NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

XUÂN DIỆU – SỢI “DÂY ĐA QUẤN QUÝT CẢ MÌNH XUÂN”

( 10-12-2013 - 06:21 AM ) - Lượt xem: 1156

Dù thiên nhiên hay con người, cũng vẫn một ánh sáng nồng cháy yêu thương ấy từ tâm hồn gắn bó si mê của Xuân Diệu – con người đã tự ví mình như một sợi “dây đa quấn quýt cả mình xuân” cuộc sống. Có thể nói nhà thơ chưa sống ngày nào trong tuổi già, cuộc đời cũng như tiếng thơ Xuân Diệu luôn đượm hương thơm và chất xanh của một niềm “xuân không mùa” tuyệt diệu.

Xuân Diệu có “cha Đàng Ngoài, mẹ ở Đàng Trong”, riêng tuổi nhỏ của nhà thơ sống nơi quê mẹ giữa vạn Gò Bồi, quanh năm có sóng biển ru và gió nồm Qui Nhơn thổi mát. Thi đỗ “đíp-lôm” (hết cấp II) ở đây xong, Xuân Diệu ra học tú tài phần I ở Hà Nội, lại được hưởng phong vị thiên nhiên bốn mùa đất Bắc – nhất là mùa thu heo may gợi cảm và mùa xuân mưa bụi với những trại hoa Ngọc Hà, Nhật Tân đã đem lại cho tuổi mười tám, mười chín của Xuân Diệu “một sự bừng nở”. Vào học tiếp tú tài phần II ở xứ Huế, tâm hồn Xuân Diệu lại được bồi dưỡng thêm “cái mê li, cái lả lướt … đắm đuối với những Nam bằng, Nam ai, với sông Hương, màu nước ấy và nhất là màu mắt của người con gái Huế”.

Là lớp người có tây học, tiếp nhận được ý thức cá nhân của châu Âu đồng thời với sự hấp thu có bài bản vốn văn học truyền thống của dân tộc, thơ và những tác phẩm văn xuôi cũng đầy chất thơ của Xuân Diệu đáp ứng được thị hiếu mới của công chúng thành thị. Nhà thơ đã có công đẩy quá trình hiện đại hóa thi ca đến đỉnh cao của nó – thực chất là quá trình giải phóng cái tôi cá thể, đẩy cái tôi ấy “đi đến cùng những thôi thúc”, đồng thời góp phần sáng tạo nên những thể cách, ngôn ngữ diễn đạt mới vượt khỏi các khuôn sáo trơn lì trước đó.

Bắt gặp cách mạng, Xuân Diệu lập tức nhập cuộc hăng say như cái tạng vốn có của mình. Nhà thơ “mê quần chúng” (1) say sưa “đi với dòng người (2), liên tục sáng tác những tráng khúc (3), trường ca (3), mang một giọng điệu sử thi hùng tráng mới mẻ. Đi vào kháng chiến chống Pháp, nhà thơ lên chiến khu Việt Bắc, làm báo Văn Nghệ, giữ mục Tiếng Thơ được bạn đọc thích thú. Ông tham gia phát động nông dân, sống với những bà con làng Còng, bắt đầu mắc thêm sợi dây dân dã ruộng đồng vào cây đàn thơ vốn là đặc sản trí thức thành thị của mình. Tác giả còn hào hứng đi bình thơ khắp nơi (theo ước tính, tới dăm trăm cuộc - có lần xuống xã ở Thái Bình, trong 4 ngày, Xuân Diệu đã làm sáu cuộc nói chuyện thơ). Bên cạnh sáng tác, nhà thơ còn “gian hàng” tiểu luận nghiên cứu phê bình văn học đầy tài hoa, giới thiệu những dân tộc như: Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Đào Tấn, … ông khẳng định “công của thi sĩ Tản Đà” là “người mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại (…) dám giữ một bản ngã, dám giữ một cái tôi (…) Trong bao nhiêu lâu, hồn thơ ngạt giữa gông cùm, trái tim bị đè không dám đập”. Tản Đà đã “dám vơ vẩn, dám mơ mộng, dám cho trái tim và linh hồn có quyền được sống cái đời riêng  của chúng”. Ông bình cái cơn tam bành của mụ Tú Bà cay cú vì “thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma”, với một nghệ thuật thẩm văn siêu việt – vừa nhập cuộc, vừa ngẫm đời – học được của Thánh Thán: “Trời đất ơi! Tú Bà nói không đầy nửa phút mà bọt mép của mụ văng ra đến mãi ngàn năm! Tưởng như mụ đã xé xác người ra rồi, cái con hổ cái! Tưởng như mụ nói rách cả trang giấy Truyện Kiều!” Và ông phong vương “Bà chúa thơ Nôm” cho Hồ Xuân Hương – một danh vị đã được công luận nhất trí đồng tình.

