NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

TRUYỆN NGẮN KHÁI HƯNG – MỘT ĐÓNG GÓP VÀO DÒNG TRUYỆN NGẮN LÃNG MẠN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1932 – 1945

( 23-09-2014 - 04:24 PM ) - Lượt xem: 1277

Cùng với Nhất Linh và Hoàng Đạo, Khái Hưng là một trong ba cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn – một văn đoàn quan trọng giai đoạn 1932 – 1945 có nhiều đóng góp cho quá trình hiện đại hóa của văn học dân tộc.

Cùng với Nhất Linh và Hoàng Đạo, Khái Hưng là một trong ba cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn – một văn đoàn quan trọng giai đoạn 1932 – 1945 có nhiều đóng góp cho quá trình hiện đại hóa của văn học dân tộc.

Là một cây bút dồi dào về năng lực sáng tác “viết nhiều hơn cả” trong Tự lực văn đoàn, Khái Hưng thử sức mình ở đủ thể loại: từ tiểu thuyết truyện ngắn đến cả kịch. Trước đây văn học Tự lực văn đoàn nói chung và cả Khái Hưng nói riêng đều chưa được đánh giá đúng mức trên phương diện văn học. Nhiều năm qua, dưới ánh sáng của tư duy đổi mới, văn học Tự lực văn đoàn trong đó có Khái Hưng đã ra đời. Tuy vậy các công trình chỉ chủ yếu tập trung vào khu vực tiểu thuyết. Trong khi đó truyện ngắn cũng là mảng sáng tác quan trọng góp phần làm nên sự nghiệp văn học của Khái Hưng thì chưa được đề cập một cách thỏa đáng. Trong bài viết này chúng tôi đi sâu tìm hiểu những đóng góp của Khái Hưng trong lĩnh vực truyện ngắn. Qua đó, bạn đọc sẽ phần nào hình dung được chân dung văn học, những đóng góp và cả những hạn chế của một trong những nhà văn trụ cột của nhóm Tự lực văn đoàn.

Có thể nói truyện ngắn là thể loại đầu tiên Khái Hưng trình làng trước công chúng. Trên báo Phong Hóa và Ngày Nay những năm đầu, hầu như tuần nào Khái Hưng cũng đăng một truyện ngắn. Trong vòng mười năm ông đã đăng đến hàng trăm truyện ngắn. Một số truyện ngắn đầu tay của Khái Hưng khi ra đời đã được coi là “món ăn ngon và lạ” cải thiện cho khẩu vị đọc của người dân thị thành. Truyện ngắn Bên dòng Hương giang được in lần đầu tiên trên báo Phong Hóa ngày 31/3/1932 và tập truyện ngắn Dọc đường gió bụi ra đời năm 1936 đã nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của công chúng. Trong công trình Nhà văn hiện đại (1942) Vũ Ngọc Phan đã đánh giá khá cao truyện ngắn Khái Hưng: Ông nhận định “Về truyện ngắn Khái Hưng viết tuyệt hay. Người ta thấy phần nhiều truyện ngắn của Khái Hưng có vẻ linh hoạt và cảm người đọc hơn truyện dài”. So sánh với truyện ngắn của Thạch Lam và Đỗ Đức Thu, Vũ Ngọc Phan cho rằng nếu truyện ngắn của hai nhà văn trên “ngả về mặt sầu cảm và kín đáo bao nhiêu thì truyện ngắn của Khái Hưng vui tươi rộng mở thế ấy” hay “Đọc những truyện ngắn của Khái Hưng, tôi nhận thấy nghệ thuật của ông là tìm cho ra những ý nghĩa đau đớn hay khoái lạc mọi việc ở đời rồi ghi lại bằng những lời văn gọn gàng sáng sủa … Khái Hưng là một nhà quan sát lão luyện và dùng ngòi bút tài tình. Đọc truyện ngắn của Khải Hưng tôi nhận thấy sự quan sát của ông rất chu đáo … Văn Khái Hưng rất bình dị, đó là một nét hay trong truyện ngắn”. Năm 1999, trong lời giới thiệu tuyển tập truyện ngắn Khái Hưng của NXB Hải Phòng, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cũng đánh giá khá cao truyện ngắn Khái Hưng. Ông cho rằng truyện ngắn Khái Hưng ngoài các phẩm chất nghệ thuật: “giàu chất thơ, một thiên nhiên đầy màu sắc, thanh âm và cảm xúc” còn có những giá trị nội dung: “toát lên tinh thần dân tộc và đem lại cho người đọc tinh thần lạc quan yêu đời”. Hai nhận xét của hai nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi với độ lùi của quãng thời gian hơn nửa thế kỉ cũng đủ cho ta thấy những giá trị đích thực của truyện ngắn Khái Hưng trong dòng truyện ngắn lãng mạn nói riêng và truyện ngắn Việt Nam nói chung. Đi sâu tìm hiểu truyện ngắn Khái Hưng chúng tôi thấy truyện của ông có những đặc điểm nổi bật sau:

