NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

VÀI NÉT VỀ SỰ NGHIỆP, CUỘC ĐỜI VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ VĂN LÊ VĂN TRƯƠNG

( 10-02-2014 - 05:58 AM ) - Lượt xem: 847

Cách đây tròn 50 năm, vào 10 giờ sáng Chủ nhật 26/4/1964, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (Miền Nam) đã tổ chức tại trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài-gòn một buổi nói chuyện để TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN LÊ VĂN TRƯƠNG. Tạp chí VĂN số 29 tháng 5/1964 phát hành tại Sài-Gòn đã đăng bài nói chuyện của diễn giả Nguyễn Ngu Í. Năm nay nhân 50 năm ngày mất của nhà văn Lê Văn Trương, BBT xin trích đăng lại coi như một nén nhang thắp cho ông.

Thưa các bạn,

Lời tôi nói đầu, là một lời mời.

 Tôi mời các bạn nhìn theo người của hai thế kỷ, người vừa nhắc nhở đậm đà một nhà văn vừa buông viết, mà tấm ảnh trên bàn giữ lại một gương mặt phảng phất một nỗi buồn rưng rưng.

  Vì giữa tiểu thuyết gia họ Lê là kịch tác gia họ Vi, vì giữa người đã đưa ra Một người và người đã dựng một Kinh Kha, có một sự liên hệ đặc biệt. Vì một lời nói. Đúng hơn, vì một lời khuyên. Lời khuyên ấy (chốc đã 27 năm trời) đã ảnh hưởng nhiều đến thái độ đối phó của Lê Văn Trương với những người ganh tị ghen ghét. Và cũng do đó lời khuyên đã ảnh hưởng gián tiếp đến sự nghiệp của họ Lê.

Lời khuyên quyết định ấy (không biết những người khuyên quên mất đi rồi cũng nên, đã bao nhiêu nước chảy qua cầu), nó nằm gọn trong một câu chỉ mười lăm tiếng:

"Mỗi khi họ công kích anh, thì anh trả lời họ bằng một tác phẩm"

Lê Văn Trương đã trân trọng ghi lên giấy trắng mực đen lời khuyên chí tình nọ, trong bài "Mấy lời tâm huyết" đăng trên tuần báo Ích Hữu số 92, ngày thứ Ba 23-1 năm 1937, hai tuần trước khi anh đứng ra chủ trương tờ Ích Hữu đổi mới.

"... Tôi chỉ tuân theo lời một người bạn là anh Vi Huyền Đắc đã khuyên tôi:

"Mỗi khi học công kích anh, thì anh trả lời họ bằng một tác phẩm".

Thưa các bạn,

Lúc bấy giờ, Vi Huyền Đắc khuyên Lê Văn Trương: "Mỗi khi họ công kích anh, thì anh trả lời họ bằng một tác phẩm", cuối năm 1937, Lê Văn Trương đã có tám tác phẩm, sau sáu năm cầm bút. Tôi nói, vì tập truyện ngắn duy nhất, cũng là sáng tác đầu tay của anh: Trước cảnh hoang tàn Đế thiên Đế thích in ở Hà Nội năm 1934, nhưng viết ở Cao Miên năm 1931, tám tác phẩm ấy, kể theo thứ tự thời gian: Trước cảnh hoang tàn Đế thiên, Đế thích, Tôi thân oan cho Phượng (chỉ đăng báo, Phượng là nhân vật có thật, không phải là người yêu của anh, được dư luận xem là một thứ hồ ly tinh, nhưng anh cho đó là một trường hợp tâm lí đáng thương, và đứng lên binh vực nàng), Cô Tư Thung, Một người, Một người cha, Một trái tim, Con đường hạnh phúc, Một lương tâm trong gió lốc.

Sáu năm, tám tác phẩm, mức sản xuất như thế cũng đã hùng hậu; thêm lời khuyên của một người bạn, Vi Huyền Đắc, mà Lê Văn Trương quyết tâm theo, lúc người ta nặng lời công kích, mỉa mai anh, bảo làm sao nhà văn đã nổi tiếng đó không viết khoẻ, viết nhanh cho được, vì thế mà đến ngày nay anh đã đóng góp cho nền văn chương một sự nghiệp khá đồ sộ.