Với những búp tóc lượn sóng, đôi mắt tròn to háo hức, cái cười rộng mở đôn hậu, Xuân Diệu trước hết là con người của yêu thương say nồng. Khi tuổi đã cao, ông vẫn cảm thấy thắm thiết trong mình “một cái tin hồng, một nỗi xanh”; cho tới “trong hơi thở chót dâng trời đất – cũng vẫn si tình đến ngất ngư”. Cả với thiên nhiên, nhà thơ cũng đón nhận như đón nhận da thịt nồng ấm của con người qua câu thơ được đánh giá là một trong những câu hay nhất của thơ Việt Nam:

“Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”

Hoặc như một vật rất gần gũi ấp ủ con người:

“Chăn mưa em đắp cùng trời với anh”

Dù thiên nhiên hay con người, cũng vẫn một ánh sáng nồng cháy yêu thương ấy từ tâm hồn gắn bó si mê của Xuân Diệu – con người đã tự ví mình như một sợi “dây đa quấn quýt cả mình xuân” cuộc sống. Có thể nói nhà thơ chưa sống ngày nào trong tuổi già, cuộc đời cũng như tiếng thơ Xuân Diệu luôn đượm hương thơm và chất xanh của một niềm “xuân không mùa” tuyệt diệu.

Trước cách mạng, Xuân Diệu từng thêu hoa dệt gấm trong bao nhiêu áng thơ son trẻ, sang trọng; thì sau đó, ông lại sẵn sàng có ngay – còn mau mắn hơn – những vần bình dị như “manh áo nâu sứt chỉ đường tà” (4) để phục vụ quần chúng. Thủy chung từ bước đầu đi vào Thơ Mới đến những dòng cuối gửi lại nhân gian, Xuân Diệu vẫn nguyên vẹn “một linh hồn mở rộng, một tấm lòng chào đón, một con người ân ái đa tình” (5)  ấy. Khi ngỏ ý viết một tập hồi ký lấy tên Tôi cảm tạ cuộc đời và “trong cái viết của tôi, tôi muốn đền đáp ơn cuộc sống”, thì cũng chính là khi nhà thơ tự bộc lộ mình: luôn say mê cuộc sống, đồng thời cũng đầy tình nghĩa với nó. Xuân Diệu là một trong những người có ý thức trách nhiệm nhất với đời sống – trước hết là với chính cuộc đời mình (điều này không phải dễ), và sau này đã được mở rộng ra với cuộc sống của nhân dân, của thế giới. Chính vì thế, ông là người “biết đếm đến từng giọt thời gian qua kẽ tay”, từng nói với một bạn thơ trẻ “Tôi phải sống để tôi còn phải chết. Sống có chất lượng thì chết không tiếc”. Ông cũng có lần nhắc nhủ anh bạn trẻ này trong lúc mời anh ăn kẹo: “ …. Biết cái vị của hư vô nhưng cũng phải biết cái vị của kẹo mình được ăn, cậu ạ. Ấy, ngậm, đừng nhai. Nhai kẹo là phí, Đông Ki-sốt và Xăng-xô Păng-sa là hai tư thế của trí tuệ. Phải có cả hai”.

