NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NGUYÊN HỒNG – “NHÀ VĂN SĨ CỦA VÔ SẢN”

( 08-11-2013 - 07:49 PM ) - Lượt xem: 939

Lần đầu tiên Nguyễn Huy Tưởng nói đến Nguyên Hồng trong nhật ký là ngày 16-3-1941, khi ông cho biết mua được cuốn Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng. Nhưng phải gần một năm rưỡi sau (8-8-1942), ông mới lần đầu tiên “Gặp vợ chồng Nguyên Hồng”. Và cũng từ đấy bắt đầu một tình bạn khăng khít giữa hai ông, suốt những năm trước Cách mạng, trong kháng chiến cho đến khi Nguyễn Huy Tưởng qua đời, 25-7-1960. Nhật ký những năm trước Cách mạng của Nguyễn Huy Tưởng cũng phần nào phản ánh được mối tình thân mật ấy, mặc dù do điều kiện hoạt động bí mật lúc bấy giờ, ông chỉ có thể ghi vắn tắt hoặc nói bóng gió về những hoạt động của đoàn thể mà ông và bạn mình cùng tham gia. Dẫu sao qua đó ta cũng có được những cảm nhận về tình bạn của hai ông – một tình bạn giữa hai nhà văn đang tìm đến với cách mạng.

21-4-1944

Cùng Nguyễn Văn Khái đi thăm lớp học [Truyền bá quốc ngữ] ở Thượng Đình. Đèn dầu, âm u. Toàn người đứng tuổi. Hai bạn giáo viên xinh và sạch sẽ đứng dạy học: phản ánh với những mặt gân guốc và áo quần luộm thuộm, trông đẹp lắm.

 

Có buổi hội họp các nhà văn. Quen Nguyễn Xuân Huy, Nam Cao, Như Phong, Nguyên Hồng, Trần Huyền Trân.

                                                                     

24-4-1944

Nguyên Hồng đến chơi – Nhà văn sĩ của vô sản. Một người nghèo khổ, ở nhờ một thôn quê, sống bằng sách vở. Đi các nhà xuất bản, được tặng nhiều, và giá sách rất cao.   

 

Ngày viết văn, tối xem sách. Yêu vợ, chờ con, vui đời. Trông rất đáng yêu.

 

2-6-1944

[Nguyễn Hữu] Đang nói Nguyên Hồng là một người danh tiếng, đã có sự nghiệp, lưu danh hậu thế. Mình chưa có gì, những tác phẩm thì tầm thường. Hồng tuy nghèo, nhưng có sự nghiệp, mà ta cũng khao khát sự nghiệp, mãi không được gì.

Phải nỗ lực. Và phải phấn khởi. Nhất định viết về Đỗ Phủ.

 

26-6-1944

Sốt li bì. Nghĩ định làm sống cuộc đời đầy nước mắt – đã qua – của người đàn bà Đông phương, Việt Nam, mà tức là chuyện mẹ mình và cả một thế hệ đã tàn.

Nguyên Hồng hỏi còn đợi gì. Phần thưởng Nobel đang chờ Tưởng. Tuy nói đùa, nhưng cũng là khuyến khích.

 

17-8-1944

Đang ngồi trong sở thì có dây nói gọi. Lê Văn Mai nói Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt: “Nó bắt thằng ấy rồi, trưa đừng về nhà nữa.” Nghe giật mình. Lo sợ, vì việc này sẽ có liên can đến mình.

Khái(1) cũng nói vừa ở nhà Lê Văn Mai, đợi mãi mọi người. Sách vở [bị mật thám] lấy đi rất nhiều, hình như Như Phong, Nguyên Hồng cũng bị bắt nữa.

Vừa lo, vừa chán, vừa tiếc bản thảo An Tư. Xuống ăn na nhà vợ Lợi. Ngẫm nghĩ mình trốn đi không về nhà thì thực là dại mà vô lý nữa. Vì trốn đi đâu cho thoát mà chỉ tổ khiến cho bị tình nghi.

Chiều báo động, vào nhà dì. Nói chuyện huyên thuyên, cười cợt, nhưng trong lòng não như tương, tơi bời như vườn gió. Định ở đến tối, nhưng sốt ruột lại lên xe đi dạo phố. Tìm [Lê Văn] Siêu mấy lần mới gặp. Siêu nói bây giờ không nên trốn, mà cứ đường hoàng về, sự đã đến thế, đành vậy. Biết đâu, mình sẽ kinh nghiệm thêm về việc đời, và nếu phải tù thì chịu. Biết đâu sự không may ấy không làm mình thay đổi thái độ, và khiến mình quả quyết về một con đường chưa định. Còn vợ con thì họ sẽ có cách nuôi sống, ví như mình bị chết bom thì họ vẫn kiếm được ăn kia mà.

