NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NGUYÊN HỒNG TỪ CÁI NHÌN THẾ KỶ

( 04-11-2013 - 02:58 PM ) - Lượt xem: 765

Đặc điểm dễ nhận thấy của chủ nghĩa hiện thực Nguyên Hồng là sự đan xen với các yếu tố lãng mạn. Chất thơ lãng mạn đậm đà trên nhiều trang viết mà Cuộc sống (1942) là tác phẩm tiêu biểu. Chất lãng mạn cách mạng được tiếp thêm ánh sáng tư tưởng mới của Đảng ngày một nhiều hơn.

Nguyên Hồng - một điển hình sống đẹp, nhà văn dấn than

 

Nguyên Hồng sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo hèn. Bố mất sớm vì ho lao khi cậu mới 12 tuổi, mẹ tần tảo, nhẫn nhục, cực khổ nuôi con ,vào tuổi ấu  thơ , Nguyên Hồng bị nhấn chìm trong đày đọa, tủi nhục. Cậu còn mang án “tù trẻ con” khi mới một dúm tuổi, nhiều lần chỉ biết ôm mặt khóc tức tưởi dưới gốc cây, bên cạnh xe bò rác.

 

Số phận đã đưa đẩy mẹ con Nguyên Hồng đến thành phố Cảng – cái nơi tứ xứ thiên hạ pha tạp đổ về. Chàng thanh niên thất nghiệp lang thang kiếm kế sinh nhai với vốn học thức tầm thường, đôi bàn tay gầy guộc và sắc mặt xanh xao vì đói khổ.

 

Anh tìm được việc dạy học chui lủi cho đám trẻ con dân nghèo thợ thuyền, phu phen... lối xóm, với chút chữ nghĩa ít ỏi nhưng với cả một tấm lòng thương cảm giàu có.

 

Nguyên Hồng đã dấn thân vào đời để kiếm sống như vậy – một cuộc đời còn đầy vất vả, cực nhọc và những đe dọa độc ác, những hiểm họa ghê gớm đang rình rập phía trước.

 

Tuy nhiên, ở đây đã có một sự bù đắp tự nhiên.

 

Bước vào trường đời, anh nhận thức ngày càng rõ nét thực trạng xã hội. Chính những ngày chầu chực ở các cổng nhà máy, các bến tàu xe, các vườn hoa, bãi chợ để nghe ngóng tìm việc, anh thanh niên nghèo đã thấy được những cảnh ngộ buồn bã, sầu thảm của những phu phen, thuyền thợ đói khổ, cực nhọc. Anh hòa nhập vào “chúng sinh” dưới đáy xã hội, bên cạnh cái buồn chán trĩu nặng lại nảy sinh một tình cảm thương yêu tha thiết và một khát vọng vượt thoát.

 

Cái may mắn lớn nhất trong đời Nguyên Hồng là bắt gặp được một thần tượng văn chương đương thời: Thế Lữ. Từ đây, Nguyên Hồng đã tìm ra được một lối thoát. Đó là viết theo những điều mắt thấy, tai nghe, những sự thực cuộc đời, những nỗi lòng lên trang viết. Nhà văn Nguyễn Tuân sau này khen: “Nguyên Hồng hơn tôi nhiều, vì có rất nhiều nhiệt tâm với sự sống, sống hiểu theo cái nghĩa là phải viết nó ra thành sách” (1).

 

Nguyên Hồng chính thức bước vào làm văn với truyện ngắn đầu tay Linh hồn trên Tiểu thuyết thứ bảy. Sau khi đăng nhiều kỳ trên báo, tiểu thuyết Bỉ vỏ được in thành sách và nhận giải thưởng Tự lực văn đoàn. Tháng 10/1938, Ngày nay bắt đầu đăng Những ngày thơ ấu.

 

Vậy là, dấn thân vào trường đời, giờ đây Nguyên Hồng lại tiếp tục dấn thân vào con đường văn chương – tuy là hai con đường nhưng thực ra chỉ là một: Từ cuộc đời đi vào văn chương và tiếp tục dấn bước vào đời bằng văn chương.