Trước hết, là cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn, truyện ngắn Khái Hưng cũng như tiểu thuyết của ông sáng tác theo tinh thần tôn chỉ của Tự lực văn đoàn. Trong 10 tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn có các tôn chỉ: Điều 3: Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những sách theo chủ nghĩa bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân. Điều 5: Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Điều 6: Ca ngợi những nét hay, vẻ đẹp của nước ta mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác cũng yêu nước một cách bình dân. Có thể nói những tôn chỉ này là kim chỉ nam chính cho những sáng tác của Khái Hưng. Bởi vậy ta thấy nội dung truyện ngắn của Khái Hưng tập trung vào các mảng đề tài chủ yếu: tình yêu, người bình dân, đề cao truyền thống văn hóa dân tộc. Ngoài ra còn một số các tác phẩm khác đề cập đến những vấn đề triết lý nhân sinh của cuộc sống.

1. Ở mảng đề tài về tình yêu, Khái Hưng thường miêu tả các mối tình lãng mạn trẻ trung với rất nhiều màu sắc đa dạng. Đó có thể là một mối tình đơn phương của một ông chủ trang trại (Linh) với một cô gái thành phố xinh đẹp (Phụng). Phụng cùng mẹ đi du lịch về thôn quê, vô tình đi ngang qua trang trại của Linh. Đúng lúc đó xe của Phụng hết xăng. Linh không những hăng hái đi mua xăng cho Phụng mà còn mời hai mẹ con Phụng đi thăm vườn cam sắp trẩy của Chàng. Rồi cũng đến lúc Phụng phải ra về. Nàng hẹn có dịp sẽ trở lại thăm Linh. Từ đấy Linh cứ ngày đêm ôm ấp bóng hình của Phụng và chờ đợi nàng hết ngày này qua tháng khác “như vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về” (Đợi chờ). Ở một truyện khác, Bên dòng Hương giang lại là một câu chuyện tình lãng mạn bất chấp rào cản gia đình. Vinh Sơn là một chàng trai du học ở Pháp về nhưng chàng không ra làm quan để tiến thân như bao người khác. Chàng chạy theo tiếng gọi đắm say của tình yêu. Vinh Sơn yêu Diễm Lan “một cô gái lãng mạn, tân tiến nhất Hà Thành” dù gia đình không cho cưới. Và hai người đã vượt qua mọi rào cản, đưa nhau đến một biệt thự “Bên dòng Hương giang” để tận hưởng thú vui của tình yêu.

