NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NGƯỜI BẠN ĐỜI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN HUY TƯỞNG

( 17-03-2014 - 06:14 AM ) - Lượt xem: 797

Riêng các tập nhật ký của ông – có đến 40 tập lớn nhỏ – bà xếp hết vào một chiếc va li con. Những khi nhớ quá lại giở ra xem, để được sống lại những năm tháng cùng ông. Đây là một câu ông viết về nỗi nhớ bà, hồi mới phải tạm chia xa: “Nhớ người lặng lẽ như cái bóng, êm đềm như bông, ngây thơ như trẻ. Em Uyên! Không bao giờ ta thấy yêu em, nhớ em như chiều hôm nay”.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và bà Trịnh Thị Uyên đến với nhau năm 1939, khi ông 27 tuổi và bà 18 tuổi. Hai bên có thể coi là “môn đăng hộ đối”. Ông là con cụ tú Nguyễn Huy Liễn, một nhà nho bất đắc chí, có chút đỗ đạt nhưng không ra làm quan. Bà là con cụ Trịnh Sĩ Trinh, đỗ cử nhân luật rồi được bổ làm quan, khi tri huyện, khi quan phủ. Ông theo Tây học, đậu thành chung rồi kiếm được chân thư kí sở Đoan (sở thuế quan) Hà Nội. Bà con nhà khuê các, có được học đôi ba chữ nghĩa và những gì thuộc lễ giáo, gia phong. Cũng như nhiều cặp vợ chồng khi ấy, cuộc nhân duyên của họ là do mối manh, nhưng cũng có sự đồng thuận của cả hai người…

Sau đám cưới tưng bừng, hai vợ chồng son về sống tại một căn nhà thuê ở phố Duvigneau (nay là phố Bùi Thị Xuân, Hà Nội). Hạnh phúc của họ đã được nhà văn tương lai thuật lại cặn kẽ trong những trang nhật ký có nhan đề Ký sự một tháng tân hôn. Trên cả tình ái, ông nhận thấy ở bà “một kho tàng tính tốt, sẵn dạ hi sinh, và chỉ biết có một điều: yêu chồng và thành thực theo chồng”.

Với những tình cảm ấy, ở cái tổ uyên ương trong tháng tân hôn, ông đã được “hoàn toàn hạnh phúc”, “đã đi gần đến cực độ say sưa”. Có lúc, nhà văn tương lai đã không thể kìm lòng thốt lên: “Ái tình như hơi bốc đầy phòng. Ái tình ở giường, ở tủ, ở ghế, ở bàn, ở tường, ở từng đồ vật nhỏ. Ái tình ở khắp mọi nơi. Vợ tôi đẹp quá trong ái tình”.

Giữa lúc lửa tình đang bén, đôi vợ chồng bị một tin sét đánh. Chưa hết tháng tân hôn, ông bị sở bắt đổi xuống đất cảng. Bấy giờ sở Đoan Hải Phòng cần một thư ký, yêu cầu Hà Nội cho người. Viên chủ sự vốn không ưa ông Tưởng, vì ông không làm ra vẻ mẫn cán trước mặt hắn, cũng không chịu ở lại thêm lúc cuối giờ, nên chẳng mấy băn khoăn hắn chấm ngay ông. Hôm ấy ở sở về, ông Tưởng cố lấy bình tĩnh báo tin cho vợ mà lòng tê tái. Bà nhận tin lặng đi, mãi sau mới khóc được.

Bắt đầu từ đây là cuộc đời gần ít xa nhiều của hai ông bà. Thời gian đầu, bà còn hay xuống được với ông dưới Hải Phòng, chia sẻ với ông cuộc sống khá là tạm bợ. Nhưng rồi hai ông bà có con gái đầu lòng, rồi đứa thứ hai, bà đành ở lại Hà Nội, nương nhờ cha mẹ để lo cho con nhỏ. Đến lúc ông được chuyển lại lên Hà Nội thì cũng là lúc Thế chiến thứ hai đang giai đoạn ác liệt, bà phải theo gia đình đi tỉnh xa để tránh máy bay Đồng minh ném bom Hà Nội, nhằm triệt phá quân Nhật. Rồi ông tham gia công tác xã hội – hướng đạo, truyền bá quốc ngữ, hoạt động Việt Minh… Hoàn cảnh buộc ông phải giữ bí mật với bà, nên ông đi đâu, làm gì, bà không thể biết. Đến khi Cách mạng thành công, ông chính thức trở thành một cán bộ Việt Minh quan trọng, thì công việc cũng luôn đòi hỏi ông phải đi suốt. Rồi kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông chịu trách nhiệm trước đoàn thể tổ chức đưa các văn nghệ sĩ lên chiến khu tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ. Phải nhiều năm sau bà mới ra Việt Bắc được với ông, cùng ông chịu đựng gian khổ, chia sẻ ngọt bùi. Nhưng ông cũng lại đi công tác suốt, khi tham gia chiến dịch, khi được phái đi công tác giảm tô…