… Đội mưa về. Đến nhà thấy Lê Văn Mai(2) đang quét nhà, bắt tay nhau, buồn cười và cảnh khôi hài. Một chút yên tâm: Nguyên Hồng cùng bị bắt với Nguyễn Hữu Đang, Như Phong, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi đã được tha về, và anh chàng sung sướng quá, nghèo túng như thế mà nhảy lên xe cyclo sang trọng ra về. Nguyên Hồng khả nghi như thế mà được tha, thì tức là trường hợp mình cũng đỡ lo. Hồng nói bọn bốn người đã bị giải đi Nam Định để đối chất rồi.

 

1-10-1944

Sáng, ra thư viện hội kiến với một nhà xuất bản trẻ tuổi: mới biết tin nhà Hàn Thuyên, nhà Anh Hoa và nhiều nhà xuất bản khác không được nhà nước cấp giấy cho nữa. Nghĩa là sẽ không ra sách được nữa.

Nhà xuất bản trẻ tuổi, hiệu Người Bốn Phương đề nghị với mình để xin các tác phẩm các nhà văn trong nhóm mình: Nguyên Hồng, Tô Hoài, Như Phong, v.v...

Hứa sẽ cộng tác, lập chương trình. 

 

14-10-1944

Trưa yên tĩnh. Trời mát dịu. Trước hồ Hoàn Kiếm, nước như gương. Cùng đi với Nguyễn Hữu Đang, xem ba ba nổi trên tháp rùa. Cảnh đẹp và khêu gợi.

Đi với Nguyên Hồng. Xem Quán biên thùy(3) cảnh chót. Gặp Huyền Trân, Văn Giáo, Chu Ngọc, Hoàng Cầm. Thao Thao chạy lại bắt tay. Ghét lối kịch thơ mà mặc lối tuồng.

 

15-10-1944

Dự buổi họp với các bạn văn: Tô Hoài, Trần Huyền Trân, Nguyên Hồng, Như Phong, Nguyễn Hữu Đang với Đỗ Xuân Dũng, tại nhà xuất bản Người Bốn Phương.               

 

Tự nhận thấy trách nhiệm. Vui sướng.

 

29-10-1944

Dự buổi khánh thành lớp T.B. [Truyền bá quốc ngữ] ở Yên Viên.

Gặp ông Hoàng Ngọc Phách(4). Thày trò không nói một câu chuyện. Ngượng nghịu cả hai bên.

Đêm về Hanoi. Đi với Nguyên Hồng. Hắn đánh bạc. Cũng ngổ lắm. Có 1 đồng được 40 đồng. Đi xem chớp bóng, v.v...

Sáng hôm sau đi làm, khoe với anh em cùng sở là mình được bạc.

 

23-11-1944

Vẫn băn khoăn sửa lại Vũ Như Tô. Sửa lại không đúng. Làm lại mới đúng. Hiện đã thấy vở kịch, tuy chưa thành hình, nhưng đã nhung nhúc những nhân vật và rắc rối.

Trưa qua, gặp Nguyên Hồng, nói Cửu trùng đài (tức Vũ Như Tô) đã được kiểm duyệt. Hồng xui mình đi lấy tiền của Thái Bá Cơ(5). Không lên. Nhất định sửa lại.

 

8-12-1944

Làm xong bài “Trước mộ”. Đưa Nguyên Hồng xem. Chê là khô khan. Tiểu thuyết là tả nhân vật qua cử chỉ, lời nói. Mình lý thuyết nhiều.

Cả đêm trằn trọc vì nhời nói của Nguyên Hồng.

 

11-12-1944

Bắt đầu viết lại “Cửu trùng đài”. Hồi thứ hai. Văn chạy, hai hôm viết được hơn 12 trang.

Nguyên Hồng viết xong một đoạn văn khó. Sung sướng. Khao, mua rượu, đồ ăn thết. Trông như điên. Mình không điên mấy.

 

20-12-1944

Sửa xong “Cửu trùng đài”. Dài lắm, không biết có diễn được không. Nhưng không đến nỗi chết như vở cũ. Linh động hơn nhiều, và có lý hơn nhiều.

Nguyên Hồng túng. Đem cả hoa [tai] của mẹ và vợ đi cầm. Tiền sách đã hết cả.

Đêm nằm trằn trọc: nghĩ luẩn quẩn. Nào viết Đỗ Phủ, nào “Những người dệt cửi”, nào chuyện mẹ, liên miên nghĩ đến chuyện bà Chánh, anh Thuật, rồi đến những truyện ngắn: Bà ấm Sét - Ruật - Chuyến xe điện - Trước mồ (viết lại) - Người bán tượng - Ả đầu...