 

Một may mắn lớn với Nguyên Hồng là từ đây nhà văn bước đầu giác ngộ cách mạng. Đấy cũng là nguyên do gặp Như Phong ở Hà Nội và sau này tiếp xúc với các đảng viên cộng sản và Tô Hiệu – lúc đó là Bí thư Thành ủy Hải Phòng.

 

Ta thấy rõ một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Nguyên Hồng cả trong đời sống chính trị và đời viết.

 

Từ mùa thu năm 1937, Nguyên Hồng được đón nhận một ánh sáng tư tưởng mới: những tác phẩm chính trị và văn chương tiến bộ như Tuyên ngôn cộng sản, Vấn đề dân cày, Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiếu, tiểu thuyết của Gorki...

Nhận nhiệm vụ công tác, Nguyên Hồng hoạt động trong tổ liên lạc với học sinh, tiểu trí thức và đến năm 1938 tham gia sinh hoạt ở Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương.

 

Dấn bước vào con đường chính trị, ở Nguyên Hồng đã dần hình thành cốt cách của một nhà văn kiểu mới: nhà văn - chiến sĩ. Từ đây, ta có thể ghi nhận bước tiến mới của ngòi bút Nguyên Hồng.

 

Nguyên Hồng tham gia viết  một số báo như Thế giới, Người mới và báo Mới. Những báo này có nhiệm vụ vận động và giác ngộ thanh niên. Nhờ ảnh hưởng của phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo, một số tác phẩm hiện thực phê phán, trong đó có của Nguyên Hồng, đã tiến lại gần với văn học cách mạng.

 

Tháng 9/1939, Nguyên Hồng bị bắt và xử tù ở Hải Phòng về tội truyền bá tư tưởng cộng sản và tàng trữ sách báo Mác xít. Năm 1940, ông lại bị bắt và bị giải đi trại tập trung Bắc Mê, Hà Giang. Dấn thân vào cách mạng: “Dấn thân vô là phải chịu tù đày/ Là gươm kề tận cổ, súng kề tai...” (Trăng trối – Tố Hữu). Nhưng vào tù, Nguyên Hồng lại được rèn giũa quyết liệt hơn. Chính tại đây, anh được gặp Tô Hiệu và nhiều chiến sĩ cộng sản ưu tú, được dự lớp huấn luyện chính trị bí mật – đó là một vốn sống hết sức quý giá để sau này Nguyên Hồng viết Lưới sắt Lò lửa.

 

Năm 1943, Nguyên Hồng tiếp xúc với Đề cương văn hóa của Đảng và là một trong những nhà văn đầu tiên tham gia Văn hóa cứu quốc – tổ chức hạt nhân của văn nghệ cách mạng.

 

Tư tưởng và phương pháp sáng tác cũng như phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng có bước chuyển biến mới: Quán Nải, Hai dòng sữa, Vực thẳm, Hơi thở tàn,... đã có ảnh hưởng rõ rệt của Đề cương văn hóa. Tính chiến đấu của tác phẩm nổi bật cùng với sự xuất hiện của luận chiến văn chương, nghệ thuật (Hai dòng sữa).

Vậy là, cùng với sự dấn thân vào dòng văn học tiến bộ, từng bước Nguyên Hồng đã dấn thân vào cách mạng. Nhà văn đã tham gia khởi nghĩa ở Hà Nội năm 1945. Cũng trong năm này, Nguyên Hồng là thành viên ban biên tập tạp chí Tiền phong.

 

Cho đến ngày cách mạng thành công, Nguyên Hồng bộc lộ rõ nét hình mẫu một nhà văn – chiến sĩ, nhà văn sớm nhập cuộc với cách mạng.

 

PGS.Ts Đoàn Trọng Huy tại buổi tọa đàm

Nguyên Hồng cũng là một trong số những nhà văn đầu tiên hưởng ứng phong trào Nam tiến vào mặt trận Nha Trang. Từ sau kháng chiến, ông vững bước trên các nẻo đường  Đất nước yêu dấu. Từ năm 1962 có vẻ như có khúc lặng trong nhịp điệu hành quân của người chiến sĩ. Nguyên Hồng tạm thời rời xa chốn phồn hoa đô hội Thủ đô về “ở ẩn” tại vùng quê mới Bắc Giang. Thật ra ông vẫn đang ráo riết dấn bước trên hành trình sáng tác, dành 15 năm cho bộ tiểu thuyết có tính chất sử thi Cửa biển (4 tập) và xây dựng công trình mới  bộ tiểu thuyết đồ sộ, dài hơi, nhiều tập Núi rừng Yên Thế.

 

Vậy là, cho tới phút cuối cùng của cuộc đời, Nguyên Hồng vẫn là hình ảnh tiêu biểu sáng đẹp của nhà văn - chiến sĩ  dấn thân hết mình cho sự nghiệp văn chương và cách mạng.

 

Nguyên Hồng - một nhân cách cao đẹp, nhà văn Cách mạng

 

Giải thích lý do viết Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc có đôi lời chỉ rõ: “Sách này chỉ ước ao sao cho đồng bào ta xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau lại làm cách mệnh. Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!”.

 

Như đã nêu ở trên, Nguyên Hồng từng đọc Tuyên ngôn cộng sản của Mác - Ăngghen, lại được huấn luyện trực tiếp về lý luận đường lối cách mạng trong tù của chiến sĩ cộng sản, được kết nạp Đảng trong kháng chiến (1948). Khác với lớp nhà văn tiền chiến phải qua thời gian “nhận đường” đến mức “đi xa về hóa chậm” (Chế Lan Viên), Nguyên Hồng đến với cách mạng bằng con đường ngắn nhất, gần nhất bởi nhân tố cách mạng đã nằm trong con tim, khối óc từ lâu.

 

Có thể nói, cách mạng đã làm nên  con người Nguyên Hồng, chất cách mạng tạo ra văn Nguyên Hồng.

 

Nguyên Hồng là nhà văn suốt đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, phấn đấu cho lý tưởng cách mạng.

 

Chính vì vậy, Nguyên Hồng là nhà văn chỉ viết về cách mạng.

 

Buổi đầu sáng tác, thực ra Nguyên Hồng mới viết về nguyên nhân dẫn đến cách mạng. Nói cách khác, ông viết về một thực trạng thảm cảnh của áp bức, bóc lột, trong đó có những con người bị những nỗi thống khổ dìm xuống tận bùn đen đến nỗi bị tha hóa. Tuy nhiên, ở họ vẫn còn có đốm lương tri, còn tia hy vọng để tự giải thoát. Đó cũng chính là lòng thương cảm và niềm tin ở con người. Chủ nghĩa nhân đạo “đặc hiệu” Nguyên Hồng nhanh chóng tiếp cận với lý tưởng để trở thành chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, trong đó có cốt lõi là hữu ái giai cấp.

 

Các sáng tác của Nguyên Hồng dần dần xoáy vào một chủ đề tập trung là cách mạng.

 

Thế giới cần lao dưới đáy xã hội thành thị là nơi nung nấu hận thù, cũng là nơi ấp ủ ý chí quật khởi. Những tiềm năng ấy được bùng nổ, bột phát khi được cách mạng kích thích, khai mở, phát động. Đã có những hình mẫu của những con người mạnh mẽ, tự giải thoát và tham gia vào sự nghiệp giải phóng. Người đàn bà Tàu là đỉnh cao tư tưởng của Nguyên Hồng trước cách mạng. Một bà mẹ Trung Quốc chạy loạn sang Việt Nam đã tham gia vào cuộc đấu tranh của công nhân – đội ngũ có tổ chức kỷ luật cao, ý thức giai cấp và tinh thần đồng chí.

 

Địa ngục Lò lửa là sự chuyển tiếp liền mạch của tư tưởng nghệ thuật Nguyên Hồng. Xu thế cách mạng đang dâng cao, đã có bóng dáng những chiến sĩ cách mạng dũng cảm, kiên cường đại diện cho một lực lượng mới (Nam trong Lò lửa là hình ảnh tiêu biểu).

 

Tuy nhiên Địa ngục và Lò lửa mới là bức phác họa về phong trào cách mạng. Phải đến bộ Cửa biển ta mới có một bức tranh sinh động về cách mạng.

 

Cửa biển cùng với Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi) mang cùng một ý tưởng: giải thích cách mạng, diễn tả con đường đến với cách mạng cũng là hành trình cách mạng của quần chúng nhân dân.

 

Bộ tiểu thuyết gợi được tình thế và không khí sôi nổi của phong trào: những cuộc đình công sôi nổi ở Máy Tơ, Xi Măng, Sáu Kho, những cuộc biểu tình rầm rộ hàng vạn người ở Khu Đấu xảo Hà Nội... Trong đó còn có cả cảnh nhà tù với những tội ác của bọn mật thám và sự đấu tranh của tù nhân.Và cả những hoạt động công khai của tổ chức thợ thuyền ở nhiều nơi.

 

Những nhân vật cách mạng nhiều tầng lớp khá đông đảo tìm đến chân lý cách mạng và đi theo phong trào: người lao động, dân nghèo thành thị, tiểu tư sản lớp dưới. Họ được tập hợp trong ngày hội biểu dương lực lượng của quần chúng. Nổi bật hơn cả là những chiến sĩ cộng sản, trong đó có những người xuất sắc: cán bộ cốt cán, người cầm đầu  phong trào. Tô và Chấn rất tiêu biểu cho lòng trung thành tuyệt đối với Đảng với ý chí kiên cường mạnh mẽ và tinh thần hy sinh quên mình cao cả. Ở đây có bóng dáng Tô Hiệu, người chiến sĩ cộng sản ưu tú đã để lại ấn tượng hết sức đẹp đẽ, sâu đậm trong đời Nguyên Hồng.

 

Cuối đời, Nguyên Hồng đã thể hiện thành công tinh thần yêu nước truyền thống và ý chí quật cường anh hùng của nghĩa quân và thủ lĩnh Đề Thám trong bộ Núi rừng Yên Thế - tiểu thuyết khai thác sâu vào lịch sử cận đại.Tiếc rằng mới chỉ có tập đầu Thù nhà nợ nước xuất hiện (1981).

 

Vậy là, suốt một đời  Nguyên Hồng gắn bó với cách mạng và chủ đề lớn lao cách mạng. Ông xứng đáng với danh hiệu cao quý nhà văn cách mạng.

 

Tuy nhiên, bên cạnh cảm hứng chủ đạo cách mạng còn là sự tự biểu hiện một nghệ thuật cách mạng.

 

Nguyên Hồng, hơn ai hết thấm thía định nghĩa súc tích của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Cách mệnh là phá cái cũ, đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Mang tố chất cách mạng trong người, nhà văn tiến hành một cuộc cách mạng nghệ thuật bản thân. Các nhà văn, nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng tiến hành đổi mới thường xuyên như một nhu cầu tu thân của nghệ thuật đích thực.

 

Âm thầm, lặng lẽ nhưng mạnh dạn, táo bạo, thậm chí quyết liệt, Nguyên Hồng tiến hành những thay đổi trên nhiều phương diện.

 

Đương thời, nhà văn tiến bộ rất dị ứng, thậm chí quay lưng với lối viết câu khách rẻ tiền. Ông không cho phép mình “viết những chuyện tình yêu phù phiếm, bợm bãi, những chuyện mơn trớn, khêu gợi những tình cảm thấp kém, những chuyện mua vui để chiều ý, để câu lấy chút khen ngợi hay nhắc nhở của bọn vô công rồi nghề, phè phỡn, trơ tráo, cái bọn giàu có sang trọng gọi là thượng lưu xã hội lúc bấy giờ” (2). Cũng giống Nam Cao, ông ra tuyên ngôn nghệ thuật: “Tôi sẽ viết về những cảnh đời đau khổ, về sự áp bức, về những nỗi trái ngược bất công. Tôi sẽ đứng về những con người lầm than bị đày đọa, bị lăng nhục. Tôi sẽ vạch trần ra những vết thương xã hội, những việc làm bạo ngược, lộng hành của xã hội, tôi sẽ gánh lấy mọi trách nhiệm, chống đối nào cũng như bào chữa, bảo vệ” (3).

 

Chỗ đứng của ông đã được xác định - đó là phạm trù nghệ thuật vị nhân sinh. Tuy nhiên, nhà văn đã tiếp tục luận chiến qua sáng tác như một ngòi bút đầy can đảm (Cuộc sống, Hai dòng sữa, Miếng bánh, Ngọn lửa,...), và lại càng mạnh mẽ hơn khi được tiếp thu ánh sáng Đề cương văn hóa (Buổi chiều xám).

 

Có thể nói, cảm hứng cần lao, cảm hứng đấu tranh là nổi bật nhưng cảm hứng chủ đạo, quán xuyến là chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của Nguyên Hồng. Tuy nhiên, chuyển biến tư tưởng nghệ thuật tiệm cận với cách mạng sau này cũng tạo ra chất lượng mới là tính giai cấp, làm tăng sức chiến đấu cho chủ nghĩa nhân đạo trong bước đầu sáng tác.

 

Đặc điểm dễ nhận thấy của chủ nghĩa hiện thực Nguyên Hồng là sự đan xen với các yếu tố lãng mạn. Chất thơ lãng mạn đậm đà trên nhiều trang viết mà Cuộc sống (1942) là tác phẩm tiêu biểu. Chất lãng mạn cách mạng được tiếp thêm ánh sáng tư tưởng mới của Đảng ngày một nhiều hơn.

 

Sau Cách mạng, Nguyên Hồng có nhiều hứng khởi để sáng tạo, đổi mới trên lĩnh vực văn xuôi.

 

Nghệ thuật ngôn từ phát triển do đi sâu vào đời sống nhiều mặt phong phú và hết sức sinh động. Ông được coi như ông thầy chữ nghĩa của các nhà văn trẻ (4). Khác một chút với Tô Hoài – người đi lượm chữ của thiên hạ, Nguyên Hồng còn sáng tạo ngôn từ nghệ thuật với những biện pháp hợp lý của khoa học và lý luận ngôn ngữ.

 

Một sáng tạo nổi bật của Nguyên Hồng là mở ra một thể loại tiểu thuyết trường thiên hiện đại. Bộ Cửa biển (4 tập) xuất hiện gần như đồng thời với Vỡ bờ (2 tập) của Nguyễn Đình Thi gây tiếng vang lớn trong dư luận. Đây là khuynh hướng mở rộng và khái quát hiện thực lớn lao trong một bộ tiểu thuyết có kỳ vọng là sử thi: quy mô mở rộng, chủ đề phong phú xoay quanh chủ đề trung tâm – cách mạng, Thế giới nhân vật cách mạng rất đông đảo, mang tính đại diện xã hội. Đặc biệt, nhân vật cách mạng từ quần chúng nhân dân, phần tử cốt cán đến chiến sĩ ưu tú.

 

Nhìn chung, công phu nghệ thuật  đầu tư của Nguyên Hồng là rất lớn (từ 1961-1976).

 

Nguyên Hồng – nhà văn với khát vọng mãnh liệt sống và viết

 

Những sáng tác đầu đời của Nguyên Hồng sớm nổi tiếng vì nhiều lẽ. Không hẳn vì Bỉ vỏ được giải thưởng. Bởi vì đã có những tác phẩm đoạt giải rồi cũng sớm rơi vào quên lãng. Cũng không hẳn là do tác giả Những ngày thơ ấu còn rất trẻ. Không ít thần đồng văn chương đã bị thui chột.

 

Nguyên do chủ yếu ở đây là một vấn đề nhân sinh cháy bỏng: bi kịch thảm họa của những phận người dưới đáy xã hội. Cũng như Chí Phèo của Nam Cao, đó là vấn đề kiếp người cùng với tiếng kêu cứu thống thiết.

 

Những ngày thơ ấu là một tự truyện – một cuốn tự truyện hết sức chân thật được trải lòng với một lòng can đảm hiếm có. Cậu bé Nguyên Hồng thời thơ ấu là một thân phận bị vùi dập trong nghèo khổ và đau đớn. Vũ Ngọc Phan đã “thấy Nguyên Hồng kể cho ta nghe hết tất cả những cay đắng, những cái trụy  lạc của mình và những người thân của mình...”. Vậy là, ta thấy những phận người đau khổ trong cái xã hội thu nhỏ. Nhưng cậu bé ấy – “đứa trẻ tai ác ấy cũng lại là đứa trẻ nhẫn nhục và có gan chịu oan ức...” – cũng theo nhận xét của tác giả đọc và bình luận (5). Điều quan trọng ở đây là qua Cuộc sống  đã phát hiện ra “cái giọng yêu đời thiết tha”... “cái lòng ham sống phơi phới của một thanh niên dư sức” và danh xưng ban tặng cho Nguyên Hồng: “Nhà văn xã hội cầu mong ánh sáng”. Về cơ bản, tự truyện của Nguyên Hồng làm ta liên tưởng tới bộ ba tự truyện của văn hào Gorki Những ngày thơ ấu, Ở với người đời Những trường đại học của tôi cũng như Không gia đình của Hector Malot. Tuy nhiên, nếu theo dõi sáng tác của Nguyên Hồng sẽ thấy đúng như nhận xét của Hà Minh Đức: “Người thanh niên ấy không mệt mỏi và ngã xuống trên đường đời mà vẫn đứng vững trên đôi chân của mình và ngày càng gắn bó hơn với cuộc đời” (6).

 

Bỉ vỏ là câu chuyện một cô gái cơ nhỡ sa vào con đường trụy lạc và lưu manh, đã từng phạm tội và hối hận. Con người đắm trong vũng bùn nhơ nhớp ấy vẫn còn có chút tâm hồn trong sạch. Tác phẩm chan chứa lòng nhân đạo, qua đó tác giả thể hiện rõ niềm tin vào sự cải tạo, đi lên của con người.

 

Với cảm nhận lạc quan về con người, Nguyên Hồng càng đi sâu vào cuộc sống để tìm cho mình nguồn sức mạnh tinh thần. Hòa đồng chủ yếu vào những người cần lao, Nguyên Hồng thấy như chính họ đã truyền cho mình khát vọng sống. Cuộc đời trước Cách mạng còn tăm tối, do đó Nguyên Hồng có những khát vọng mang màu sắc lãng mạn: “Một ai đây dù hoài nghi đến đâu khi nhìn thấy rừng người chuyển động này cũng phải tin rằng cái hình thù tối tăm, cằn cỗi và như thối nát của sự sống một phần nhân loại lầm than chỉ là một cái vỏ mỏng sắp sửa nổ vỡ. Vì trong cái vỏ ấy, bao nhiêu cái mầm sống nảy nở đã chín muồi, sắp chồm dậy, sắp xé tung sự trùm lẩn đè ép để tự do thở hít ánh sáng và khí trời đã được gieo rắc mênh mông” (7).

 

Địa ngục Lò lửa được viết trong không khí và tình thế có tính chất giao thời của đêm đen chuyển tới ngày rạng. Đây là những tác phẩm thể hiện rõ  sức sống mới và tính chiến đấu cao của nhà văn.

Cách mạng bùng nổ, Nguyên Hồng thoả thuê với khát vọng sống và sáng tạo trong bầu trời tự do của Đất nước yêu dấu. Nhà văn lại đắm mình vào cuộc sống mới, sống mạnh dạn, chân thật với mình, với người để tìm sức mạnh mới cho sự ngiệp sống và viết. Vốn sống mới được bồi đắp lên mãi. Sống thực sự, sống trần đời. Ta có cảm giác như nhà văn vẫn có khát vọng lăn lộn, thậm chí ngụp lặn vào đáy sâu xã hội để tìm ra những sự thật trần trụi, thô nhám, nguyên sơ.

 

Nguyên Hồng lại về Hải Phòng, lại đi ca kíp ở Xi măng, lại về xóm thợ, bãi cảng... Sống ở Thủ đô, sống ở Trung du... Ở vùng Núi rừng Yên Thếmà thực ra là đi sâu vào những vỉa, những tầng của lịch sử... Đặt chân ở Cửa biển mà thực ra phải đi về biết bao địa điểm, biết bao cuộc đời... Nguyên Hồng là người viết như vậy - một đời khát vong sống và bù đắp vốn sống, hiểu biết như một kho tàng đồ sộ mãi lên.

 

Sống rồi mới viết. Sống để viết . Muốn viết phải sống. Đó là chu kỳ tất yếu của Nguyên Hồng, cũng là của một nhà văn chân chính.

 

Ông đã viết suốt cuộc đời, viết bất kỳ ở đâu, ở bất kỳ hoàn cảnh nào, dù nghèo túng hay thậm chí là bị giam hẳn trong tù. Viết như một thứ lao động “khổ sai” do bản thân tự đày đọa. Viết là một nghiệp mà có khi như nghiệp chướng, viết để trả nợ: Nợ Hải Phòng, nợ Hà Nội, nợ Yên Thế...

Về sự viết của Nguyên Hồng, tôi xin dẫn ra đây vài nhận xét của những bạn văn tri kỷ:

 

Nguyễn Tuân phác thảo Con người Nguyên Hồng: “Phải nói rằng Nguyên Hồng là một người kiên trì trong công việc sáng tác, có những ngày, có những buổi anh không hứng thú gì lắm – nói một cách văn hoa thì chúng tôi gọi là “đầu ngòi bút không thấy động gió” – nhưng Nguyên Hồng vẫn cặm cụi viết, tự coi mình như một người thơ của ngôn ngữ phải hàng ngày đứng máy cho đủ giờ” (8). Và đây là nhận xét của một người bạn chí cốt khác – nhà văn Kim Lân: “Mười sáu tuổi, Nguyên Hồng đã viết Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu. Từ đấy anh viết liên tục miệt mài cho tới nay tuổi đã sáu mươi nhăm anh còn đang viết... Suốt đời, Nguyên Hồng chỉ viết, suốt đời vật lộn với trang giấy. Anh dám sống, dám gạt bỏ, dám nhận lấy những thiệt thòi, dành cho tác phẩm. Tất cả, tất cả cuộc đời Nguyên Hồng dành trọn vẹn, hết mình cho tác phẩm” (Nguyên Hồng – một nhà văn) (9).

                                      *

                                    ***

Cuộc đời Nguyên Hồng gói trọn trong thế kỷ. Đó là thế kỷ XX đau thương và anh dũng – thế kỷ của những cuộc giao tranh dữ dội, quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và bạo tàn.

 

Nguyên Hồng đã sống với những sự kiện lịch sử lớn lao của Đất nước... với tư cách chứng nhân lịch sử cũng là người tham gia làm nên lịch sử, Nguyên Hồng đã sống và viết hết mình. Những trang viết của nhà văn có vị mặn mòi của mồ hôi lao động, có cái nồng ấm của nước mắt pha lẫn vẻ rạng rỡ của nụ cười. Tất cả những gì trên mặt giấy đều được giãi bày tươi thắm bằng máu huyết tâm hồn.

 

Nguyên Hồng là một nhà văn – chiến sĩ mang nhân cách lớn mà nổi bật là tinh thần nhân văn cao cả, ý chí chiến đấu mạnh mẽ và nghị lực kiên cường sống và viết.

 

Là nhà văn trưởng thành trong tiến trình đi lên của cách mạng, Nguyên Hồng còn nhiều dự định, nhiều hoài bão sáng tạo, là người có tầm nhìn và tầm đi còn rất xa.

 

Nhìn lại một thế kỷ văn học, ta có thể thấy Nguyên Hồng là một nhà văn chân chính, tài năng đã đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn học hiện đại – như một trong những chủ lưu mạnh mẽ- để cập bến bờ rực rỡ của nghệ thuật cách mạng.

 

---------------

(1) Nguyễn Tuân – Con người Nguyên Hồng in trong Tuyển tập Nguyên Hồng – Hà Nội – 1983.

PGS.TS Đoàn Trọng Huy

Các Bài viết khác