Thật là cái triết lí sống vừa thực tiễn vừa thâm thúy” của Xuân Diệu như Vũ Quần Phương nhận xét. Ta hiểu vì sao nhà thơ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” đã được một đồng nghiệp trẻ ghi công là ông thầy “vỡ lòng cho mình biết cảm nhận cả một trời  mộng thơ ấy; đồng thời lại chu đáo quan tâm thiết thực từ một cái áo lót nhường cho đứa em đi hoang, một gói muối làm quà giữa chiến khu gian khổ, vài chục viên thuốc xẻ cho bạn sắp vào vùng tạm chiếm, một ít giấy làm bản thảo cho đồng nghiệp trong những ngày miền Bắc khó khăn … (6).

Đúng như một thi sĩ khác đã thấy, Xuân Diệu “mơ, mà rất thực (…) thơ, mà rất đời” Ông hình dung một viễn cảnh chưa biết bao giờ mới có, từ những năm gian nan chạy giặc trên ngàn sâu Việt Bắc: “Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên – Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ”. Ông cũng để ý đến bà mẹ miền Bắc nhà bị bom, “trở lại thăm nhà, mẹ vẫn … dọn bếp hót tro, nhặt những chân ghế bàn còn lại”. Ông biết thông thoáng bay bổng:

                        “Hồn ta cánh rộng mở

                          Đôi bên gió thổi vào”

Nhưng ông cũng cảm động đến từng khía cạnh chi li, khi nói với bà má miền Nam:

            “ Má ơi, con yêu cái mùi bồ hóng của nhà ta…

               Ba mất đã lâu rồi, hai em con hi sinh tất cả

       (…) Con ăn bát cơm này, thì nghĩa trả biết bao lâu rồi …”

Xuân Diệu là thế: sống tới hạn, sáng tạo cật sức, yêu hết mình, thèm khát giao hòa với tất cả nhân gian. Từ buổi “chiều đầu thu” đến một khúc “nguyệt cầm”, bà già đi trong buổi xẩm tối như một “cục bóng lặng thinh” tội nghiệp và một “thoáng mèo” hoang đói khát “gầy bẹp như không có bề dày”, “ít nhiều thiếu nữ buồn không nói” hay những “thầy giáo Phụng bốn năm bản Mèo”…, Xuân Diệu đều thiết tha trân trọng, cảm thông gắn bó.

Nội dung đậm nét nhất trong thơ Xuân Diệu là nhiệt tình ham sống, thiết tha với tuổi trẻ và mùa xuân. Nhà thơ tự nhận mình “mang theo từng suối rượu nguồn tình”và người ta cũng thấy tiếng lòng thi sĩ “đằm thắm, nồng nàn nhất” trong phong trào Thơ Mới. Khác hẳn với lối “sống gấp” hiểu theo nghĩa dung tục, “vội vàng” tiêu biểu cho khát vọng sống tận hưởng và kịp thời ngay khi “mùa xuân chưa ngả chiều hôm”, “phải “ôm” phải “riết” phải “thâu” phải “cắn” vào sự sống của Xuân hồng:

            “Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

                          Cho no nê thanh sắc của thời tươi”

Có những động từ, phó từ bộc lộ mức nhiệt tình ham say đến tột độ; có dòng thơ dãn dài như nỗi khao khát vô biên; lại hàng loạt điệp ngữ, hình ảnh dồn dập như bao nguồn hứng thú trong tầm tay đang vẫy giục. Nhà thơ “bấu răng vào da thịt của đời – ngoàm sự sống để làm nên đói khát”. Nhà thơ nồng nhiệt hào phóng chào mời:

                                    “ Thơ tôi đó, gió lùa đem tỏa khắp

                                       Và lòng tôi, mời mọc bạn chia nhau”

Nhà thơ nhủ mình cũng là nhắc bạn: “Sống toàn tim, toàn trí, sống toàn hồn – Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”. Không sống nhạy bén hết mình như vậy, làm sao có thể “chân trần sung sướng nghe da đất”, cảm nhận được “đêm ngọc tê ngời men với tơ” với cả qui mô về kiến trúc, hào phóng về sắc màu đến thế:

                                    “Huy hoàng trăng rộng, nguy nga gió

                                      Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng”

                                                                        (Buồn trăng)

Không “sống toàn hồn” làm sao có thể tận hưởng được cái phút nhìn nhau của đôi lứa như một khoảng khắc cực lạc tới mức bàng hoàng kì diệu như vậy, giữa nhịp sống ngày càng quay cuồng đến chóng mặt này:

                        “Thiêng liêng qúa, những chiều không dám nói

                          Những tay e, nhưng đầu gượng cúi mau

                          Chim giữa nắng sao mà kêu đến chói!

