NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

Trong số các tài liệu nhà văn Nguyễn Huy Tưởng để lại, có một tập bản thảo viết tay không ghi nhan đề, mà nếu căn cứ vào nhật ký của ông thì có thể hình dung đó là bản tham luận đọc tại Trại sáng tác dành cho các nhà văn trẻ mà ông là một người lo việc tổ chức. Không rõ tham luận của ông đã được các đồng nghiệp trẻ hưởng ứng ra sao, nhưng trong ngày khai mạc Trại (11-11-1959), ông có ghi trong nhật ký: “Có ít nhiều thích thú trong công tác này.” Xin giới thiệu cùng bạn đọc một trích đoạn trong bản tham luận của ông. (Đầu đề rút từ một ý của tác giả.)
LTS: Tháng 5 năm 1946, Nguyễn Huy Tưởng trở lại sở Đoan Hà Nội để lấy lại tập nhật ký viết dở khi ông làm thư ký ở đây. Trước đó gần một năm (tháng 7-1945), ông đã bí mật rời lên chiến khu dự Quốc dân đại hội Tân Trào. Tiếp theo là một chuỗi các sự kiện: Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh mùng 2 tháng Chín, rồi cuộc bầu cử Quốc hội khóa I đầu năm 1946 mà ông trúng cử đại biểu tỉnh Bắc Ninh… Tất cả đã cuốn Nguyễn Huy Tưởng trong cơn lốc cách mạng. Đồng thời với việc lấy lại tập nhật ký, Nguyễn Huy Tưởng cũng nối lại thói quen viết nhật ký hàng ngày. Sau đây là những điều ông đã ghi lại cách đây vừa đúng 70 năm. (Đầu đề rút từ một câu trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng.)
LTS: Nhà xuất bản Kim Đồng vừa tái bản bộ Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, từng được xuất bản cách đây mười năm. So với lần in trước, ở lần tái bản này bộ sách được bổ sung hai mục ở tập 2, bao gồm những trang nhật ký tác giả ghi từ ngày 29-11-1946 đến 23-10-1947. Đó là những gì được tìm thấy trong một cuốn sổ tay nhỏ vừa lòng bàn tay, dễ dàng đút trong túi áo hay dúi vào bất cứ chỗ nào - hẳn là Nguyễn Huy Tưởng đã chuẩn bị sẵn cho mình để có thể ghi chép trong trường hợp xảy ra tác chiến. Nhưng cũng chính vì thế mà cuốn nhật ký đã bị lẫn giữa hàng chục những tài liệu khác tác giả để lại sau khi qua đời. Dẫu sao, thời gian đã làm cho nó xuất lộ trở lại, góp phần làm đầy thêm những trang đời của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, và qua đó là những sự kiện, sự việc mà tác giả đã ghi lại về những ngày đầu kháng chiến. (Đầu đề rút từ một câu trong nhật ký ngày 23-10-1947.)
LTS: Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là một người đọc nhiều. Ông đọc thông chữ Hán và sử dụng thuần thục tiếng Pháp trong công việc (hồi trẻ ông làm thư ký sở Tây). Đây chính là hai công cụ giúp ông tiếp nhận văn hóa cổ kim đông tây, bằng cách đọc cổ văn Trung Hoa, văn học cổ điển và đương đại Pháp cũng như của nhiều quốc gia khác được dịch ra tiếng Pháp. Nhật ký một ngày tháng 4 năm 1940 cho biết ông đã rất xúc động khi đọc cuốn Người mẹ (La Mère) của nữ văn sĩ Mỹ Pearl Buck. Không chỉ diễn tả cảm xúc của mình sau khi đọc cuốn sách, ông còn dịch ra và chép lại trong nhật ký cả một đoạn dài. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một “trải nghiệm dịch” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. (Đầu đề rút từ một câu trong nhật ký.)
LTS: Nhật ký những ngày này cách đây 75 năm của Nguyễn Huy Tưởng (tháng 4 năm 1940) dành nhiều trang nhắc đến người vợ mới cưới mà ông sớm phải tạm xa: Hai ông bà kết hôn tháng trước thì tháng sau ông bị sở Đoan (sở thương chính) đổi xuống Hải Phòng. Sự đoàn tụ giữa hai người chỉ thi thoảng vào những dịp bà thu xếp xuống đất Cảng với ông, hoặc ông tranh thủ ngày nghỉ cuối tuần về Hà Nội với bà. Song cũng chính sự xa cách đã khiến ông trút tình cảm lên ngọn bút và cũng nhờ đó mà chúng ta biết thêm được nhiều điều về ông (Đầu đề do BBT đặt.)
Những ngày đầu năm Quý Mùi (1943) mang đến một sự thay đổi lớn trong thái độ của Nguyễn Huy Tưởng đối với đời. Ông trở nên quả quyết hơn, sống mạnh mẽ và thực tế hơn, làm việc cũng có chiều hứng khởi hơn. Đấy cũng là những ngày ông sắp mất đi người mẹ thân yêu. Song, với một ý thức xã hội đã xác định, ông sẽ vững bước trên con đường tìm đến cách mạng: năm 1943, như ta biết, nhóm Văn hóa cứu quốc đã ra đời, và trong số những thành viên đầu tiên có Nguyễn Huy Tưởng. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc đoạn nhật ký sau Tết Quý Mùi cách đây 70 năm của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. (Đầu đề do BBT đặt.)