Còn câu chuyện tình yêu trong Sóng gió Đồ Sơn lại có những trớ trêu khác. Văn Hải, một chàng trai trẻ, yêu vợ của bạn ngay trong lễ cưới của nàng. Rồi chàng âm thầm theo đuổi mối tình vô vọng của mình trong bao nhiêu năm để đến một ngày buộc phải thổ lộ. Khác với các mối tình trên, mối tình của Hoàn và Phát trong Thời chưa cưới lại là một mối tình “đôi lứa xứng đôi” của trai tài gái sắc. Họ yêu nhau vì tài, cảm nhau vì sắc. Họ đã sống những giây phút thần tiên mộng ảo của tình yêu thời chưa cưới. Những rồi họ đã làm tổn thương nhau và mối tình của họ có nguy cơ tan vỡ… Miêu tả những câu chuyện tình yêu, Khái Hưng không chỉ đơn giản là miêu tả những sắc màu lãng mạn của tình yêu với bao hoa thơm mộng đẹp, nhớ nhung. Với truyện ngắn Sư Tuệ, Khái Hưng đã cho ta thấy sức mạnh vô địch của tình yêu. Nó mạnh hơn cả tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà sư đã bao nhiêu năm đắc đạo, tưởng bụi trần đã hết mà chỉ một lần ngắm bức tượng Ngọc Nữ trong chùa, hình ảnh người tình xưa đã sống dậy. Và sáng sớm hôm sau, người ta thấy nhà sư đã cởi bỏ bộ áo tu hành rời chùa ra đi. Tình yêu vốn là một thứ tình cảm thiêng liêng không thể thiếu giữa con người với con người. Song cách xử sự của con người sẽ quyết định tính chất của nó: làm cho tình yêu trở thành một thứ tình cảm cao thượng đúng như bản chất của nó hay sẽ biến tình yêu thành một thứ dục vọng thấp hèn, đầy tính toán vị kỷ. Thưa chị, Tình điên, Nghĩa cái cười là những câu chuyện tình mà Khái Hưng muốn gửi đến cho người đọc những thông điệp đó. Và chiều sâu mang ý nghĩa nhân văn của những truyện viết về đề tài tình yêu trong truyện ngắn Khái Hưng cũng chính là ở chỗ đó.

2. Bên cạnh tình yêu, đề tài về người bình dân cũng là một mảng đề tài chính trong truyện ngắn Khái Hưng. Phần lớn các truyện ngắn viết về đề tài này ra đời trong khoảng thời gian từ 1939 – 1940, là thời kì cao trào đấu tranh Mặt trận Dân chủ diễn ra sôi nổi. Quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên đòi quyền tự do dân chủ, đòi cơm áo. Người lao động đã bước lên vũ đài chính trị một cách công khai. Vai trò, vị trí của người lao động trở nên quan trọng trong xã hội. Vì thế vấn đề người lao động, người bình dân, được nhiều nhà văn chú ý. Chân dung “người lao động, người nhà quê” xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn học và báo chí thời kỳ này. Văn học hiện thực phê phán đã xây dựng được chân dung người nhà quê điển hình như chị Dậu (Tắt đèn), anh Pha (Bước đường cùng)… Chịu sự tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) của phong trào, Tự lực văn đoàn phân hóa theo hướng tiến bộ. Báo Ngày Nay của Tự lực văn đoàn mở mục Bùn lầy nước đọng đăng một số phóng sự điểu tra về nông thôn, sau đó đăng một số truyện ngắn về nông thôn và người nông dân như Con trâu, Sau lũy tre, Những ngày thơ ấu. Các cây bút chủ lực của Tự lực văn đoàn chuyển từ lãng mạn sang hiện thực. Khái Hưng viết một loạt truyện mang đậm chất hiện thực: Cái Ve, Anh phải sống, Người vợ mù, Dưới ánh trăng, Đào mơ, Hòn Gay, Biến đổi, Cô hàng nước… đều đề cập đến số phận của những người dân nghèo. Hình ảnh những người dân nghèo quanh năm đầu tắt mặt tối “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” hiện lên khá chân thực trong các tác phẩm trên. Đó là gia đình anh Thức, chị Lạc (Anh phải sống) trong gian nhà “lụp sụp, ẩm thấp, tối tăm” trên đê Yên Phụ, trên chiếc phản gỗ không chiếu là ba đứa con nhỏ đương cùng khóc lóc gọi mẹ vì đói. Thằng Bò khát sữa kêu gào đòi bú. Nguồn sống chính của gia đình là ngày ngày ra giữa dòng sông vớt củi đem bán nên hai vợ chồng anh chị Thức vẫn mong ngày có nước to, củi tràn về nhiều. Cái nghèo cái đói khiến họ phải liều thân phó mặc số phận mình cho dòng nước. Trong lúc giông to gió lớn, nước chảy dữ, trời đất mịt mùng hai vợ chồng vẫn phải lao ra giữa dòng nước xiết để vớt củi. Con thuyền nhỏ “như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu”. Rồi thuyền lật. Chị Lạc đã buông tay, chịu chết chìm trong dòng nước để anh Thức được sống vì còn ba đứa con côi cút trông vào sức lao động của người cha. Đoạn kết của câu chuyện “Đèn điện sáng rực suốt bờ sông. Gió đã im. Cây đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỡ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hi sinh vì lòng thương con. Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm xuôi dòng”, khiến người đọc nghẹn ngào đến rơi nước mắt. Nó ám ảnh và day dứt chúng ta không khác gì cái kết thúc truyện với hình ảnh những đứa con thơ bơ vơ vì mất mẹ trong Nhà mẹ Lê của Thạch Lam. Và có thể nói Anh phải sống xứng đáng là một tác phẩm hiện thực xuất sắc. Khái Hưng đã vượt khỏi thiên kiến của giai cấp mình để đồng cảm và sẻ chia với sự cùng quẫn của những kiếp người nghèo khổ. Hình ảnh những người dân nghèo còn xuất hiện trong một loạt các truyện ngắn khác như: Xanh cà bung, Lòng tốt, Cái Ve. Đó là những con người “gầy gò, rách rưới với gương mặt hốc hác, nước da xanh tái, cặp mắt sâu hoắm”. Sống trong những “căn nhà lá tồi tàn màu nâu xám” ngập ngụa “những mùi hôi thối và vật dơ dáy” với những bữa ăn “chỉ có món cá nấu lại bày trên lá cót đặt trên bốn hòn gạch nhỏ”. Sự thiếu thốn của những con người nghèo khó đã thức tỉnh anh chàng nhà giàu Văn (Xanh cà bung) – người vẫn hay chê bai đỏng đảnh những bữa ăn sang trọng ở nhà. Từ đấy trên bàn của Văn thường có món cà bung. Và mỗi lần ăn cà, Văn thường nhớ đến những người nghèo khổ. Sự thức tỉnh của Văn phải chăng cũng là tình cảm của Khái Hưng dành cho người nghèo?

Viết về những con người khốn khó, Khái Hưng đặc biệt quan tâm và dành nhiều tình cảm cho những người phụ nữ. Người phụ nữ trong các truyện của Khái Hưng phần lớn đều là những người phụ nữ nghèo mà cuộc đời họ luôn gặp phải những bất hạnh, những éo le, trắc trở và luôn phải đối mặt với một cuộc sống thiếu thốn về cả vật chất cũng như về tinh thần. Một cô Ve (Cái Ve) nghèo, xấu xí luôn bị mọi người xa lánh, hắt hủi. Một cô Tẹo (Dưới ánh trăng) ngây thơ trong trắng bị lừa gạt rồi mang thai phải tự tử chết. Một chị Đông (Bến Hòn Gay) xinh đẹp hay một cô Mơ (Đào Mơ – Dọc đường gió bụi) có tài hát hay với những long đong lận đận trong cuộc đời hay một chị Lạc (Anh phải sống) với cái nghèo, cái đói quanh năm rồi phải chết một cách tức tưởi. Viết về những kiếp người bất hạnh, nét tiến bộ của Khái Hưng là ông đã có một cái nhìn thấm đẫm nhân đạo. Ông không chỉ cảm thông mà còn trân trọng những phẩm chất tốt đẹp ở họ. Cô Ve xấu xí về hình thức song luôn biết ý thức về bản thân mình với tấm lòng nhân hậu, tràn đầy khát vọng về tình yêu con người. Chị Lạc – một người mẹ trẻ đã chọn cái chết giữa dòng nước xiết để cứu chồng, con. Cô Hiên (Biến đổi) vì người cha đã hi sinh hạnh phúc cả đời con gái. Cô Mơ xinh đẹp hát hay, tiền bạc cũng không khuất phục được lòng đam mê nghề nghiệp của cô. Chú bé Tuất (Biển) nghèo khổ được làm con nuôi một nhà giàu, được sống trong nhung lụa nhưng vẫn luôn nhớ về quê hương cội nguồn, nhớ đến người mẹ và người cậu nghèo khó của mình. Với truyện ngắn Hai người tàn tật Khái Hưng đã thực sự trân trọng những con người không may mắn. Dù bị tật nguyền nhưng những gì họ đã làm thì xứng đáng cho chúng ta cảm phục. Không chỉ trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của những con người nghèo khổ bất hạnh, Khái Hưng còn là người bênh vực họ. Qua câu chuyện về cuộc đời bất hạnh của cô gái thôn quê (Tẹo) trong truyện Dưới ánh trăng, Khái Hưng đã lên án nghiêm khắc kẻ đã gây ra cái chết của cô bằng một lời tự thú của nhân vật Văn: “Người ta đương sống với cái đời giản dị, bình thường của người ta, tự nhiên mình về quyến rũ người ta. Rồi khi mãn nguyện lại bỏ mặc người ta. Như thế không gọi là khốn nạn thì gọi là gì?”. Rõ ràng ở đây ta thấy Khái Hưng cũng đã phần nào giống các nhà văn hiện thực – những người luôn bênh vực chở, che cho những số phận nghèo bất hạnh.

3. Cùng với đề tài người bình dân, một số truyện ngắn của Khái Hưng: Biển, Trăng thu, Dọc đường gió bụi, Tương Tri là những truyện ngắn đề cao những giá trị văn hóa trường tồn của dân tộc. Đó là những tình cảm thiêng liêng mà ta phải luôn trân trọng, gìn giữ. Lòng tôn vinh truyền thống văn hóa dân tộc được Khái Hưng đề cập rõ nét trong truyện ngắn Trăng thu. Trăng thu dẫn người đọc đến một đêm hát trống quân lãng mạn trên thuyền ở trên dòng sông Tô với “những lời tình tứ, những câu văn hoa của đôi trai gái, trăng thu trong vắt, trên dòng nước thu êm lặng bao phủ một làn ánh sáng dịu dàng huyền diệu. Hai con thuyền đi song song và cách chỉ chừng mười thước êm đềm thong thả tiến trong khói sương. Đến Sa la, nàng hát một câu từ biệt chàng. Chàng còn cố khẩn khoản giữ lại nhưng nàng xin chàng thứ cho. Rồi chàng ra về, nàng phải gạt lệ và lòng nàng bị tan nát héo khô vì tình…”. Điệu hát trống quân mượt mà êm ái không chỉ khiến con người xích lại gần nhau, trao gửi cho nhau những tình cảm đẹp đẽ mà còn làm cho con người như được cảm thấy “mình đang được sống trong một thế giới lạ lùng, một thế giới khác hẳn với thế giới bùn lầy nước đọng, làm ăn vất vả mọi ngày thường”. Nếu tiếng hát trống quân khiến anh Nhiễu trở thành một người chồng độ lượng, biết tôn trọng niềm say mê của vợ thì những làn điệu chèo duyên dáng thiết tha lại níu giữ cô gái Mơ xinh đẹp hát hay. Mơ là một giọng hát chèo đẹp trong phường hát của bác hai Truyền. Một lần trong lúc đi diễn, gánh hát dừng chân ở ấp Đông Hà. Chủ ấp là một thanh niên ưa cầm, kì, thi, họa. Ngay hôm gánh hát tới, ông chủ ấp và Mơ đã phải lòng nhau. Gánh hát mất Mơ như mất tâm hồn. Ông chủ gánh hát như điên dại nhưng đành chấp nhận. Nửa đêm bên tình nhân, Mơ như nghe có tiếng kèn, tiếng trống và tiếng hát thúc giục nàng. Mơ từ bỏ tất cả để đi theo gánh hát như một nỗi đam mê mà cả hạnh phúc của ái tình, lẫn mãnh lực của kim tiền đều không thắng nổi. Ở truyện ngắn Tương Tri sự trân trọng những giá trị văn hóa tốt đẹp lại được thể hiện ở tấm lòng ngưỡng mộ tài năng, nhân cách của một ông lão đánh cờ như “một ông tưởng can đảm, sáng suốt, có mưu trí, lúc lâm nguy, lúc khởi thế công” hoặc như một ông tiên “với cái mũ ni nhiễu tam giang, với cây gậy trúc màu vàng ngà” giống một nhà đạo sĩ đi tìm thuốc trường thọ. Với Chùa Hương, tình yêu quê hương, đất nước lại gắn liền với sự gìn giữ cảnh vật thiên nhiên, với những truyền thuyết đầy màu sắc huyền thoại Liêu Trai “Đêm khuya, trăng ngả về tây, lượn chung quanh thuyền trên con sông khúc khuỷu, khi ở đằng mui khi ở đằng lái, khi sang bên tả, khi sang bên hữu, như múa khúc nghê thường theo điệu trống trúc véo von, giải lụa vàng thướt tha bay trong sương, dịu dàng lướt trên mặt nước” gắn liền với những tình cảm đẹp đẽ thuở hoa niên.