Hẳn các bạn cũng đã nghe nói hoặc đọc trên các báo rằng số tiểu thuyết của Lê Văn Trương đã viết lên trên hai trăm cuốn theo lời anh tuyên bố. Một kỷ lục trong làng văn nước nhà, mà có lẽ còn lâu mới bị phá. Hồ Biểu Chánh còn thua anh, nhà văn này chỉ để lại cho đời trên sáu mươi tác phẩm. Và trong những tác phẩm của Lê Văn Trương có gần đủ các loại tiểu thuyết: Ái tình, tâm lí, xã hội, giáo dục, phiêu lưu, hồi ký, một cuốn phiếm luận: Dưới bóng thần Vệ nữ, một bài diễn thuyết: Triết lý sức mạnh. Tiểu thuyết viết đã nhiều, mà nhà xuất bản, anh cộng tác cũng lắm, có lẽ về mặt này anh chiếm kỷ kục nữa cũng nên. Nhà "xuất bản ăn chịu" là Tân Dân, ngoài ra, còn: Đời mới, Hương Sơn, Duy tân, Mai lĩnh, Cộng lực, và cả nhà xuất bản Lê Văn Trương thời tiền chiến, và thời hậu chiến, thì có: Á châu, Tấn phát, Trần văn Huy, Hưng Long, lê Văn Vỹ, Vĩnh Thịnh, Chính Nam, Tia sáng, Xuân quang, Anh phương, Hoa sim, Sống mới, Truyện hay, Hoàng lê..., 21 nhà xuất bản.

Sách tái bản cũng hơn người đến 31 quyển. Trường đời: 5 lần, Tôi là mẹ, Cô Tư Thung, 4 lần; Một cô gái mới, Một người cha, Những kẻ có lòng, Đức cháu đồng bạc, Hận nghìn đời: 3 lần; Một người: 2 lần vv...

Các bạn nãy giờ phải nghe những cái tên, những con số, chắc đã thấy ý định của người giới thiệu. Giới thiệu một nhà văn viết nhiều nhất, được các nhà xuất bản săn đón nhất, làm ra tiền nhiều nhất, bị công kích nhiều nhất, và được hoan nghênh cũng vào bậc nhất !

         Công kích anh, có những nhà văn mực thước, cho anh quá dễ dãi với mình, kể chuyện dây cà, dây muống. Công kích anh, có những người trí thức, không chịu nổi lối hành văn lắm khi sống sượng của anh, cách xen những đoạn triết lý mà họ cho là rẻ tiền. Công kích anh còn có những người đứng tuổi, an phận với địa vị hay sản nghiệp của mình, không thể chấp nhận những "người hùng" trong tiểu thuyết của Lê Văn Trương, lúc nào cũng chống đối một cái gì mà lớp người đứng tuổi ấy công nhận từ lâu: uy quyền của kẻ đô hộ, sức mạnh của ai có trong tay địa vị, danh vọng, bạc tiền.

Hoan nghênh anh, là những ông già bà cả tân tiến phần nào, thích những cái "trung, hiếu, tiết, nghĩa" của mình đang sống. Hoan nghênh anh, là những người đứng tuổi, tuy an phận, trong một hoàn cảnh nào đó, nhưng vẫn mơ những chuyến phiêu lưu kỳ thú, những nhân vật dám vùng lên. Hoan nghênh anh, là những cô con gái đến thì, ngồi bên song cửa, ngồi sau cửa hàng, ngồi cạnh bảng đen, tưởng đến những chàng trai ngang tàng, khí phách, thủy chung, thừa tàn bạo để tát mình đến chảy nước mắt, nhưng cũng dư thiết tha để gục vào lòng mình khóc nỉ non. Và tôi biết một gia đình mà bà, con gái bà, con gái của con gái bà, cùng mê tiểu thuyết Lê Văn Trương; một người đã vì tiểu thuyết của Lê Văn Trương mà lìa gia đình đi đến 2000 cây số  để lập sự nghiệp. Nhưng hoan nghênh anh nhất là lớp trai 16- đến 25 tuổi, còn ngồi trên ghế nhà trường, đang giam hãm mình trong đời công, tư chức hay lận đận vì cuộc mưu sinh. Họ say mê theo hành động của những nhân vật đồng lứa, thường học vấn trung bình, nhưng có tinh thần quật cường, và chí tự lập, gặp dịp, là dám vứt tất cả để tỏ ra mình chẳng phải giống ươn hèn, mà là nòi bất khuất. Họ có yếu đuối, họ có lỡ lầm, chướng ngại có nhiều, gian nguy có lắm, nhưng rốt cuộc, họ sẽ thắng, thắng tất cả, nhờ ở sự kiên nhẫn, ở kinh nghiệm, ở sự tận tình, ở lòng quyết thắng và chí ngang tàng để đem lại một nguồn an ủi, để xoá một nỗi bất công hay để nâng cao Danh dự, phụng sự nghệ thuật, tôn thờ Tổ quốc. Đọc Lê Văn Trương lớp người sẽ xây dựng Ngày mai này thấy mình được nâng lên, được kích lệ, được hun đúc một phần lớn.

Giữa thời mà dân nước sống cái kiếp tù hãm yếu đuối, gần thể ươn hèn, loạt tiểu thuyết của anh đưa ra triết lý sức mạnh, quan niệm người hùng, đã như một thác nước dũng mãnh cuồn cuộn gieo xuống một giòng sông đang lờ đờ chảy. Rất nhiều bèo, rong bị đánh nát, bị giạt vào bờ, nhưng có một số cá tôm nương theo đó mà thoát kiếp dật dờ. Và chúng sung sướng, như nàng Tiên bị đọa may mắn gặp lại đôi cánh trời cho,

Nhưng bây giờ, tôi nói cũng hơi nhiều, giành mất phần của tác giả họ Lê, đúng hơn là giành mất phần tác phẩm của anh.

Ta hãy nghe Lê Văn Trương nói trước:

"Trong Trước cảnh hoang tàn Đế thiên Đế thích, tôi phải một tiếng gọi: "Hãy về sống với trái tim"

"Trong Tôi thân oan cho Phượng: Tôi căn cứ vào trái tim để cân nhắc giá trị một đời người.

"Trong Cô Tư Thung: Tôi tả một cuộc tranh đấu của tinh thần với vật chất.

'Trong Một người: Tôi biểu dương cái sức mạnh thiêng liêng của giống nòi và xây dựng một cuộc đời niên thiếu bằng 4 chữ: Danh dự và Tổ quốc".

       (Trích Mấy lời tâm huyết, báo Ích Hữu, số 92, ngày 23-11-1937).

Trước cảnh hoang tàn Đế thiên Đế thích gồm 11 truyện ngắn. Truyện đầu cùng nhan đề với tập truyện. Xem quyển này ta rõ tấm lòng thiết tha của tác giả đối với gia đình, đối với tình thương.

Anh đã nói với tôi, mười năm về trước, chính một chiều, đứng trước cảnh hoang tàn vĩ đại này, mà anh quyết tâm theo nghề văn nghiệp báo. Anh thấy những công trình gọi là vĩ đại của loài người, dựng lên bằng mồ hôi, bằng nước mắt, bằng cả máu xương. (Đế thiên Đế thích ở đất Khmer là một, Vạn lý trường thành ở đất Tàu là hai) rồi cũng tàn tạ với thời gian; chỉ có lòng người, chỉ có trái tim biết xót thương, biết hờn giận chánh đáng, mới làm cho con người gần nhau hơn, mới tồn tại mãi mãi với thời gian ! Uy quyền trùm thiên hạ, vàng bạc ngập đền đài, có hợp lại với nhau cũng chẳng bắt được một tấm lòng chung thỉ đổi thay.

Và anh thổ lộ trong "Mấy lời tâm huyết" thốt lên từ 27 năm xưa:

"Trong khi mới cũ hỗn độn, người ta xô đẩy nhau chạy theo trào lưu vật chất, chủ tâm tôi khi cầm bút là muốn phát ra một tiếng gọi.

        "Hãy về sống với trái tim.

Và nếu ra một câu hỏi:

"Người ta sống ở đời là chỉ để an hưởng khoái lạc hay là còn có bổn phận phải gánh vác một trách nhiệm?

"Tôi muốn tác phẩm của tôi là những câu hỏi:

"- Giá trị làm người ở đâu?

"- Giá trị đời người ở đâu?

"- Ở trái tim.

"Tôi tin rằng trái tim, chỉ có trái tim mới là động lực của tiến bộ và nguồn sống của đời người, nó là ngọn thần đăng có thể giúp tôi tìm thấy con đường nghĩa vụ sáng sủa, nếu tôi bao giờ cũng nhìn vào nó mà bước.

"Tôi tin rằng cái trào lưu vật chất mà người ta đang sùng thượng, chỉ làm hèn yếu người, làm liệt bại giống nòi này, nếu ta không mau mau tìm mọi phương pháp quyết liệt, để bài trừ đến gốc rễ.

"Tôi tin rằng chỉ có một trái tim sáng suốt mới có thể giúp ta tìm hiểu ý nghĩa đời người"

Mà một trong những ý nghĩa của đời người là hy sinh, là tha thứ, là trọng tinh thần hơn vật chất. Lê Văn Trương đã nhờ Cô Tư Thung, truyện dài đầu tay, để chứng tỏ điều này.

"Cô Tư Thung" mở đầu một câu đã làm Vũ Ngọc Phan nền nếp phải sửng sốt:

"Đêm đã gửi tấm màn bí mật xuống thành phố Sài Gòn, một con quái vật ta không thể hiểu, nếu ta chỉ nhìn ánh sáng rực rỡ và vẻ rộn rịp tưng bừng ở ngoài đường".

Nghe Lê Văn Trương ví Sài Gòn như môt con quái vật ta không thể hiểu nhà phê bình đứng tuổi họ Vũ phải sửng sốt thì hẳn các bạn trẻ trên dưới đôi mươi giờ đây phải buồn cười trước những lời tỏ tình của đôi lưá thiếu niên sau đây:

"Tôi biết cô trước kia đã có một người chồng Tây, đến khi ông ấy về Pháp mới đem gán cô cho ông chủ tôi, nhưng tôi yêu cô thì có hề gi. Tôi biết cô hay đua chị đua em, chơi bời xa phí, nhưng đã yêu nhau gì mà không đắp điếm cho nhau. Tôi biết cô là con nhà tầm thường, nhưng đã quí cô thì kể gì sang với hèn. Tôi thấy cô đẹp đẽ như thế kia mà lọt vào tay vũ phu khác giống, khác nòi, họ hiểu làm sao được cô mà cô chịu làm sao nổi những nỗi lạnh lùng khinh bỉ. Rồi đây, khi về Tây lại đem gán cô cho kẻ khác, cực thay ! Nghĩ rằng cái thân của cô phải chuyển từ tay người này sang tay người khác mà tôi đau đớn. Tôi muốn cho cô một cái gia đình để khi ấm lạnh, ta săn sóc cho nhau, bù đắp cho nhau. Tôi muốn... Tôi muốn cô không bao giờ phải buồn rầu đau đớn...

"Thầy vừa nói rơm rớm nước mắt, nếu cô chủ không lại ôm lấy thầy, thầy còn nói nhiều nữa. Không nói được nữa thầy khóc. Chủ tâm thầy là đến dỗ người ta cho khỏi buồn, nay thầy buồn, thầy khóc, thành ra người ta lại phải dỗ thầy.

 - Thầy hai ơi ! Em biết là thầy thương em lắm. Nhưng thầy ơi, số kiếp em như thế, thầy thương em sao cho đặng. Sáu tháng trời nay, thầy tránh mặt em, nhưng không ngày nào là em không trông thấy thầy. Em đứng nấp trong khe cửa nhìn ra, thấy mặt thầy buồn so mà em như chết đi. Em thấy thầy buồn cho em, vì em. Thôi nín đi, em biết thầy thương em lắm rồi.

"Thế là thầy ký nắm lấy hai bàn tay cô chủ cầm úp lên mặt".