                          Ôi vô cùng trong một phút nhìn nhau!”

                                                                                    (Xuân đầu)

 

Nhiệt tình ham say, cường độ sống mãnh liệt đó sau này tỏa rộng ra thành nỗi niềm gắn bó máu thịt với đất nước, quê hương:

            “Đất nước ơi, ta quện mình chặt lắm

              Nên đi rồi, lòng không thể gỡ ra

              Tuyên Quang, Tuyên Quang, đâu là mình, đất thắm

              Và phần nào là hồn thẳm của ta?”

                                    “Ôi bao giờ bao giờ

                                      Ta tắm vào da thịt

                                      Con sông nhỏ Gò Bồi

                                    ...Ôi bao giờ bao giờ

                                      Từ trước ngục sau vai

                                      Cũng ngập đầy quê má?”

Tâm hồn tinh tế cảm thấy “không gian như có dây tơ” của nhà thơ tha thiết từ con “đường cỏ mộng bao nhiêu” đến “cây rơm nghĩ ngợi đứng bên nhà”, từ những chuyến đò vắng khách, những luồng “run rẩy rung rinh lá” – những frisson của thế kỉ XX, đến cuộc vỡ bờ Tháng Tám của dân tộc “triều dân gian lên tới sóng Hồng Hà – lụt cờ đỏ nổi giữa ngày u ám – trời sao vàng mọc lúc nước bao la”. Xuân Diệu rung động với mọi sắc độ khác nhau của cây cầu vồng cuộc sống: từ màu tươi mát nhất của ban mai “xao động ánh dương vui” đến sắc thê lương nhất “khi chiều giăng lưới”. Cũng như trong yêu đương, Xuân Diệu là bản đàn tình gồm trăm cung bậc, đâu phải chỉ có một giọng điệu của “thứ tình yêu thất vọng, không đưa tới hạnh phúc, chỉ mang lại đau buồn” (7) như một định kiến phổ biến lâu nay, người sau nhắc lại theo ý kiến cảm tính phiến diện của người trước.

Đúng là trong Xuân Diệu có đôi chỗ buồn thê thiết:

                                    “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa:

                                      Chết không gian khô héo cả hồn cao”

Nhưng Xuân Diệu còn có những niềm vui thật khỏe khoắn, hào sảng:

                        “Hoa cỏ mạnh xông lên mùi xứ mới

                          Đất nồng thơm dương tráng tựa chàng trai”

Trong yêu đương cũng vậy. Kể ra, tìm cho kỹ, trong thơ tình Xuân Diệu cũng có trường hợp thật sự mang nỗi thất vọng như bài Dối trá. Còn những nỗi buồn như “Chiều góa không em lạnh lẽo sao”, thật ra chỉ là một tâm trạng tự nhiên, muôn  thuở của kẻ yêu nhau – cái nỗi buồn lạnh ấy, ngẫm cho cùng, chính lại là cái nôi lót ổ cho niềm vui ấm áp của sum vầy đôi lứa. Không phải vô cớ mà Eptusencô đã lớn tiếng đòi “quyền được buồn” – những nỗi buồn nhân bản, ví như Đây mùa thu tới: cái dáng nét của “tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”, màu sắc của “áo mơ phai” cùng những “run rẩy rung rinh” của lá; cũng như sự hòa hợp những nét buồn thu với nỗi buồn người và câu kết chứa chất nhân tình rất gợi cảm.

Phải khách quan công bằng để thấy trong cây đàn tình Xuân Diệu, những khúc lạc quan vui tươi choán một phần không nhỏ, với những:

                                    “Bước đẹp em vừa ngự đến đây

                                      Chim hòa ríu rít, liễu vui vầy”

Với những:

                                    “Anh với em như một cặp vần”

Cùng:

                                    “Một luồng ánh sáng xô qua mặt

                                      Thắm cả đường đi, rực cả đời”…

Còn lại, chiếm một tỉ lệ áp đảo là những băn khoăn, khao khát dạt dào nhựa sống:

                                    “Ai có biết mùa xuân lên nặng lắm

                                      Trên cành hồng và trong những trái tim”

Những nhắc nhở, kêu gọi thiết tha:

                                    “Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn

                                      Sóng mắt, lời môi, nhiều - thật nhiều!”