Hòa bình lập lại, hai ông bà trở về Hà Nội, nhưng cũng chẳng mấy khi bà được ở gần chồng, vì ông bận công tác tiếp quản Thủ đô, rồi là các công việc của cơ quan văn nghệ. Đến khi ông được thôi công tác lãnh đạo văn nghệ để được chuyên tâm sáng tác, thì lại có yêu cầu đi “thực tế” đời sống sau vụ việc Nhân văn - Giai phẩm. Cùng Nguyễn Tuân, Văn Cao... Nguyễn Huy Tưởng đi tham gia lao động ở Điện Biên gần suốt nửa cuối năm 1958. Trở về sau chuyến đi, đã định tập trung vào việc viết lại tập tiểu thuyết về Hà Nội kháng chiến, sửa lại kịch bản Vũ Như Tô, viết thêm mấy cái truyện cho thiếu nhi thì Nguyễn Huy Tưởng lại có vấn đề về sức khoẻ. Ông cảm thấy đau người, khó ở, đến lúc không chịu được nữa, phải đi bệnh viện thì mới biết mình có cái u ở phổi. Tức là bị ung thư – bệnh chết! Với tất cả lòng khát khao được sống, được tiếp tục viết văn, với tất cả sự chăm sóc tận tình của bệnh viện, người thân, Nguyễn Huy Tưởng đã ra đi một ngày tháng 7 năm 1960, để lại người vợ 39 tuổi đầu và sáu đứa con, cùng tất cả sự lỡ dở của đường đời, đời văn và cuộc sống gia đình. Ngay đến việc đưa vợ con ra hiệu chụp một tấm ảnh gia đình mà ông đã định, cũng không thực hiện được!...

Bà Trịnh Thụ Uyên và năm con (cho tới khi ấy) hồi mới về tiếp quản Thủ đô.

NỬA MÌNH Ở LẠI

Cái chết của ông như một nhát cắt phũ phàng cắt ngang cuộc đời bà. Điều duy nhất khiến bà không bị quỵ ngã, có lẽ chỉ là những đứa con ông để lại cho bà, trong đó có “chú Thắng”, đứa con thứ năm và cũng là con trai duy nhất mà ông chăm chút hơn cả bản thân mình, như ông từng viết trên giường bệnh. Sau thời gian đầu sống lặng lờ như chiếc bóng, bà dần định thần trở lại, trước hết do bản năng tồn tại. Đầu tiên là xin việc đi làm để có tiền nuôi con (hồi còn ông, bà chỉ ở nhà lo việc nội  trợ). Rồi ổn định cửa nhà, xin cho con đi học – con nhà văn không thể thất học được. Tiếp đến là lo bảo quản những gì ông để lại. Sách vở, bản thảo, sổ tay, bà xếp tất cả lại, cho vào tủ, khép lại. Có khóa đấy, nhưng bà không khóa – vì còn để cho con nó biết chứ. Phim, ảnh thì bà xếp lại với nhau, giữa các tấm đều có giấy lót để chống dính, rồi bọc giấy đen, cho vào hòm kín để khỏi mờ. Những phim, ảnh này, về sau được “đưa ra ánh sáng”, sẽ giúp làm giàu thêm không ít di sản của nhà văn quá cố.

Riêng các tập nhật ký của ông – có đến 40 tập lớn nhỏ – bà xếp hết vào một chiếc va li con. Những khi nhớ quá lại giở ra xem, để được sống lại những năm tháng cùng ông. Đây là một câu ông viết về nỗi nhớ bà, hồi mới phải tạm chia xa: “Nhớ người lặng lẽ như cái bóng, êm đềm như bông, ngây thơ như trẻ. Em Uyên! Không bao giờ ta thấy yêu em, nhớ em như chiều hôm nay”. Vậy mà giờ đây bà phải xa ông, không phải một chiều, một ngày, một tháng, một năm, mà là vĩnh viễn! Chẳng còn có thể nữa giãi bày với ông những nỗi niềm chứa chan trong lòng. Bà cũng hay nhớ lại và tự giận mình về cái tính rụt rè. Bà rất ngại viết thư cho ông, chung quy cũng chỉ vì sợ mình ít học, viết không nên câu, xem thư ông lại cười cho. Ông cứ phải nói mãi, thậm chí làm mặt giận, bà mới đánh bạo viết cho ông một lá thư. Đắn đo mãi, cuối cùng bà mới dám viết ở lời đầu thư một chữ “yêu”... Gửi thư đi, bà còn băn khoăn mãi viết như thế liệu có phải không. Giờ đọc nhật ký của ông, bà mới hay mấy lời ấy khiến ông thích biết bao. Ông đã dán lá thư của bà giữa những trang nhật ký, và tự hào ghi, sau khi chép lại câu đầu thư của bà: “Anh rất yêu quý – nàng yêu tôi biết bao”.

ĐI NỐT QUÃNG ĐỜI

Năm 1963, Nhà xuất bản Văn học làm tuyển tập kịch Nguyễn Huy Tưởng. Đương nhiên trong đó có tác phẩm Vũ Như Tô mà bà biết ông đặc biệt tâm đắc. Bà cũng biết ông rất thích lời Đề tựa vở kịch mà ông viết từ lâu nhưng chưa công bố, cho đến khi đó vẫn được dán vào trang đầu một cuốn in từ năm 1946. Không chút băn khoăn, bà đã giới thiệu lời Đề tựa đó với nhà xuất bản và thật mừng vì được họ chấp nhận. Nhưng còn có chút băn khoăn, bà đem chuyện đó kể với nhà văn Nguyễn Tuân. Nhà văn lão thành nói ngay không nên, thậm chí ông còn bảo thế là “dại”, là chưa phải lúc. Nhưng việc đã rồi, đành chịu vậy. Sách in ra, bà để ý thấy mấy lời ấy quả có bị một số người vin vào chữ này chữ nọ để nói rằng tác giả còn có chỗ non yếu về tư tưởng. Nhưng với thời gian, giờ đây, lời Đề tựa kịch Vũ Như Tô được coi là một thành phần hữu cơ không thể thiếu của tác phẩm, và như Giáo sư Trần Đăng Suyền khẳng định, “Đây là một trong những lời đề tựa hay nhất, thâm trầm và sâu sắc nhất trong lịch sử văn học dân tộc”.

Một mối quan tâm đặc biệt của bà là những tập nhật ký của ông. Mặc dù vẫn biết trong đó có nhiều chỗ riêng tư, thậm chí cả chuyện phòng the của ông bà, cũng như nhiều chỗ “nhạy cảm”, “phức tạp”, nhất là về cải cách ruộng đất, về Nhân văn - Giai phẩm, bà vẫn đặt niềm tin vào sự chân thành của ông, vào thiện ý toát ra qua những trang riêng tư ấy. Vì thế, bà vẫn để cho con cái đọc, để chúng được biết sự thật, trước hết về cha chúng. Song đến một lúc nào đó, bà bắt đầu biết “sợ”. Liệu những trang nhật ký đó sẽ ra sao khi lọt vào tay người có dụng ý xấu. Đành rằng bà đã cho tất cả vào một chiếc va li nhỏ, luôn để trong tầm tay để sẵn sàng mang theo người. Nhưng bấy giờ đương thời buổi chiến tranh, máy bay Mỹ ném bom Hà Nội bất cứ lúc nào, ngộ nhỡ bom rơi, nhà đổ, người cũng chẳng được yên mà lo cất giữ. Thôi thì phòng trước vẫn hơn. Thế là bà lấy kéo cắt ở một số trang những đoạn bà cho là “nặng” nhất, có thể có hại cho ông, nếu lọt ra ngoài. Cắt xong, yên tâm về phần “chính trị”, bà lại thấy không đang tâm khi không bảo toàn được di sản của chồng. Bà biết, ông coi tác phẩm như những đứa con – con tinh thần như người ta vẫn nói. Mà những trang nhật ký mang đầy tâm huyết của ông thì cũng khác nào! Cuối cùng, thay vì hủy bỏ, bà để những đoạn nhật ký cắt ra đó vào giữa những trang giấy, những quyển sách, những tập bản thảo khác nhau, âu đành phó cho số phận…

Làn gió Đổi Mới mát lành đã định lại nhiều giá trị, đồng thời tạo điều kiện cho nhiều nhân tố mới được bộc lộ, trong đó có các trang hồi ký, nhật ký của nhiều nhà văn. Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, với tính chân thật nổi trội, ngày càng được sự quan tâm của công chúng. Khi hoàn cảnh cho phép, người viết bài này đã mạnh dạn xin phép mẹ cho công bố nhật ký của cha. Phương châm là cố gắng đưa ra hết những gì có thể. Mà muốn vậy trước hết phải đảm bảo được tính toàn vẹn của nguyên bản. Trong quá trình tập hợp nhật ký của cha mình, tôi đã lần tìm được cả những đoạn nhật ký từng bị cắt ra, để lẫn giữa nhiều giấy má khác. Từ nguồn nguyên liệu ấy, tôi đã biên soạn thành 3 tập Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, tổng cộng khoảng 1700 trang in. Giờ đây, bộ nhật ký đã cấu thành một phần không thể thiếu trong sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, bên cạnh các trước tác như kịch Vũ Như Tô với lời Đề tựa tâm huyết của tác giả, tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô cũng do chính mẹ tôi giao bản thảo cho các bạn văn của cha tôi đưa in… Là người luôn tin vào cuộc sống tự nhiên, tôi không bao giờ muốn đặt giả định nếu như thế này hay không phải thế kia. Chỉ cần biết rằng trong suốt cuộc đời của cha mình và cả khi ông đã đi xa, ông đã thật may mắn có được bà chăm lo gánh vác. Cho ông, và cho sự nghiệp ông…

NGUYỄN HUY THẮNG

Các Bài viết khác