Lối tỏ tình bằng lời, bằng cử chỉ ấy đối với bạn trẻ bây giờ, quả là dài dòng văn tự, quả là phung phí thời giờ, quả là buồn cười. Nhưng ba mươi năm về trước, nam nữ ít gần, xi nê có ít, lớp chúng tôi đã cảm động vì xen này. Bởi chúng tôi hiểu chàng trai trong sạch nọ đến với cô gái tội lỗi này, không phải chỉ chiếm đoạt một thân thể nõn nà; mà để cứu vớt một linh hồn tội nghiệp; bởi vì chúng tôi - cũng như thầy ký người Bắc nọ - thấy ở cô gái miền Nam xấu số nọ, một phần của Tổ quốc suy vi đang bị kẻ thực dân vũ phu đem làm một trò chơi. Cho nên chàng trai nọ, từ đó tránh những cuộc gặp gỡ lén lút, lo làm tròn nhiệm vụ của thầy ký Việt - tôi nói Việt mà không nói Việt Nam - làm ở một đồn điền Tây ở một tỉnh xứ Cao Miên.

……………..

Thưa các bạn, đến đây đã hết "Cô Tư Thung". Hãy còn  "Một người" "Tôi là mẹ" "Trường đời" , "Ông hoàng một đêm". Bốn tác phẩm ! Nhiều quá, bao giờ mới hết phần sự nghiệp để còn nói đến "cuộc đời". Xin thưa, tôi sẽ cố rút ngắn, thật ngắn: Kể hay chẳng lựa nói dài mà ! Lại nữa, bốn tác phẩm vừa nhắc, vốn làm vững sự nghiệp Lê Văn Trương phần nào, mà cũng giúp chúng ta hiểu cuộc đời của cha đẻ Người hùng, phần nào nữa.

"Một người" "Tôi là mẹ" "Trường đời"  là ba quyển được thanh niên đọc nhiều nhất, tự nhiên là độc giả thanh niên thời tiền chiến, chớ thời nay, các bạn thanh nam, thanh nữ, đã thích lại ưa đọc ba quyển: Yêu...Ma, Quỉ...(xin lỗi bạn trẻ và bạn Chu Tử, nếu tôi nhớ có lầm). Mà ba quyển mà Lê Văn Trương thích nhất chính là "Một người", "Tôi là mẹ""Trường đời" in hồi tiền chiến. Còn tác phẩm in hồi hậu chiến, anh thích nhất "Ông hoàng một đêm"

………          

Và chính Lê Văn Trương từng sống những đoạn đời ít giống một ai.

Anh sinh năm Bính ngọ (1906)  tại làng Đồng Nhân, gần Hà Nội. Cha anh là một bậc thâm nho, từng đỗ tam trường, nhưng trong máu có giang hồ tính. Mẹ anh cũng là một bậc thâm nho, con một nhà khoa cử, nhưng khác với cha anh cho con muốn sống sao thì sống, mẹ anh rất nghiêm, dạy con rất chu đáo,

"Nếu làm được vương tướng gì thì làm, không thì giữ lấy nếp nhà"

Anh học chữ Hán với song thân, rồi học chữ Pháp và chữ Việt tại trường tỉnh Bắc Giang nơi song thân anh (vốn gốc Hà Đông) lên lập nghiệp ở đây. Rồi anh vào học trường Bưởi. Học đến năm thứ hai, anh cùng một tốp bạn tổ chức cuộc bãi khoá để phản kháng ông hiệu trưởng - người Pháp - đã mắng một học sinh: "Quân an nam khốn kiếp !" (Sale annamite). Và anh đã bị đuổi. Lúc đó là năm 1923.

Nhưng trước đấy, lúc còn học ở trường tỉnh, anh đã tỏ ra không sợ người lớn. Một đám bạn anh tát ao, bắt cá. Một đám trẻ khác, lớn hơn giật lấy mớ cá. Anh hay được, tổ chức đám bạn bè, đón đánh lũ ăn cướp cạn kia một trận tơi bời. Một phụ huynh của bạn này khăn đen, ao dài đến thưa tự sự với cha anh. Cha anh bắt anh xin lỗi. Không thì nằm xuống chịu đòn. Anh không xin lỗi, vì cho rằng mình chẳng có lỗi gì, đành chịu đòn. Ăn đòn xong, anh vội chạy núp trên đường về của vị phụ huynh kia, và khi vị này đi ngang qua đấy anh tặng cho mấy cục đá vào người.

Năm 1926, anh thi đậu chuyên viên sở Bưu điện; sau một thời gian làm việc ở Phnom Penh, anh được cử đi Mongkolboray làm chủ sự nhà Dây thép nơi này, để nối đường dây thép Battambang-Bangkok. Và chính lúc này, anh làm quen với giới buôn lậu Xiêm La, Cao Miên và nghiên cứu ngành hoạt động mạo hiểm này.

Năm 1927, anh lấy vợ, vốn con một nhà doanh nghiệp người Bắc vô đây lâu năm, ông ta kết hôn với một người Nam. Vợ anh đẹp, có học, có đức hạnh, một mực thờ chồng và yêu con. Người vợ cả này chết ở hậu phương, năm 1948, khi theo anh đi kháng chiến. Anh rất thương người vợ này và hay nhắc nhở gián tiếp đến hai mươi năm hạnh phúc của đời vợ thứ nhất.

Năm 1930, anh chán nghề cạo giấy, cùng vợ về Lovéa ở Battambang khai khẩn đồn điền, thầu đặt con đường sắt Nam Vang- Battambang và khi đường sắt này khánh thành, anh lại là người lái buôn đầu tiên, trước nhất chở 10 con bò trong chuyến thứ nhất nối liền Battambang với Nam Vang. Sau đó anh làm nghề thầu khoán, làm khá nhiều cầu cống ở Cao Miên.

Mùa mưa, anh nằm nhà đọc sách, thấy chớm nở ý muốn viết văn. Anh thường tổ chức những cuộc săn lớn và thỉnh thoảng, cũng tổ chức những cuộc buôn lậu: nào buôn thuốc phiện sang Xiêm La, nào buôn bò sang Tân Gia Ba, nào buôn ngọc sang Trung Hoa.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thời 1931-1932 trả anh về đất Bắc với 1 vợ và 5 con (4 trai, 1 gái): các nhà ngân hàng làm khó dễ anh về những số tiền vay để khai khẩn đồn điền.

Anh gia nhập vào làng văn báo từ đấy; song thỉnh thoảng anh cũng buôn lậu thuốc phiện với đệ nhị phu nhân miệt Bắc Giang và thầu làm đường xá, phi trường ở bên Tàu.

Anh cộng tác với báo "Trung bắc tân văn" của Nguyễn Văn Vĩnh, giữ mục "Trắng đen", và ký là Cô-Lý. Cô-Lý có gạch nối, như Cô-Liêu, chớ không như cô Diệu-Huyền hay cô Phươnng-Thảo; Cô-Lý là cái lý lẽ một mình, chứ không phải cô nàng tên Lý.

Nhưng chặt chẽ nhất, lâu dài nhất, là sự cộng tác của anh với nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long. Anh là một cây bút nồng cốt cho những cơ quan ngôn luận của nhà xuất bản lớn này.: Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Truyền bá, Ích hữu. Có thể nói cái khoảng thời gian 1935-1940 là thời đại hoàng kim của tiểu thuyết gia Lê Văn Trương. Anh với Nhất Linh là hai thần tượng của một số tuổi trẻ bấy giờ.

Rồi cuối năm 1937,anh đưa ra chủ trương tờ Ích Hữu đổi mới, số đầu ngày 8-12-1937 với Trương Tửu, Lê Tràng Kiều, Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Đình Lạp trong ban biên tập.

Ích hữu của anh thờ triết lý "Sức mạnh", với tôn chỉ: khuếch sung sức mạnh của giống nòi, với khẩu hiệu: Danh dự và Tổ quốc (2).

Đặc biệt là: "Ích hữu không nhận đăng những quảng cáo thuốc lậu và giang mai". Nhưng rồi cũng như tờ "Nguồn sống" của Linh và Phùng trong Một người, tờ Ích hữu đổi mới của Cô-Lý Lê Văn Trương chỉ sống độ sáu tháng thỉ chết, khi nó bắt đầu được chú ý !

Chính dạo này anh gặp chị Lê Văn Trương thứ nhì, người sau này chia những nỗi vui buồn, cơ cực với anh trong buổi xế chiều. Và chính chị Trương đệ nhị đây, được anh giao trọng trách trông nom cái trại ở Láng, nơi để cho anh em văn nghệ sĩ đến chơi, nghỉ ngơi, làm việc.