                                                                                    (Vô biên)

Những nao nức không ngơi:

                                    “Năm nay lại vương bồi hồi gió sợi

                                      Năm nay hương dây lại tới bồi hồi”

Những hăm hở:

                                    “Cứ phong nhã để cho người bớt tục

                                      Để lây lửa chuyển những lòng giá đúc

                                      Phải ấm lên vì bắt chước tôi nồng;

                                      Để bừng tia trong những mắt tê đông,

                                      Và gợi nhịp khiến hồn lười phải thức”…

Những xông xáo, vươn vượt:

                                    “Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết

                                      Chân tự do đạp phăng cả hàng rào

                                      Ta mang hồn trèo lên những đỉnh cao

                                      Để ngóng gió của ngàn phương gửi tới”

                                                                        (Mênh mông)

Trong thế giới thơ Xuân Diệu, bên cạnh những nỗi buồn nhân bản như trong Đây mùa thu tới, còn lời nguyền nhân ái: “Cho tôi đau mà bớt khổ loài người – tôi nguyện sẽ chết trên cây thánh giá” và niềm vui nhân bản của những e ấp thơ mộng ban đầu, thật trong trẻ tươi sáng – khi mà từ “trời xanh ngọc” của không gian, “chiều hôm ngơ ngẩn” của thời gian, cho đến “cây me  ríu rít cặp chim chuyền” của cảnh vật đều mời chào, hòa nhịp với “lòng ta nghe ý bạn lần đầu rung động nỗi thương yêu” – như trong Thơ duyên, dạt dào như Biển, đôn hậu như Nguyện, Dấu nằm, Mưa, Giọng nói, . . . hàng loạt bài thơ tình làm vào độ tuổi chín của nhà thơ, thật ra có một ý vị lắng đằm đặc sắc riêng, đầy tình nghĩa đậm tính dân tộc mà những bài thuở Thơ thơ, Gửi hương cho gió chưa có được. Đó là những hạnh phúc giữa đời thường rất Việt Nam, như đèo nhau đi xe đạp:

                                    “Sau xe, những tiếng em phơ phất

                                      Cởi hết ưu phiền gửi gió mây

                               (…) Ước được ngàn năm nghe giọng ấy

                                      Đèo em đi mãi cuối không gian

                                      Và khi không nói, em im lặng

                                      Anh vẫn nghe hay tựa tiếng đàn”

                                                                         (Giọng nói)

như được chia sẻ niềm vui song đôi ấm áp ngay gữa một đêm mưa lạnh lẽo cách biệt (“Thôi em nghỉ việc, khuya rồi – Chăn mưa em đắp cùng trời – với anh”). Và những khát vọng sống sôi nổi đầy nhân tính như Vội vàng trước kia, hay Một nỗi xanh sau này,…

Lại càng không thể không ghi nhận những nét thơ Xuân Diệu đã lần đầu thể hiện được vừa đẹp vừa thấm thía đến thế về tình yêu toàn vẹn trần gian với cả cảm giác sắc dục và tình tứ thiêng liêng, về thứ lễ hội trọn – vẹn – người của hạnh phúc lứa đôi, trong đó hòa hợp tâm linh sánh quyện cùng hòa hợp thân thể:

                                    “Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

                                      Say người như rượu tối tân hôn

                                      Như hương thấm tận qua xương tủy

                                      Âm điệu thần tiên thấm tận hồn”

 

                                    “Vai anh khi để đầu em tựa

                                      Cân cả buồn vui của một đời”.

Trong đó mỗi bên là một nửa của nhau không thể tách, là chất dinh dưỡng và năng lượng diệu kỳ tăng thêm bội phần nội lực và ý chí cho cuộc đời ta:

                                    “Anh như qủa trứng tươi ngời

                                      Em là lòng đỏ bồi hồi của anh”.

