom ở Hà Nội, để lại người vợ góa rất đảm đang tháo vát cùng hai con thơ là anh Bảo và chị Hồng. Cô Trà, người con gái chưa chồng của ông Phán cũng bị mất tích sau một cuộc oanh tạc  ở  cảng Hải Phòng. Tại quê nhà, ông Hội đồng hết sức lo lắng cho hai cậu con trai đang học ở Hà Nội. Ông viết thư khuyên hai cậu bỏ học về quê, rồi đánh điện ra lệnh cho hai con phải trở về. Cậu Mười sẵn sàng tuân lệnh cha, nhưng cậu Bảy còn băn khoăn do dự vì người yêu của mình khi ấy đang lâm trọng bệnh. Thời tiết mùa đông lạnh và ẩm cùng với việc chạy bom ra hầm trú ẩn ngày cũng như đêm dường như đã mang đến cho Hà Nội một nạn dịch sốt thương hàn, mà trong nhà ông Phán Thanh có cô Thảo là người mắc phải. Cô liên tục sốt cao và chìm đắm trong hôn mê. Ông Phán phải mời một bác sĩ điều trị riêng cho cô; mọi sự ăn uống và thuốc thang của cô đều nhất nhất tuân theo chỉ định của bác sĩ. Đích thân bà hai nấu cháo hoặc súp rồi lọc lấy nước cho con uống, không để một mảnh thức ăn nào lọt vào bụng người bệnh để có thể làm thủng ruột mà chết. Cậu Bính được cắt cử thường xuyên đi mua nước đá về chườm hạ nhiệt cho chị. Cậu Bảy thường xuyên đến thăm để chăm sóc người yêu. Cô cứ nằm mê man như vậy hết ngày này sang ngày khác, tóc rụng gần hết, người khô đét lại và bao nhiêu nhan sắc bay đi hết. Chính trong thời gian ấy, cậu Mười ra ga Hàng Cỏ mua hai vé tàu hỏa xuyên Đông Dương để thúc giục anh mình cùng trở về quê. Nếu là người ích kỷ thì đây là lý do chính đáng để cậu Bảy từ biệt người yêu đã trở nên tàn tạ đang cận kề cái chết. Nhưng vì không phải là người như vậy, nên cậu Bảy đã đưa lại tấm vé của mình cho em, khuyên cậu Mười về trước, còn mình phải ở lại một thời gian để lo cho bệnh tình cô Thảo. Cậu không quên nhờ em chuyển lời xin lỗi tới ba má và nói rõ lý do khiến cậu chưa về được.

Kể từ ngày cậu Bảy tiễn cậu Mười lên tàu vào Nam, cuộc đời của hai anh em Lê Văn Nguơn và Lê Văn Đồng sẽ đi theo hai con đường hoàn toàn khác nhau, và họ sẽ không còn gặp lại nhau nữa. Cũng từ đó, cậu Bảy sẽ không bao giờ còn gặp lại được cha mẹ mình.

(Còn tiếp)

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác