NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 1 (phần 1,2)

( 15-11-2013 - 02:18 PM ) - Lượt xem: 1001

NYS NHT - Bạn đọc \"Người yêu sách\" từng đọc ông qua nhiều bài viết trên tập san. Ông viết về Nguyễn Huy Tưởng ngay trong số ra mắt, về Phùng Quán và Vũ Trọng Phụng, về Hoàng Hữu Đản - \"nhà văn hoá uyên bác\" và Nguyễn Đình Thi - người \"nghệ sĩ lớn\" - trên những số gần đây nhất. Ông cũng là tác giả của các bài viết về từ và nghĩa tiếng Việt, về bảng chữ cái và các âm phụ, cả về những điều gây tranh cãi ở một cuốn sách mới ra... Kể cũng phải thôi, ông là nhà giáo ưu tú, tiến sĩ Lê Vinh Quốc, người có đầy đủ tư cách và nhiệt tình để luận bàn về những vấn đề trên. Bây giờ, mời bạn đọc về ông, qua tập hồi ký mà ông gọi là \"tiểu thuyết hồi tưởng\". Tác phẩm có tiêu đề \"Nước chảy dưới chân cầu\". Được sự đồng ý của tác giả, BBT xin chuyển đến bạn đọc lần lượt các chương tập hồi ký này.

Buổi sáng một ngày mùa đông u ám cuối tháng Mười Hai năm 1947, tức tháng Một năm Đinh Hợi theo âm lịch, tôi đã được sinh ra tại một chiếc lán trong rừng gần thị xã Tuyên Quang thuộc căn cứ địa Việt Bắc của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Khi ấy, ba tôi là Đổng lý Văn phòng Bộ Canh Nông trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đang lãnh đạo toàn dân kháng chiến. Còn má tôi, vốn là con gái một gia đình công chức ở Hà Nội, đã theo chồng lên chiến khu.

Phong tục lúc bấy giờ thường dùng chức vụ để gọi thay tên, nên mọi người gọi ba má tôi là “ông bà Đổng”, mặc dù cả hai người đã mang bí danh là anh Vân và chị Hoàn. Lên Việt Bắc đầu năm 1947, ba má tôi được bố trí ở tại nhà cụ Muỗi, một gia đình người miền núi sắc tộc Cao Lan, trong một cái làng có một vài nóc nhà gọi là làng Tép, thuộc châu Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang. Gia đình ấy có 4 người: đôi vợ chồng già cùng con trai và con dâu của họ. Khi chính phủ có yêu cầu, họ đã sẵn sàng nhường bớt  một phần nhà mình cho ông bà Đổng ở. Đó là một ngôi nhà sàn trên đồi trong rừng sâu, có bếp lửa giữa sàn. Vốn quen sống nơi đô thị phồn hoa và chưa hề trải qua lối sinh hoạt nơi thôn dã, nay bỗng nhiên được sống trong rừng sâu núi thẳm với biết bao gian khổ, ông bà Đổng phải vận dụng rất nhiều nghị lực để vượt qua. Mọi tiện nghi sinh hoạt của xã hội văn minh tuyệt nhiên không có ở nơi mà người ta vẫn sống như tổ tiên mình hàng nghìn năm trước. Những đêm tối mịt mùng lạnh lẽo chỉ được soi sáng và sưởi ấm bằng ngọn lửa bập bùng. Là công chức của chính phủ nên ngoài tiền lương ông Đổng còn được cấp gạo nhà nước, một thứ gạo cũ rất hôi và thường có lẫn lông ngựa. Các loại rau thông thường ở miền xuôi lại không hề có ở miền núi, nên phải hái rau rừng và măng nứa luộc chấm muối để ăn cơm. Rau bao và rau tàu bay là hai thứ rau rừng dễ kiếm ở núi rừng Việt Bắc. Vì đã có thai và bị nghén nặng nên bà Đổng luôn khốn khổ về chuyện ăn uống. Cơm gạo hôi với thức ăn quá đạm bạc khiến bà thường nôn ọe mà không nuốt được, phải bịt mũi uống nước cho trôi cơm. Thèm của chua nhưng không tìm được các loại hoa quả  thích hợp, bà phải giải quyết bằng mấy trái mận rừng do cô con dâu cụ Muỗi hái được. Bà thèm bún khiến ông phải ngâm gạo ở suối rồi tìm cách chế ra những sợi “bún” to bằng chiếc đũa.

Sự kham khổ về đời sống vật chất là như vậy, nhưng những thiếu thốn về tinh thần còn khó chịu đựng hơn. Mỗi ngôi nhà trong rừng đều biệt lập và cách xa những ngôi nhà khác trên những quả đồi khác. Bởi thế, mối quan hệ giao tiếp thường xuyên chỉ diễn ra giữa những người trong nhà với nhau. Họa hoằn mới có bạn bè đến thăm hay một vài người dân địa phương ghé qua để bán mật ong hay thịt mà họ kiếm được hoặc nuôi được. Đó chính là dịp để cải thiện chút ít về đời sống vật chất và cả tinh thần. Ông Đổng còn tẩm mật ong vào thuốc lá để tăng thêm hương vị cho cuộc sống. Trong nhà không có sách báo và bất cứ phương tiện truyền thông nào để liên lạc với thế giới bên ngoài. Vật duy nhất giúp ông bà Đổng giải trí là một chiếc đàn mandoline mà ông đã cố mang theo lên chiến khu.

Mặc cho cuộc sống gian khổ, tác phong và kỷ luật làm việc của cơ quan nhà nước vẫn được giữ nghiêm. Trước cổng “tư dinh”ông Đổng tức nhà cụ Muỗi luôn có một người lính quân phục chỉnh tề cầm súng đứng gác. Mỗi lần ông  ra vào, người lính đều dập gót đứng nghiêm giơ tay lên mũ chào. Về sau, ông cảm thấy lễ tiết trang trọng này có phần không phù hợp với cuộc sống ở rừng, nên xin được miễn chế độ lính gác, chỉ giữ lại một liên lạc viên kiêm bảo vệ, được bố trí ở nhà dân gần đó. Một lần, ông Đổng suýt bị hổ vồ. Do bị kiết lỵ, đêm đó ông cầm đèn pin ra ngồi gần chuồng lợn để đại tiện. Bỗng ngửi thấy một mùi hôi kỳ lạ vô cùng khó chịu, ông liên tục bấm đèn soi rọi nhưng không phát hiện được gì. Xong việc, ông đi qua sân để lên nhà. Đúng lúc ấy, cả nhà cụ Muỗi thức dậy đốt đuốc, la hét rồi mỗi người cầm một đồ vật gõ kêu inh ỏi. Bỗng một tiếng lợn kêu “éc!”vang lên chói tai, rồi những tiếng “éc!”tiếp tục kêu nhỏ dần. Thì ra hổ về rình mồi ngay tại tư dinh ông Đổng và nhảy vào bắt lợn. Nhờ có đèn pin, ông đã thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc.

Để bảo đảm bí mật, các cơ quan và công chức chính phủ không được ở lâu một chỗ. Sau hơn nửa năm ở nhà cụ Muỗi, ba tôi dược điều đi công tác xa nên ông đưa má tôi đến cùng ở với gia đình một người bạn đồng liêu là bác Đào Thiện Thi, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp của Bộ. Vợ chồng bác Thi chăm sóc má tôi rất chu đáo, đặc biệt quan tâm đến tình trạng thai sản của vợ bạn. Khi cảm thấy thai phụ đã gần đến ngày sinh, hai bác cho người khiêng võng chuyển má tôi về cơ quan Bộ ở gần thị xã Tuyên Quang, đúng vào lúc ba tôi kết thúc đợt công tác cũng quay trở về đó. Vừa thu xếp xong chỗ ở mới thì  nhận được tin quân Pháp tấn công lên Việt Bắc. Cùng với cơ quan bộ, ba tôi cất giấu mọi giấy tờ cần thiết rồi đưa má tôi vào sâu trong rừng ở nhờ nhà dân. Khi các trận đánh ác liệt giữa Vệ quốc đoàn (tức quân đội quốc gia Việt Nam) với quân viễn chinh Pháp diễn ra dọc sông Lô, ba tôi đi dự tang lễ ông Đào Đức Thông, một chuyên viên có tầm cỡ ở Bộ đã từ trần do bệnh nặng mà không đủ thuốc và phương tiện điều trị. Tại tang lễ này, ba tôi gặp lại kỹ sư Đinh Văn Hớn, một bạn đồng hương Nam Bộ nay cũng đang làm việc tại Bộ. Bác Hớn giới thiệu cho ba tôi một người giúp việc rất chăm chỉ tháo vát lại biết nghề đỡ đẻ, lớn hơn ba tôi vài tuổi. Đó là bà Thường, một phụ nữ còn nhuộm răng đen với tóc vấn khăn, bỏ lại ông chồng già ở nhà quê, lên tỉnh thành giúp việc nhà cho các gia đình người Pháp hoặc người Việt.

 

 Khi quân Pháp rút khỏi Việt Bắc và tình hình trở lại yên tĩnh, ông Đổng thuê người làm một chiếc lán với cột gỗ phên tre lợp lá theo kiểu nhà sàn để gia đình được ở riêng tại một quả đồi có rừng tre nứa bao phủ. Một đường ống làm bằng những thân tre dẫn nước từ suối vào tận sàn nhà rất thuận tiện cho việc tắm rửa và nấu nướng. Với sự trợ giúp đắc lực của bà Thường, ông bà Đổng còn nuôi bò lấy sữa, nuôi gà và trồng rau; nhờ đó đời sống được cải thiện khá nhiều. Ông giáo Bình, một người bạn của ông Đổng (mà bà nhà nhận ra là người thầy cũ dạy mình ở Hà Nội) tức cảnh sinh tình đã miêu tả bằng thơ nơi cư ngụ lúc đó của vợ chồng bạn mình (với tên thật là “ông bà  Nguôn”) như sau:

 

Được ngày nhàn hạ đến chơi Nguôn

Một lán xinh xinh, một mảnh vườn

Trước đẳng tung tăng gà một lứa

Trong chuồng bò sữa với bê con

Ngoài vườn rau cải xanh tươi tốt

Dưới lũng trong veo suối gảy đàn

Một tổ uyên ương đầy hạnh phúc

Chiến khu đâu thấy cảnh nào hơn hơn.

 

Giờ đây, thời hạn sinh nở của bà Đổng trở thành mối quan tâm chính của cà nhà, và của cả một số bạn bè ở cơ quan Bộ. Theo tính toán của ông bà, thì thời hạn ấy phải nằm trong khoảng đầu tháng 11 (tức tháng Mười âm lịch); nhưng mãi sau đó vẫn chưa thấy dấu hiệu gì cùa sự sinh nở. Người ta bàn tán rằng bà “chửa trâu”, tức là mang thai ngang với thời hạn của loài trâu, khoảng 12 tháng. Từ đó, mọi người bày cho bà một mẹo vặt để kết thúc thai kỳ: giải thoát cho những con trâu đang bị cột. Nhưng đã nhiều lần dùng mẹo này mà việc “chửa trâu”của bà vẫn chưa chấm dứt. Trong khi đó, tại nhà một nhân viên Bưu điện trên một quả đồi khác thuộc khu rừng kế tiếp, người vợ của ông này cũng sắp đến kỳ mãn nguyệt khai hoa. Ông ta tìm đến gặp bà Đổng để xin được mời bà Thường về đỡ đẻ cho vợ mình. Bà Thường kiên quyết từ chối, vì sợ rằng mình sẽ vắng mặt khi bà chủ trở dạ; rồi hướng dẫn ông ta cách thức hộ sinh. Ông ta quỳ xuống lạy, khiến bà Đổng động lòng thương mà bảo bà Thường cứ đi giúp người ta, vì bản thân mình chưa thấy dấu hiệu gì rõ rệt. Vâng lời chủ, sau khi đã chuẩn bị sẵn mọi phương tiện để hộ sinh cho bà chủ ở nhà, bà Thường ra đi theo người đàn ông tội nghiệp.

Đúng lúc nhân vật quan trọng ấy vắng mặt, thì cái việc được chờ đợi bấy lâu đã đột ngột xảy ra. Giữa đêm chuyển dần sang một ngày mới, khi ông bà Đổng đang say giấc ngủ thì bà bỗng vỡ ối trở dạ khiến ông run bắn cả người không chỉ vì thời tiết giá lạnh. Vội mặc thêm quần áo rét, đốt một ngọn đuốc lớn, ông Đổng bước nhanh từ sàn nhà xuống sân trong lúc trời mưa nặng hạt và gió thổi ào ào. Vừa huơ ngọn đuốc, ông vừa hú gọi bà Thường. Anh liên lạc viên đang ở một nhà khác  nghe tiếng gọi của thủ trưởng vội vã chạy đến trình diện. Ông liền cử anh đi mời bác Hà, một bác sĩ thú y ở cơ quan Bộ, đến giúp. Bác sĩ Hà phi ngựa đến; rồi bà Thường nghe được tiếng ông chủ gọi cũng kịp trở về. Bà đun nước sôi và nhanh tay sát trùng các dụng cụ. Vị bác sĩ thú y tiêm ngay cho bà Đổng một ống thuốc trợ lực. Thế rồi bác Hà cùng anh liên lạc xốc nách sản phụ, còn bà Thường lo đỡ đẻ. Bà Đổng cắn chặt răng chịu đau và ra sức rặn. Cuộc vượt cạn không dễ dàng kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Khoảng 8 giờ sáng (tức giờ Thìn), khi ánh ban mai chiếu được những tia yếu ớt vào chiếc lán giữa rừng, thì một sinh linh mới ra đời trong hình hài một đứa con trai. Sinh linh ấy chính là tôi, được cất tiếng khóc chào đời ngày 27 tháng 12 năm 1947 dương lịch, nhằm ngày 16 tháng Một năm Đinh Hợi theo âm lịch.

Dường như đã có một số thống kê khoa học cho thấy những người được sinh ra vào cuối năm trong mùa đông lạnh lẽo thường có khí chất buồn và một tâm trạng không mấy lạc quan , mặc dù họ thường thông minh và khá thành đạt. Còn những ai tin vào số tử vi theo quan niệm dân dã ở nước ta lại nói rằng người tuổi Hợi cầm tinh con lợn mà sinh vào giờ Thìn là lúc lợn được cho ăn, thì cuộc đời sẽ an nhàn sung sướng, vì dường như mọi sự đã được sắp đặt sẵn để người đó hưởng. Riêng má tôi vẫn lấy làm tiếc rằng lẽ ra tôi được sinh trong tháng 11 (tức tháng Mười âm lịch được gọi là tháng Hợi) thì đời tôi sẽ tốt đẹp hơn; vì tháng Lợn “bọc”năm Lợn là vừa khéo. Nhưng tôi lại được sinh vào tháng 12 (tức tháng Một âm lịch,được gọi là tháng Tý cầm tinh con Chuột), thì cuộc đời sẽ không tránh khỏi gian nan vất vả; vì tháng Chuột “bọc” năm Lợn làm sao cho xuể!

 Lẽ dĩ nhiên, những điều tiên đoán trên mãi về sau này tôi mới biết; chứ vào lúc mới được sinh ra thì chẳng ai nhận biết được sự hiện diện của chính mình trên cõi đời này, nói gì đến số mệnh của tương lai! Cũng mãi về sau khi đã trưởng thành, tôi mới nhận thức được rằng: sự ra đời của mỗi con người  chính là sự xuất hiện của một chủ thể mới, để đối trọng với khách thể là vũ trụ vô biên. Hơn thế nữa, mỗi con người ra đời đều là sản phẩm duy nhất của tạo hóa, chỉ tồn tại một lần và không lặp lại lần thứ hai. Dale Carnegie rất đúng khi ông khẳng định rằng: “ Từ thuở khai thiên lập địa đến nay không ai giống hệt ta, và mãi về sau này sẽ chẳng có ai giống ta như đúc”. Bởi thế mà Xuân Diệu tuyên bố như đinh đóng cột khi ông tự hóa thân vào rặng núi Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất”.

 

2. Dòng họ nội

 

Ba tôi sinh ngày 24-1-1915 (nhằm ngày 10 tháng Chạp năm Giáp Dần theo âm lịch), có tên đầy đủ là Lê Văn Nguơn - một cái tên đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ, vì chỉ có dân Nam Kỳ mới phát âm từ “nguyên” phổ thông thành “nguơn”. Người Bắc hiếm khi đọc được những từ có âm “uơ” như vậy, nên thường gọi chệch tên ba tôi thành “Nguyên”, “Nguôn” hay “Ngươn”. Khi tôi vừa ra đời, ba tôi gần tròn 33 tuổi.

Quê cha tôi là xã Đa Phước Hội, quận (sau đổi là huyện) Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, nơi tòa nhà của ông nội tôi tọa lạc bên bờ con sông cùng tên với quận. Dòng họ Lê của ông cha tôi về lập nghiệp trên đất này từ thuở nào không rõ; chỉ biết rằng khi chúa Nguyễn Ánh nổi lên chống nhà Tây Sơn và được giới điền chủ phú hào Nam Kỳ ủng hộ, thì cố tổ của dòng họ là Lê Văn Quân đã trở thành một đại tướng tâm phúc của chúa từ năm 1778. Sử sách còn ghi lại rằng Lê Văn Quân là người ở Kiến Hưng, dinh Trấn Định (tức Định Tường), có sức mạnh, giỏi chinh chiến nên được người đương thời gọi là Dũng Nam Công (người hùng xứ Nam). Khởi binh cùng với Châu Văn Tiếp và kết hôn với em gái của vị danh tướng này, Lê Văn Quân đã lập nhiều chiến công trong cuộc chiến kéo dài vô cùng gian nan, nên được chúa phong là Khâm sai, Bình tây Đô đốc Chưởng Tiền quân dinh, quản lãnh tướng sĩ dinh Trấn Biên, tước Quận công. Chẳng may thất bại trong một trận đánh đẫm máu tại Bình Thuận vào năm 1790, ngài đã tự sát để giữ trọn khí tiết và tạ tội với chúa. Quận công Lê Văn Quân không được chứng kiến ngày đăng quang của hoàng đế Gia Long để lập nên triều đại nhà Nguyễn vào năm 1802, nhưng công tích và danh tiết của ngài đã được khắc ghi trong chính sử của triều đình, dòng dõi ngài vẫn tiếp tục lưu truyền mãi về sau, mặc dù gia phả của dòng họ bị thất truyền.

Khi người Pháp chiếm trọn Nam Kỳ Lục Tỉnh, xóa bỏ bộ máy cai trị của triều đình để dựng nên một nền hành chính mới với hàng loạt tỉnh mới thành lập trên đất thuộc địa mà họ gọi là Cochinchine, thì dòng họ Lê của ông cha tôi đã có một vị thế đáng nể ở tỉnh Bến Tre mới thành lập. Đến đời ông nội ba tôi là cụ Lê Phúc, sản nghiệp của gia đình đã bao gồm trên 100 mẫu tây (hectar) ruộng đất. Nhưng chính ông thân sinh của ba tôi tức ông nội tôi là Lê Văn Giải mới là người đưa sản nghiệp ấy lên đến mức cao nhất. Khi ba tôi đến tuổi trưởng thành, thì gia đình đã có hơn 2000 mẫu tây ruộng đất, có thể sánh được với cơ nghiệp của các đại điền chủ khác ở Nam Kỳ. Lẽ dĩ nhiên, để canh tác trên những cánh đồng “thẳng cánh cò bay” đó, ông nội tôi phải dựa vào công sức của hàng trăm tá điền. Cứ mỗi mùa thu hoạch, hàng đoàn ghe bầu lớn lướt trên các kênh rạch lại chở đầy lúa mới gặt về nhà ông chủ bên sông Mỏ Cày. Tại đây, lúa được phơi khô quạt sạch đưa vào các kho lẫm, chờ thương lái từ Sài Gòn-Chợ Lớn đến mua và đem đi xuất cảng. Tòa nhà thừa kế của tổ tiên được ông xây cất thành một dinh cơ đồ sộ, với nền móng bằng đá tảng và những cột gỗ lim lớn cỡ hai người ôm. Dinh cơ còn có cả một sân phơi lúa lát gạch rộng mênh mông và một bến thuyền riêng của gia đình. Vì dinh cơ của mình nằm bên bờ bị lở của con sông Mỏ Cày, nên ông đã cho xây hẳn một bờ kè đá chạy dài mấy trăm mét để ngăn chặn xói mòn. Ông là một trong số những người Việt Nam đầu tiên đặt mua ô tô của Pháp, rồi làm đường ô tô chạy từ nhà nối vào đường liên tỉnh với cả một chiếc cầu sắt bắc qua sông. Ông còn đầu tư xây dựng nhà máy điện Mỏ Cày để thắp sáng quê hương sau bao đời chỉ quen với ánh đèn dầu.

Sự khá giả về kinh tế luôn dẫn tới sự nâng cao địa vị xã hội, khiến ông nội tôi trở thành ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, một cơ quan đại diện của người Pháp và người Việt trong bộ máy chính quyền mà quyền lực thuộc về ngài Thống đốc và các quan Tỉnh trưởng người Pháp. Do vậy, người ta thường gọi ông là “ông Hội đồng”, hoặc thân mật hơn - “Hội đồng Giải”.

 

 Ông Hội đồng luôn được mọi người nể trọng và quý mến không chỉ vì tài sản và địa vị của mình, mà chính là vì nhân cách cao thượng và tấm lòng nhân hậu. Ông cư xử lịch sự, nhưng không bao giờ xu nịnh đối với các quan chức chính quyền. Vốn là một nhà nho, ông dành nhiều thiện cảm và cả sự giúp đỡ vật chất cho các sĩ phu đang tham gia các phong trào yêu nước, mà người thân nhất là nho sĩ Huỳnh  Thúc Kháng. Vợ ông tức bà nội tôi là con gái họ Bùi nhũ danh Thị Nhuận, nên ông có quan hệ thân thiết với người bà con bên vợ là Bùi Quang Chiêu và tham gia nhóm Lập Hiến của ông này. Nhưng khi nhận rõ hoạt động của Bùi mang tính chất đầu cơ chính trị, ông đã cắt đứt quan hệ với người đứng đầu nhóm Lập Hiến đó. Tấm lòng yêu thương con người của ông bà nội tôi thật bao la và rất sâu sắc. Em gái ông là bà Lê Thị Ngữ vừa sinh hạ được một bé trai thì qua đời. Ông bà liền đón đứa trẻ sơ sinh tội nghiệp ấy về nuôi, cho bú một bầu sữa cùng với con đẻ của bà. Đứa trẻ được nuôi dưỡng đầy đủ, được ăn học cho tới khi đi du học tại Pháp và trở thành Dược sĩ, một học vị vô cùng hiếm lúc bấy giờ, rồi sau đó tham gia cách mạng và trở thành nhà ngoại giao danh tiếng Trần Văn Luân. Các tá điền làm ruộng cho ông Hội đồng thừa nhận rằng ông rất công bằng trong việc phân chia hoa lợi và luôn đối xử tốt với họ. Khi phát hiện được một số người con của các tá điền có khả năng và có chí học hành, ông chu cấp tiền bạc để giúp con họ theo học thành tài. Một chàng trai hiếu học nhận được sự chu cấp của ông nội tôi đã trở thành giáo sư Ca Văn Thỉnh, một trí thức nổi tiếng ở Nam Kỳ.

Tuy nhiên, con người ta đôi lúc vẫn bị những nhu cầu bản năng mạnh mẽ lôi kéo vượt khỏi những quy phạm xã hội, và ông nội tôi cũng không tránh được. Ông đã thầm lén quan hệ tình ái với một cô gái nghèo có vẻ đẹp dịu dàng tên là Huỳnh Thị Yên. Cuộc tình thoảng qua tưởng chừng đã lặng lẽ kết thúc khi cô gái bỏ nhà đi để cắt đứt mối quan hệ với ông Hội đồng, nhưng không ngờ cô đã mang thai và sinh hạ một đứa con trai. Trong hoàn cảnh phải làm người mẹ đơn thân bất đắc dĩ, cô đặt tên đứa con không giá thú theo họ mình là Huỳnh Văn Nguơn. Vì không có điều kiện nuôi con, cô đã giao đứa trẻ lại cho chị ruột  mình là vợ viên thư ký của chủ quận Mỏ Cày. Nhưng khi thằng nhỏ lên 8 tuổi thì người mẹ nuôi ấy lại qua đời, khiến cho nó phải vào đời sớm với một thời thơ ấu cùng cực. Đứa trẻ ấy đã lăn lóc ở chợ Mỏ Cày, khi thì giúp việc vặt cho những người bán hàng, lúc lại kéo quạt thuê cho các tiệm hớt tóc. (Hồi ấy chưa có điện nên người ta dùng một thứ quạt lớn làm bằng gỗ và vải, treo trên trần nhà rồi buộc dây kéo tạo ra gió). Thậm chí nó đã từng lên Sài Gòn nhập bọn với đám trẻ “đá cá lăn dưa” (tiếng lóng chỉ bọn ăn cắp vặt những mặt hàng bày bán ở chợ).

Nhiều năm trôi qua, rồi bỗng nhiên trong huyện lan truyền tin đồn rằng ở chợ Mỏ Cày có một thằng nhỏ trông giống ông Hội đồng như tạc. Ông cho điều tra ngọn ngành và nhận thấy đứa trẻ đó đúng là con mình với người tình năm xưa. Thằng nhỏ chính thức được thừa nhận là con của ông Hội đồng khi vừa tròn 11 tuổi; và về sau sẽ trở thành cha tôi. Khi ấy, bà thân sinh ra cha tôi đã lập gia đình riêng và đã sinh một người con gái với chồng chính thức của mình, nên không còn trách nhiệm pháp lý với cha tôi nữa. Dù vậy, cha tôi không bao giờ quên người mẹ đẻ tội nghiệp của mình.

 

 Cởi bỏ bộ quần áo bụi đời để mặc bộ trang phục mới xứng đáng với con trai của ông Hội đồng, cuộc đời cha tôi chuyển hẳn sang một giai đoạn mới. Ông Hội đồng làm lại giấy khai sinh và sửa tên cho đứa con vừa nhận được theo họ mình là Lê Văn Nguơn. Theo truyền thống Nam Bộ, các con được xếp thứ tự từ hai đến mười, để được gọi bằng thứ, thay vì bằng tên. Cha tôi được gọi là Bảy hay cậu Bảy, vì nhỏ tuổi hơn cô Sáu và lớn hơn cô Tám. Những người sinh sau cô Chín và cậu Mười, thay vì được gọi là Út này Út kia như thường lệ, lại được gọi bằng tên mà không có thứ. Hai người em trai có quan hệ mật thiết với cha tôi sau này là Lê Văn Đồng (cậu Mười) và Lê Văn Cao (cậu Cao).

Trong gia đình đông đúc ấy, cậu Bảy được cha mẹ đối xử ngang hàng với tất cả các anh chị em khác, nghĩa là được nuôi ăn học với những điều kiện tốt nhất. Học xong tiểu học ở quê nhà, cậu được gửi lên Sài Gòn theo học tại trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, một ngôi trường nổi tiếng khắp Đông Dương giảng dạy theo chương trình mẫu quốc, do đội ngũ giáo sư đa số là người Pháp đảm trách. Học sinh trường này phần đông là con các gia đình quan chức, trí thức hay nghiệp chủ. Có khi cả thầy và trò dùng xe hơi riêng đi du khảo tại Đà Lạt, Angkor hoặc các danh thắng khác (cậu Bảy biết lái xe hơi từ rất sớm và lái rất giỏi). Khi đã lên đến lớp cuối cấp, cậu Bảy lại có quan hệ bạn bè với một học trò mới nhập trường là Thái tử Norodom Sihanouk của Hoàng gia Cambodge, sau trở thành Quốc vương xứ này. Sinh hoạt trong giới học sinh thượng lưu dư dả về vật chất, cậu vẫn hưởng ứng các phong trào yêu nước như khởi nghĩa Yên Bái (do Việt Nam Quốc Dân Đảng tiến hành) hay Xô Viết Nghệ Tĩnh (do Đảng Cộng Sản Đông Dương phát động). Đã có lúc cậu Bảy tham gia rải truyền đơn, phổ biến báo “Học Sinh”, báo “Việt Nam Hồn” của những người cách mạng.

 

Vốn dĩ thông minh lại có chí học hành, cậu hoàn tất chương trình học không mấy khó khăn. Sau khi tốt nghiệp, cậu được ông Hội đồng gọi về quê để chuẩn bị xây dựng gia đình và phụ giúp ông trông coi điền sản. Vì hai người anh lớn trong gia đình (cậu Ba và cậu Năm) đã lần lượt mất sớm, còn các chị lớn (cô Hai Lê Thị Ẩn, cô Tư Lê Thị Kiều, cô Sáu Lê Thị Thuần) người thì đi lấy chồng, người lại không đủ khả năng quán xuyến công việc, nên cậu Bảy trở thành người giúp việc quan trọng của ông Hội đồng. Cũng như cha, cậu luôn đối xử tốt với tá điền và gia nhân, luôn gần gũi để tìm hiểu đời sống của họ. Cậu suy nghĩ nhiều về vấn đề ruộng đất và nông dân ở Nam Kỳ, và đã viết một tiểu luận về vấn đề này. Rất đẹp trai lại học giỏi và khiêu vũ cũng giỏi, cậu Bảy luôn lọt vào tầm ngắm của các cô gái, kể cả mấy cô “đầm” người Pháp là bạn đồng học, nhưng cậu chưa hề nghĩ tới việc xây dựng gia đình. Đã nhiều lần được cha đưa đi “coi mắt”các tiểu thư con các vị nghiệp chủ lớn trong tỉnh, nhưng năm  tháng cứ trôi qua mà cậu vẫn không ưng ý đám nào. Trong khi đó, cậu lại rất quan tâm đến thời cuộc với những chuyển biến hết sức sôi động: Thế chiến thứ Hai bùng nổ, nước Pháp bại trận ở chính quốc; quân Nhật kéo vào Đông Dương buộc chính quyền Pháp ở đây phải khuất phục; các cuộc nổi dậy chống Pháp trên khắp ba Kỳ và phong trào Việt Minh phát triển… Ở Sài Gòn, tình hình chính trị rất sôi động; nhưng tại một tỉnh miền quê như Bến Tre, mọi sư dường như vẫn bình yên. Vậy mà đột nhiên cậu Bảy thoát ly gia đình, ra Hà Nội để vào học ngành Luật của Đại học Đông Dương-trường đại học duy nhất của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Cậu ra đi mà không có sự chấp thuận của cha, do đó tuyệt nhiên không được ông Hội đồng chu cấp bất cứ thứ gì, ngoài sự tức giận của người cha đối với đứa con ngang ngạnh. Với chuyến đi này, cuộc đời cha tôi lại chuyển sang một giai đoạn mới.