LTS: Sau những ngày Tết Canh Thìn(1940) được về đoàn tụ với người vợ mới cưới ở Hà Nội,Nguyễn Huy Tưởnglại phải xuống đất Cảng để trở lại với đời thư ký sở thuế quan Hải Phòng, nơi ông bị đổi xuống từ trong năm. Nhưng cũng chính tại đây, ông đã gặp lại một người bạn học từ thời hàn vi ở trường Bonnal, Hải Phòng. Đó là ông Lưu Văn Lợi, người mà trong nhật ký thường được Nguyễn Huy Tưởng gọi thân mật là “Lợi”, hoặc “anh Lợi”. Trở thành đồng liêu, hai ông giờ đây càng có dịp gắn bó với nhau – không chỉ bằng một tình bạn thân nhường cơm xẻ áo, mà còn khuyến khích nhau hoạt động văn chương, xã hội…
LTS: Đầu đề đoạn trích nhật ký này của Nguyễn Huy Tưởng chính là một câu hỏi đặt ra với ông trong những ngày đầu năm 1957, khi ông suy nghĩ về công việc sáng tác của mình trong một bối cảnh mà người văn nghệ bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố phi văn nghệ. Và, như ông đã tự xác định cho mình, vấn đề của nhà văn là phải“phá cái công thức”,“chống lại cái một chiều, cái hiu hiu, cái nhạt nhẽo của con người”. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc NYS những trang nhật ký cách đây vừa đúng 58 nămcủa tác giả Vũ Như Tô.
: Những diễn biễn trong đời sống văn nghệ liên quan đến vụ việc Nhân văn - Giai phẩm những tháng cuối năm 1956 đã khiến nhà văn Nguyễn Huy Tưởng “nghĩ đến một cuốn truyện lớn 1956”, trong đó ông dự định “sẽ dành một phần quan trọng cho nhóm Nhân văn”. Và những sai lầm trong cải cách ruộng đất dẫn đến những xáo động trong toàn bộ đời sống xã hội trên khắp miền Bắc những năm đầu sau hòa bình lập lại, khiến ông hình dung: “Cuốn tiểu thuyết 1956 bao gồm cả thành thị và thôn quê.” Tiếc rằng ông đã không thực hiện được dự định lớn lao này. Nhưng vẫn còn đó những trang nhật ký của nhà văn mà ta có thể hình dung, ông như vừa giãi bày tâm sự, vừa lấy chất liệu cho tác phẩm dự kiến của mình. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số trích đoạn nhật ký những ngày này cách đây vừa đúng 62 năm của tác giả Một ngày chủ nhật.
LTS: Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng từ trần ngày 25-7-1960, cách nay 59 năm. Ông mất do căn bệnh ung thư gan, chỉ hai tháng sau khi nhập viện. Nằm trên giường bệnh, chống chọi với tử thần, nhà văn vẫn tiếp tục viết nhật ký cho đến khi không thể cầm bút được nữa. Những trang nhật ký này, được chính tác giả đề là “Bệnh viện Việt - Xô”, không chỉ cho chúng ta biết về quãng thời gian cuối cùng của nhà văn, mà còn hàm chứa những suy nghĩ đầy tính nhân văn của ông về sự sống và cái chết, về cuộc đời và tác phẩm, về công việc và gia đình… Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
LTS: Năm 1956 có thể nói là một năm đặc biệt với Nguyễn Huy Tưởng. Năm ấy ông đề ra khá nhiều kế hoạch sáng tác, nhưng đều không thực hiện được. Rút cục ông chỉ viết được một bài ngắn – và đó chính là tùy bút Một ngày chủ nhật. Tác phẩm này quả là ngắn so với những vở kịch, tiểu thuyết bề thế của Nguyễn Huy Tưởng, nhưng có vị trí không hề thua kém trong sự nghiệp sáng tác của ông, bởi đây là một tác phẩm hiếm hoi, nếu không muốn nói là duy nhất mà ở đó, nhà văn đóng vai trò là người phản biện xã hội. Chúng ta có thể tìm thấy sự tương đồng về ý thức nói thật, viết thật của Nguyễn Huy Tưởng trong những trang tùy bút đó và đoạn nhật ký sau đây mà chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc – Những dòng nhật ký đầy tâm huyết của nhà văn được viết vào tháng 6 năm 1956, cách đây vừa đúng 58 năm, với câu kết để đời: “Người là thật. Phải thật với người.”
Đó là lời mở đầu một tập nhật ký mà chàng trai Nguyễn Huy Tưởng ở tuổi đôi mươi gọi là Nhật ký tư tưởng. Trong những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ trước, Nguyễn Huy Tưởng đề ra cho mình một thói quen: hằng ngày đào sâu tư duy và ghi lại những suy nghĩ về cuộc đời nói chung và văn chương nói riêng mà ông gọi là “tư tưởng của tôi”. Với tất cả ý thức về yêu cầu đặt ra và kết quả đạt được, ông luôn quan niệm cốt lõi của những tư tưởng ấy, dù bàn về gì, không phải ở “lý”, mà ở sự thành thực với lòng mình, như ông từng tâm niệm: “Tư tưởng của tôi không phải là những câu đạt lý, nhưng là những câu phát tiết ở trong lòng mà ra” (Nhật ký tư tưởng, 17-2-1932).
« 1 2 »