Trong thời gian cực thịnh của anh, anh đã đóng vai một Mạnh Thường Quân trong giới văn nghệ. Anh cưu mang người này, anh giúp đỡ người nọ, anh khuyến khích người kia, anh tỏ ra rất hoà hài phong nhã, trọng nghĩa khinh tài, nhưng lắm khi "người anh cả" này kém sáng suốt và kém tế nhị, vì anh cũng chỉ là người, lại thành công quá sớm, quá dễ dàng.

Năm 1943, sự giao thông Nam Bắc bị gián đoạn, anh mất đi một số độc giả quan trọng, vả lại cuộc thế chiến bùng nổ trong bốn năm trước đã khiến người đọc sách bắt đầu hướng về đôi ngả khác.

Rồi sau ngày toàn dân chỗi dậy, anh chủ trương nhật báo Việt Nam hồn để cổ động tình yêu nước và chống Pháp xâm lăng. Nhưng vì đau nặng, anh giao cho một người bạn trông nom, anh bạn này không rành nghề, nên tờ báo chết.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, anh được cử làm chủ tịch Ủy ban đãi Vàng Bắc bộ, trụ sở ở Chợ Bến, tỉnh Hoà Bình. Sau đó, anh nhập bộ đội một thời gian, rồi cuối năm 1952, vì lý do sức khoẻ, anh hồi cư về Hà Nội. Anh cộng tác với tờ báo Mới ở Sài Gòn, do Phạm Văn Tươi và Lê Văn Siêu chủ trương, cho đăng hai tiểu thuyết mới nhất của anh: Cô em họ, rồi Người của mùa xuân. 

………

Rồi anh cho xuất bản độ bảy cuốn sách mới viết sau này, và giữa 1954 anh vô Nam, đi thầu đá, bị thất bại, anh giúp báo này, báo nọ, anh cho tái bản một số sách cũ. Anh âm thầm vĩnh biệt cõi đời, ngày 25 tháng hai năm nay, nhằm ngày 13 tháng Giêng năm Giáp Thân.

Anh vốn chủ trương: cứ lăn xả vào cuộc sống, cái gì cũng nên biết, đừng sợ cái gì vì anh tin rằng, anh chẳng luỵ một cái gì. Anh biết cỡi ngựa, đánh gươm, bắn súng, bắn ná, đánh võ, phóng cả phi tiêu và anh không lạ gì với tứ đổ tường. Chính nhà thơ Vũ Hoàng Chương có mặt ở đây đã thấy anh phóng phi tiêu thập phát, thập trúng; và chính nhà học giả Hồ Hữu Tường cũng có mặt ở đây, từng chứng kiến tài anh ném phi tiêu đủ kiểu: quay sau lưng, sau cổ, ném xuôi, ném ngược... Lúc ấy, "Cô Gái Đồ Long" chưa xuất hiện, mà anh có đủ tư cách một kiếm khách có hạng.. Nhưng rồi "đã mang cái nghiệp vào thân", anh đành phải gánh lấy cái "luỵ" như tất cả mọi người trên dương thế, nếu vì thế mà anh có làm phiền luỵ người thân kẻ thuộc, thì giờ đây, các mối phiền luỵ đó lại càng làm cho những người ấy càng thưong anh hơn, vì lúc bấy giờ, người bình tĩnh nhất cũng muốn phát điên, hay muốn đập phá một cái gì, hay thét lên một tiếng thật to, thì một người thất thế, tuổi cao, bị bỏ quên một xó, đầu óc và thể xác đã bất thường, sống với bao nhiêu là hệ luỵ, đã không thương anh thì thôi, chớ nay ai lại nỡ trách anh. Nhất là khi ta được biết, trong những ngày tàn, nằm chờ cái chết, hễ có bạn nào nhắc đến bài thơ "Con trâu" của người bạn cũ, Phạm Ngọc Khuê, hiện ở thế giới bên kia và loạn trí, bài thơ mà anh đã giúp nó phổ biến trong lớp trai trẻ thời xưa, thì mắt anh sáng lên, lớn tiếng ngâm, tay làm cử chỉ;

 - Này là lúc mang sức trâu mãnh liệt

Kéo lưỡi cày rạch vỡ hết ruộng nương

Khơi mạch sống ở trong lòng đất chết

Mở đường lên cho hạt thóc đang ươm

                                                      

Nay là lúc gặm cỏ khô, rơm cứng

Giẵm bùn lầy và chọi với nắng mưa,

Lấy chí ngang tàng và lòng quyết thắng

Làm hơi rượu mạnh để say sưa

 

 Cho mặt đất lung linh như biển cả

Gió ngả nghiêng đùa ngọn lúa xanh tươi,

Cho nắng lửa gay go và tàn phá,

Phải bó tay thua sức sống muôn loài...

và rồi lả người nằm xuống....