 

 Có một câu hỏi vẫn thường được đặt ra đối với tôi: Tại sao cha tôi lại quyết tâm từ bỏ cuộc sống thượng lưu, với tương lai vững chắc của một người thừa kế sản nghiệp to lớn của gia đình, để đi học nơi xa và đối mặt với những thách thức của một tương lai chưa xác định? Chưa bao giờ cha tôi trực tiếp giải đáp câu hỏi này; chỉ thỉnh thoảng ông tâm sự đôi điều giúp tôi hé mở chút ít về những cảm nghĩ và ý tưởng của ông. Hồi nhỏ, ông có sự mặc cảm về việc mình là đứa con hoang được thừa nhận, nhất là khi có khách đến thăm và tặng quà các con ông Hội đồng mà lại vô tình không biết đến mình. Nhưng tôi nghĩ rằng mặc cảm này đã bị thời gian xóa nhòa, do sự đối xử công bằng và quan tâm sâu sắc của ông nội tôi và cả gia đình đối với cha tôi. Có điều rất rõ ràng là cha tôi không hề ưa thích lối làm ăn tính toán lời lỗ, tăng thu giảm chi để khuếch trương sản nghiệp của một điền chủ. Ông còn chịu ảnh hưởng các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn về tự do cá nhân và tình yêu lãng mạn nên không ưa thích lối sống phong kiến của gia đình. Lý lịch cán bộ của cha tôi còn ghi lại rằng, vào năm 1941 ông đã có quan hệ với một số cán bộ Việt Minh. Dù sao đi nữa, khi đã có một cuộc sống đầy đủ và một trình độ văn hóa cao, tầm nhìn của con người sẽ thoát khỏi những đòi hỏi về bát cơm manh áo, vượt qua cả những lợi ích vật chất to lớn khiến nhiều kẻ khác phải thèm muốn, để hướng tới những giá trị cao đẹp hơn đối với xã hội.

Tại Hà Nội, cậu Bảy thuê một ngôi nhà 2 tầng ngay mặt phố và một thằng nhỏ giúp việc; rồi vừa đi học lại vừa đi dạy tư để có tiền trang trải mọi chi phí. Về sau, khi đã được cha thông cảm và nguôi giận, cậu mới nhận được sự tiếp tế của cha, và còn được đón thêm người em thứ Mười ra Hà Nội cùng học đại học với anh.

 

Một hôm, bước vào một hiệu phở để điểm tâm, cậu trông thấy một cô gái cùng một chàng trai đang ngồi ăn bên chiếc bàn đặt ở góc phòng. Cô gái mặc áo dài nhung đeo kiềng vàng bỗng thu hút ánh mắt cậu như nam châm hút sắt. Dường như cảm thấy có người đang ngắm mình, cô gái quay về phía cậu. Ánh mắt hai người gặp nhau trong một thoáng bối rối ngỡ ngàng. Thế là một tiếng sét ái tình bùng nổ; nó thôi thúc cậu tìm bằng được địa chỉ của cô gái, đến nhà làm quen rồi trở thành người bạn trai thân thiết của nàng. Cô gái ấy sẽ trở thành mẹ tôi sau này.

Các Bài viết khác