Bên cạnh những đóng góp về mặt nội dung truyện ngắn Khái Hưng còn có những cách tân đáng chú ý về mặt nghệ thuật.

1. Trước hết về mặt kết cấu truyện, truyện ngắn của Khái Hưng có kết cấu khá đa dạng. Truyện của ông lúc thì được viết theo kiểu kết cấu kép, lúc thì được viết theo kiểu kết cấu tâm trạng và lúc khác lại có lối kết cấu mở. Bởi vậy đọc truyện của Khái Hưng ta không có cảm giác nhàm chán đơn điệu.

Kết cấu kép (Đây là kiểu kết cấu truyện lồng trong truyện) một câu chuyện phụ làm tiền đề dẫn dắt câu chuyện chính. Câu chuyện chính này thường là để nói lên một vấn đề về thế sự nhân sinh. Nếu ở kiểu kết cấu luận đề các sự kiện được sắp xếp một cách chủ định nhằm làm sáng tỏ một nhận định mang một tư tưởng nào đó của nhà văn thì ở kiểu kết cấu kép này các sự kiện được đan xen vào nhau một cách hiệu quả và bất ngờ, những vấn đề về thế sự nhân sinh được thể hiện một cách thâm trầm kín đáo nhưng vẫn gợi trí tưởng tượng, khích lệ sự tìm tòi ở độc giả. Trong kiểu kết cấu này thường có những đoạn trữ tình ngoại đề làm cho câu chuyện bớt căng thẳng và đem đến cho người đọc cảm giác nhẹ nhàng thoải mái. Một số truyện ngắn của Khái Hưng có lối kết cấu này là Bến Hòn Gai, Biến đổi, Tống tiền, Bắt trộm, Linh hồn. Ở truyện ngắn Biến đổi, lúc đầu tác giả kể về cuộc dạo chơi của hai thanh niên là Lực và Đoàn đi chơi làng Keo. Họ phải ngủ đêm tại làng và được một cô gái tên là Hiên tiêm thuốc. Rồi câu chuyện chính về cuộc đời Hiên được tái hiện qua lời kể của cô gái: Hiên nhà nghèo, mẹ mất sớm, cha nàng dạy học nhưng rồi ông bị mắc bệnh nặng. Hiên phải đi làm nghề tiêm thuốc để đỡ đần cho cha. Bẵng đi một thời gian, Lực và Đoàn không gặp lại Hiên. Đoạn kết của câu chuyện được dừng lại ở cảnh Lực và Đoàn bỗng bất ngờ gặp lại Hiên trên đê Yên Phụ. Hiên bây giờ không còn là cô gái quê trong trắng ngày xưa. Nàng “nhởn nhơ trong bộ y phục tân thời. Cả một quãng đời phóng đãng như in dấu vết lên bộ mặt dạn dày mưa gió”. Cô gái quê mùa đã đổi thay bởi hoàn cảnh sống. Với lối kết cấu này, câu chuyện chính được dẫn dắt từ một câu chuyện phụ nhưng truyện không bị tách rời ra hoặc ngắt quãng mà vẫn liền mạch. Khái Hưng đã dẫn dắt câu chuyện từ hiện tại trở về quá khứ hoặc từ quá khứ sang hiện tại một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên.