Cũng như vậy,

                                    “Nguyện anh là nôi của trời xanh

                                      Nguyện ru em mây lành vạn đóa

                                      Nguyện em như đèn soi tỏ dạ

                                      Nguyện anh là tất cả năm canh”.

Nếu trời và mây biểu trưng cho kích cỡ vượt tầm của những “bể ái ngàn trùng, nguồn ân muôn trượng” như “Hồ Xuân Hương xưa đã hình dung, thì đèn và năm canh biểu trưng cho chiều sâu, độ bền, cho nghĩa tình chung thủy. Quả là, chỉ trong đêm, đèn mới có ý nghĩa; cũng như em, chỉ phát huy đầy đủ nữ tính khi sống cùng anh.

Và làm sao có thể quên được sự đóng góp của Xuân Diệu vào văn xuôi tiếng Việt? Những trang văn xuôi của ông đầy nhạc điệu và hình ảnh mới mẻ, hoàn toàn không phải biền ngẫu, mà đọc lên cứ như có mật ong, cuốn hút lấy ta. Những trang thơ – không - cần - vần ấy mang một giọng trẻ trung đằm thắm lạ lùng! Chúng chứa đầy tình trìu mến, ý cảm thông của Xuân Diệu. Quên sao được cái “không gian đã trở thành một điệu vàng mênh mông, nắng vàng nhuộm vàng những cây và phấn thông vàng lẫn vàng trong nắng”?. Một chú chó hoang “ngẩn ngơ giữa đường vắng, kiếm gì ở dưới đất, mùi dư hay hương thừa, vết không thấy của một miếng thịt hay bóng vô hình của một ngày qua?”. Và rồi điệu sống nhạt nhẽo ngán ngẩm trong cái thâm cung “Tỏa nhị Kiều” giữa thời hiện đại, nơi mà “mọi vật đều buồn một cách lưng chừng (…) cả ngày chỉ là một buổi chiều dài”, thậm chí sự bộc lộ niềm vui cũng quá chừng dụt dè hạn hẹp đến nỗi “nơi khóe môi một chút nhíu da giống như một phần sáu của nụ cười”. Cái chất đắm say sôi nổi của Xuân Diệu làm sao chấp nhận được cái điệu sống “lưng chừng” nhợt nhạt ấy. Và những “vùng …hoa học trò” khác nào”cái tâm sự thiết tha của mùa hạ” đúng là bắt gặp sắc điệu nồng nàn của tác giả Thơ Mới: màu hoa phượng chói lói sinh sống như sắc máu người. Ấy là lời kêu gọi kỳ bí của mùa hè; trong nắng chói chang, mùa hè thét lên những tiếng lửa. Nhưng hoa càng đỏ, lá lại càng xanh. Vừa buồn mà lại vừa vui, mới thực là nỗi niềm bông phượng (…) “Ai xui hoa phượng nhiều như vậy? Ai dạy cho hoa phượng cái màu xa xăm?”. Và cái vị đặc sắc mùa thu – tiếp tục đề tài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến, mà vẫn hiện đại, vẫn Xuân Diệu biết bao: “Chưa có sương mù, chưa có hẳn sương mờ: chỉ là đôi thoáng sương mơ, mỏng như chiêm bao…không biết có phải sương thu mới nhóm, hay đó chỉ là sự huyền ảo của chính hồn tôi? (…) Xuân, người ta vì ấm mà cần tình. Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà rất cần đôi. Cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau, và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy.” (Thu). Phải có con mắt, tấm lòng của “ông hoàng thơ tình” như Xuân Diệu, mới có thể từ bất cứ điều nhỏ nhặt không đâu nào, chuyển hóa thành chuyện yêu đương. Chỉ là một loài hoa không biết tên, nhưng với một tâm hồn đang yêu, đang sánh bước với người yêu, thì sẽ có sự thông minh của trái tim, để tìm ra được nét miêu tả đặc sắc này:

                                    “Toàn cây là một nỗi lòng nở hoa”

Để có được cái tên sáng tạo – bình dị mà vẫn bất ngờ - trong câu thơ bậc thang thú vị này:

                                    “Hoa-anh-ơi

                                                       một chiều ta

                                                                          nở đầy” 

                                                                        (Hoa anh ơi)

Sau cách mạng, cuộc chiến đấu yêu nước của nhân dân ta dội vào Xuân Diệu thành một âm điệu hùng ca chưa từng có trong văn xuôi trước đây của ông, nhưng lại vẫn là cái giọng đầy nhạc tính thắm thiết ấy của tác giả những Phấn thông vàng, Trường ca ngày trước:

“Đường của tôi khoái trá cày lên, chạy đuổi giặc mà gẫy cả mình, dân chúng đắp đập khắp phố của tôi, chặn đứng lại cái dã man muốn làm thành lụt. Vèo! Vèo! Tiếng đạn đi sướng tai như một mũi dùi xoáy vào không khí; rầm rầm, rầm rầm! chơi từng trận với lũ xe tăng nổi dại như trâu … Tôi giữ trên mình tôi một cách ghen tuông ngây dại cái kỷ niệm sướng run như chết của cuộc đánh nhau giữa quỷ sứ với loài người.”  .

Rõ ràng, những áng văn xuôi này vừa “phảng phất chút hương xưa của đất nước” ta nghe du dương sướng tai từa tựa những câu tứ lục trong Bạch Đằng giang phú hay Đại cáo bình Ngô thở nào, mà không sa vào biền ngẫu, đồng thời vẫn đẫm chất cảm xúc của trữ tình hiện đại.

Hiển nhiên, Xuân Diệu đã được công luận – cả trong văn giới lẫn bạn đọc – ghi nhận như ngôi sao sáng chói, cây bút tiêu biểu nhất trong thi đàn thời Thơ Mới. Có những người còn suy tôn ông là “ông hoàng của thơ tình”, nhà thơ tình độc nhất vô nhị, “nhà thơ tình lớn nhất nước ta”. Cũng cần nói thêm: thơ tình Xuân Diệu không chỉ hay ở những sáng tác trước cách mạng, mà còn đầy ý vị đằm lắng, nhuần nhuyễn hạnh phúc đời thường, ở nhiều bài trong thời kỳ sáng tác sau này – nhất là vào những năm 60 (Chính cách mạng và độ chín tuổi đời đã giúp Xuân Diệu – không phải như Nguyễn Nhược Pháp cho rằng “lấy nhau rồi là hết chuyện”, hay như chính ông trước đây cho rằng có vợ xong sẽ chỉ còn “mắt sáng phai rồi, má hóp không” – mà đã tìm thấy được chất thơ vẻ đẹp của tình yêu ngay trong đời thường cuộc sống gia đình). Hãy đọc những bài về hạnh phúc vợ chồng như Giọng nói (1963), Ta trao (1963), Nguyện (1962), Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng đi vào hỏa tuyến (1965), Dấu nằm (1977) với những nét thơ thấm tình nghĩa, đan xen thực mộng:

                        “Lá cây cài mũ, nhớ mình

                          Khoác ba lô, lại đeo tình trên vai” (1965)

                        “Thoáng thơm lan xạ nào tày

                          Hơi tương em thở, ngát đầy hồn anh

                          Dấu người yêu dấu thanh thanh

                          Mình trong chăn đắp, tóc quanh gối nằm”

Thơ thơ, Gửi hương cho gió là tiếng nói tự giác cao, là đóa hoa bung nở của một bản ngã đầy cá tính, đã “đặt vấn đề individu” một cách đặc sắc, hấp dẫn hơn ai hết trước đó. Thơ Xuân Diệu thời kỳ này đã thúc đẩy “sự nổi dậy sâu xa của cá nhân …sự dám sống, sự nhiệt thành với cuộc sống … ảnh hưởng của Xuân Diệu có thể nói là hoàn toàn lành mạnh.” (8). Dĩ nhiên ta cần công bằng hơn, để đừng quên rằng: đất đứng của cái Tôi Thơ Mới trước kia là một xã hội vong quốc, một thế giới cô đơn; còn làm bệ phóng cho mỗi cá nhân hôm nay, là hơn nửa thế kỷ toàn dân tộc đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