Mỗi bài phải là một công gọt đẽo, một bài thơ, một thóa mạ. Pha lẫn mỉa mai và nhiệt huyết. Phải tìm lấy một lối hành văn riêng.        

 

24-12-1944

Sửa xong Cửu trùng đài, giao cho nhà Anh Hoa – xem ý họ cũng không in ngay. Hẹn đến Juin [tháng 6] mới in. Làm cái gì cũng muộn. Định viết “Đồng trụ”.

Xem kịch Ngã ba(6). Gặp một lũ văn sĩ: Như Phong, Tô Hoài, Trần Huyền Trân, Nam Cao, Hồ Dzếnh, Thiều Quang, v.v... Mấy anh văn sĩ xoắn lấy Nguyên Hồng: sự nịnh nọt ra mặt. Và sung sướng được quen một danh sĩ.

 

14 – 15-2-1945

Hội nghị với Tô Hoài, Nguyên Hồng. Hiểu rõ công việc và nhiệm vụ.

Sáng 15, tỉnh giấc sau một đêm thức khuya và giá rét, nghe văng vẳng tiếng chim hót ngoài vườn.

À, ra nhà văn nên thơ thực.

 

26-2-1945

Chiều nhịn cơm. Và đến Tri Tân đòi nhuận bút về An Tư(7). [Nguyễn Tường] Phượng có vẻ khó chịu. [Nói] chúng tôi còn hỏi ý kiến Hoa Bằng và phải hỏi cả “túi” chúng tôi nữa.

Phật ý. Hình như mình xin họ. Nhưng quyết liệt như thế vẫn hơn.

 

Nguyên Hồng viết cho một lá thư rất là thống thiết(8).

Ái ngại thay cho hàn sĩ. Thực không biết làm thế nào.

 

31-3-1945

Nguyên Hồng ra. Cùng ở. Xin thổi cơm cho mình.

Không muốn để bạn vất vả. Hỏi Phạm Đình Trọng(9) mà mình vẫn quí và tin cậy. Hắn nói đã bàn với vợ. Ngoài số gạo mà mình phải đưa, còn phải trả thêm 150 đồng (mà Trọng nói cả nhà hắn, một ngày chỉ tiêu chợ mất 4 đồng).        

Thực là quá lắm. Và tất cả cảm tình đối với Trọng tự nhiên mất hẳn.

 

5-4-1945

Đã bắt đầu cuộc đời mới. Nguyên Hồng tình nguyện làm cơm. Đã ăn hai bữa cơm ngon lành.

Dưới hầm, bên hồ Hoàn Kiếm. Một buổi mưa, và trở rét. Một cái thây trẻ con độ một năm nằm chết trần truồng. Mắt mở sâu hoắm, da xám bệch. Có tiếng người qua lại: Người mẹ để đâu hết tội?

Tổ chức lại cuộc đời. Bắt đầu viết những tác phẩm đứng đắn cho nước Việt Nam tương lai. Định viết một truyện dài về chiến sĩ chính trị với những đàn áp của Pháp.

 

8-4-1945

Lên Tô Hoài, Nam Cao. Dọc đường toàn những cảnh đói. Tiếng khóc như đám ma. Những bà cụ mếu máo, những trẻ trần truồng rúc đầu góc tường, hay nằm trong chiếu, những đôi bố con cũng trần nằm vệ đường, như cái thai trong bụng mẹ, những thây chết còng queo, giơ tay một cách dọa nạt. Muốn chụp ảnh.

Lúc trở về: trên tàu điện, lặng lẽ, đầu trốc, mình ghẻ, ngồi nhặt mót những mẩu lạc, hay những hạt dưa chưa nhằn hết ruột.

Nói chuyện với Ban(10): phải tả cái đói mênh mang như một cuồng phong, một thiên tai, một bệnh truyền nhiễm. Phải biết thế nào là đói.

Đêm khuya. Ngủ cùng Ban. Đọc kịch Duy Tân của Thao Thao. Cười chế nhạo về lời thơ cũng như về bố cục. Sung sướng trong tình trai. Ban nói: Thế thì viết làm gì? Khi viết mà không trội thì thà vứt bút đi.

Anh em nằm nói chuyện về những dự định sau khi kem [cách mạng] thành. Chung nhau viết. Tả những điển hình trí thức còn níu lấy cái nhơ trưởng giả, khi nó đã sắp điêu tàn.

Người nhẹ nhõm. Vui vẻ như kem thành nay mai. Đầy những huy hoàng.

Gặp vợ chồng Chu Ngọc. Chu Ngọc bình phẩm về kịch Công chúa Huyền Trân(11). Xem ý anh chàng thích vở này vì nó hoạt động.

Gặp Nguyên Hồng, Chu Ngọc cũng khen Công chúa Huyền Trân hay tuy lời dài.

 

30-4-1945

Mẹ Nguyên Hồng và vợ Kim Lân ra ăn ở nhà mình(12). Thấy lạ lạ cuộc đời.

Băn khoăn về Những người dệt vải(13). Băn khoăn cả về thời thế. Viết thế nào cho hợp với trào lưu, cho thành một tác phẩm hay? Mình chỉ hời hợt qua, không đi sâu vào cuộc đời các nhân vật.

Tiểu thuyết là gì? Phải viết theo một thể tài gì? Thế nào là tiểu thuyết? Không yên chí.

 

2-5-1945

Nguyên Hồng về quê. Mẹ ở Hanoi thổi cơm nước cho mình. Thân mật.

Đau tai. Đi khám đốc tờ, lấy ra không biết bao nhiêu là dáy tai. Đỡ hẳn. Cảm phục khoa học.

Định kết cấu một truyện dài khổng lồ về xã hội Việt Nam thế kỷ 20. Loại La guerre et la paix [Chiến tranh và hòa bình] của Tolstoi.

 

20 – 22-5-1945

Dự một lớp huấn luyện “văn chương”. Anh em cũng tin cẩn. Nhưng rất mập mờ.

Chèo thuyền qua Hồ Tây, có cảm tưởng như lạc vào Lương Sơn Bạc. Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Trần Huyền Trân đều đã có tên tuổi cả. Anh em phàn nàn rằng sau này, mỗi ngày một cùn, rồi thế hệ nhà văn khác sẽ lên. Hơi se se trong lòng: mình chưa bắt đầu mà đã ngót 40 rồi! 40, theo Nam Cao ở xứ ta đã là tuổi không làm gì được nữa. Còn những dự định lớn lao của ta? Ôi lo sợ.

 

29-6-1945

Người Nhật vẫn tiếp tục sự bắt bớ. Không khí nặng nề ở Hà Nội. Nguyên Hồng báo tin Nguyễn Đình Thi bị bắt.

Người gây gây sốt, nghe tin bỗng khỏi hẳn. Mắt đau, tai ù. Nghe nói khám rất ngặt, định không đi Hà Đông để họp bộ biên tập tờ báo(14). Rút cục, tuy nguy hiểm, cũng cứ đi. Chỉ sợ không gặp anh em, rồi không về được. May: bắt mối.

Cùng vào một nhà cảm tình. Hai đêm, hai ngày xong [số báo]. Giao cho cơ quan ấn. Sung sướng, nhẹ nhõm. Được anh em trọng vọng, không sống vô ích trong phong trào. Nằm gối đầu lên súng lục. Thân yêu với anh em. Bông lơn, trào phúng, không khí vui vẻ.

Chủ nhà niềm nở – Một người trước làm thợ may cho nhà binh. Cơm nước chu đáo. Anh em Bảo an cảm tình, đi tuần tự vệ…

 

-----------------------

(1) Trần Văn Khái, trưởng miền, hội Truyền bá quốc ngữ (xem nhật ký ngày 23-4-1944).

(2) Nhà Lê Văn Mai ở phố Nhà Hỏa, nơi Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Hữu Đang ở nhờ và Nguyễn Hữu Đang vừa bị bắt.

(3) Kịch thơ của Thao Thao.

(4) Thày giáo dạy văn trường Bonnal, Hải Phòng, nơi Nguyễn Huy Tưởng theo học từ cuối những năm 20 của thế kỷ trước.

(5) Chủ nhà xuất bản Anh Hoa, nhận in Vũ Như Tô.

(6) Kịch của Đoàn Phú Tứ.

(7) Đã đăng Tri Tân từ 15-6-1944.       

(8) Về một món nợ (gạo) mà Nguyên Hồng đã vay của Nguyễn Huy Tưởng từ trước đó.

(9) Về việc thổi cơm cho hai người – Nguyễn Huy Tưởng và Nguyên Hồng.   

(10) Trần Ngọc Ban, tức Trần Quốc Hương (thường gọi là Mười Hương), cán bộ Đảng được giao phụ trách nhóm Văn hóa cứu quốc.

(11) Có lẽ là một vở kịch Nguyễn Huy Tưởng đang soạn để đem diễn.

(12) Ngôi nhà ở phố Pescadore, nay là phố Phù Đổng Thiên Vương, Nguyễn Huy Tưởng thuê để ở trong thời gian tiền khởi nghĩa, đồng thời làm chỗ đi lại của Văn hóa cứu quốc.  

(13) Tiểu thuyết lấy bối cảnh quê hương Dục Tú của tác giả với các nhân vật trong gia đình mình.

(14) Tờ báo của Thanh niên cứu quốc mà Nguyễn Huy Tưởng tham gia biên tập, với tư cách đại diện của Văn hóa cứu quốc.

Các Bài viết khác