Anh đã chết âm thầm, với tuổi già, với bịnh tật, với túng thiếu, với dày vò.

             ………………….

Anh ra đi mãi mãi, mà chẳng bận lòng, vì từ 27 năm trước, trong thời cực thịnh của đời văn, anh đã dự tưởng đến cái ngày anh từ giã cõi đời nên anh đã khóc anh, qua lời Linh khóc Phùng tại nghĩa địa (Linh là nhân vật chính trong cuốn "Một người", đứa con tinh thần anh trìu mến nhất).

"Nhưng hôm nay, giờ này, trước hố đất này, anh cho phép em khóc, không phải khóc thân thế anh bị nổi chìm, không phải khóc đời em còn lận đận, nhưng khóc chung cái số kiếp nhà văn chân thành ở cái xã hội này.

 "Em tưởng rằng một người có tài, có chí, có lòng như anh, chết đi thì phải có cả quốc dân theo sau linh cữu, đến huyệt này, mỗi người ném xuống hố một hòn đất nhỏ, để đắp thành một nấm mồ danh dự, gọi là đáp lại lòng anh, chí anh, tài anh, và sự tận tuỵ, hy sinh của anh đối với nghệ thuật và chủng tộc.

"Có ngờ đâu, đứng quanh bờ huyệt hôm nay, trong cái nghĩa địa thê lương này, chỉ có em..."

Xin mời bạn hãy trở về với cuộc sống.

Chính vì trong "mười năm luân lạc", anh đã lấy làm tủi nhục cho "cái đời sống tiều tuỵ" và "lép vế" của túm cỏ, cụm cây nhỏ bé (1) nên anh đã can đảm dấn thân vào nghề văn nghiệp báo, để chịu tất cả cái Vinh cái Nhục - không : cái Vinh và cái Luỵ của nghề. Anh đã bất bình và đa số đồng bào mình chịu khúm núm trước quyền uy của kẻ xâm lăng, hay co ro trước thế lực của kim tiền, không nghĩ gì đến tương lai của đất nước, đến danh dự làm ngưòi. Nên anh tự cho mình một sứ mạng: sứ mạng gây một tinh thần bất khuất, sứ mạng đào tạo cho ngày mai một lớp người dám bỏ tất cả, cả sự sống , vì nghĩa cả. Vì thế mà anh mang bầu nhiệt huyết và tất cả lòng tin gửi vào các tác phẩm của anh, khiến một lớp người máu nóng bị lôi cuốn, và họ đợi chờ cơ hội hành động giống như mẩu người hùng của anh. Và họ đã đứng lên.

Sự nghiệp văn chương của anh không như một công trình chạm trổ tỉ mỉ, tinh vi; sự nghiệp văn chương của anh như một đám vật liệu tuy bừa bãi mà rất cần cho việc cất xây một mái nhà giữa mùa gió cuồng mưa dữ. Đối với sự nghiệp văn chương của anh, ta không thể coi như một chung trà quí mà các bô lão húp từng ngụm trong một lâu đài cổ; mà ta phải đánh giá như một gáo nước lạnh múc từ giếng bên đường mà tốp thanh niên trên con đường dài nắng cháy, phải vồ lấy uống ực một hơi.

Thưa các bạn,

Một người đã gây được một thế hệ trai trẻ thời ấy, thời 1935-1945, một ý chí quật cường, một tinh thần bất khuất, để dám chống lại bao sự áp bức của thời bị trị như vậy, tưởng cũng đủ cho chúng ta đứng nghiêng mình...

       ----------------------                                                                

    (1) Trong "Triết lý sức mạnh", bài diễn thuyết ở hội Trí Tri, Hà Nội, ngáy 10-2-1938.

NGUYỄN NGU Í

Các Bài viết khác