Sau Cách mạng tháng 8 - 1945, cây đàn thơ văn Xuân Diệu càng dồi dào giai điệu, đa dạng tiết tấu hơn, với những dây sử thi hùng tráng, những âm hưởng cảm hứng trữ tình mới về quần chúng nhân dân, về chiến tranh yêu nước, về vấn đề “riêng chung”… một vấn đề rất cơ bản trong cuộc sống hiện nay, không kém gì vấn đề cá nhân trong gia đình – gia tộc của những Tố Tâm, Loan, Dũng … ngày trước - một cung bậc trữ tình nhân văn mới mẻ, mang tầm vóc toàn cầu: “Trái Đất ba phần tư nước mắt – Đi như giọt lệ giữa không trung”, với khí thế người người lớp lớp từ buổi đầu Cách mạng:

                                    “Xuân lạ lùng thay, tràn tiếng quân ca

                                      Đến mãnh liệt, vỡ cả bờ sống cũ”

                                                                        (Xuân Việt Nam)

cho đến cuộc chiến trường kỳ chống những siêu cường đế quốc sau này:

                                    “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi

  Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu”;

với mỗi chút gì từng gắn bó bên nhau cũng đều hóa kỷ niệm ruột rà, dẫu phải chia ly, vẫn còn vương tơ máu thịt, vẫn cần một văn hóa chia tay:

                                    “Những bến tàu xe, những cửa ga

                                      Hãy còn níu chặt bóng đôi ta

                                      Những mùa hoa quả bao vương vấn

                                      Chậm chậm đừng quên cốm đậm đà

                                       (…)

                                      Muôn sợi ngà dây đã thắt nhau

                                      Em ơi chậm chậm tháo gì mau

                                      Tháo dây rứt cả vào da thịt

                                      Anh biết bao giờ mới hết đau.”

                                                            (Chậm chậm đừng quên)

Nói như một nhà thơ, Xuân Diệu đã “từ sớm biết … cần cù khám phá, khai quật ngọc vàng từ đáy hồn mình, từ cuộc sống nhân bản của hoàn vũ, của hành tinh” mà sáng tạo nên cả một lầu thơ nguy nga, chói lọi; là người hé mở cho ta thấy “trong cõi vô tận của tâm linh có những trận sao sa”, trở thành “nhà lập pháp lớn nhất của thơ ca đương đại chúng ta”.

“Vâng, tôi là một trái cam. Hãy vắt kiệt lấy nước của nó, đó là những dòng thơ tôi”. Lời nói bộc lộ như một đề nghị “cảm tạ cuộc đời” ấy của Xuân Diệu, cũng hoàn toàn đúng với những dòng thơ ca của ông. Đó là những dòng khát khao giao cảm với cả nhân quần vũ trụ này:

                                    “Lòng tôi bốn phía mở cho trăng

                                      Khách lại mười phương cũng đãi đằng”

 

                                    “Người tưởng buông chỉ đôi tiếng hẹn hò

                                      Tôi hưởng ứng bằng vạn lời say đắm”.

Xuân Diệu – một cánh-chim-thơ từng “Ca ánh sáng bao lần dây máu đỏ”, đồng thời một Con-người-sống-hết-mình; hết mình trao dâng, hết mình đón nhận từ một thoảng rung trên nhánh lá, một thoáng gợn trong hồn người; qua những vần điệu tâm huyết ấy; nên tiếng thơ Xuân Diệu mãi mãi là món ăn tinh thần quý báu cho lớp lớp lứa trẻ, cho mỗi ngưới khát sống và biết sống trên đất nước và hành tinh này.

Sài Gòn, tháng 5-2001

Chú thích:

  1. Tên một bài thơ của Xuân Diệu viết năm 1947
  2. Tên một bài thơ của Xuân Diệu viết năm 1954
  3. Ngọn quốc kì, Hội nghị non sông, Miền Nam nước Việt và người Việt miền Nam
  4. Nhận xét của Nam Chí, một Việt kiều ở Pháp
  5. Thế Lữ
  6. Xem Xuân Diệu con người và tác phẩm – nhà XB Tác phẩm mới
  7. SGK môn văn lớp 11 CCGD
  8. Thép Mới – Nhân Dân, số ra ngày 21 – 12 -1985

NHÀ GIÁO NGUYẾN VIẾT HÙNG

 

Các Bài viết khác