Ngoài kiểu kết cấu kép, một số truyện của Khái Hưng còn kết cấu theo kiểu tâm trạng. Đây là kiểu kết cấu mà câu chuyện được tái hiện theo tâm trạng nhân vật. Đây là kiểu kết cấu mới, được khá nhiều cây bút truyện ngắn sử dụng mà đặc biệt là Thạch Lam - một cây bút truyện ngắn xuất sắc của Tự lực văn đoàn đã sử dụng khá thành công. Kết cấu theo tâm trạng thường được sử dụng để thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn: đi sâu khai thác và thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật. Một số truyện của Khái Hưng viết theo kiểu kết cấu này là Đợi chờ, Tập ảnh, Bến đò năm xưa, Dưới ánh trăng. Ở những truyện ngắn này, truyện của Khái Hưng lôi cuốn người đọc ở khả năng am hiểu và phân tích tâm lý sâu sắc, tinh tế. Trong truyện Tập ảnh, câu chuyện về cuộc đời, về tình duyên của cô gái xinh đẹp nhưng lỡ thì hiện lên theo mạch hồi ức của Lý. Những trạng thái vui buồn, những kỷ niệm thơ mộng xen lẫn những dư vị xót xa khi mối tơ duyên đầu không thành của Lý đã được Khái Hưng thể hiện khá sinh động: “Năm 1926 là năm Lý có nhiều ảnh nhất. Thời ấy Lý đang theo học năm thứ tư trường nữ học và tuổi nàng vừa mười tám. Trên sáu trang nàng hiện ra tươi sáng, hồng hào mạnh mẽ như cái mầm hồng mập mạp buổi đầu xuân… Bỗng nàng lim dim mắt thở dài… Nàng vừa nhìn thấy ảnh một trang thiếu niên xen lẫn vào giữa những ảnh nàng trong những khuôn giấy nhỏ và chụp hơi vụng… Mối tình âm thầm đau đớn ấy nay nàng nhớ lại vẫn còn làm cho lòng nàng xao xuyến”. Tâm trạng của Lý cũng đổi thay theo thời gian: “Nhưng Lý buồn rầu nhận thấy rằng thời gian đã bắt đầu – tuy chưa rõ rệt – vạch dấu vết trên vừng trán rộng, trên đôi má hồng tươi. Tình xưa của nàng đã mất, nhường chỗ cho một tính tình mãnh liệt hơn nhiều: sợ già”. Truyện Dưới ánh trăng, các câu chuyện hiện ra liên kết với nhau: nào chuyện Văn về quê, cuộc sống ở làng quê với những đêm trăng gặt lúa, chuyện tình của Văn với Tẹo, chuyện Tẹo có thai bị làng phạt và phải tự vẫn, rồi Văn về quê giải quyết chuyện của Tẹo… Tất cả hiện ra qua dòng hồi tưởng liên tục của nhân vật Văn.

Ngoài kiểu kết cấu kép, kết cấu tâm trạng, một số truyện ngắn của Khái Hưng còn sử dụng lối kết cấu mở. Đây cũng là lối kết cấu của truyện ngắn hiện đại. Với những truyện có kết cấu kiểu này ở đoạn kết của truyện, tác giả thường không đưa ra lời kết cho số phận nhân vật. Lời kết ấy tác giả dành cho người đọc đoán định. Trong truyện Đợi chờ, tác giả miêu tả tâm trạng của chàng trai Linh với cô gái tên Phụng. Chàng trai cứ đợi chờ từ ngày này qua tháng khác như “vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về” nhưng không biết cô gái có trở lại hay không. Lời đoán định ấy thuộc về người đọc. Ở truyện Tương Tri, cuộc đời và thân phận của một ông tiên cao cờ như thế nào, ông còn tiếp tục trở lại đánh cờ hay không? Câu trả lời ấy dành cho độc giả. Trong Sự bí mật của anh Chế, người đọc cũng phải tự khám phá những bí mật của anh Chế: hành tung của anh và cái chết bất ngờ của anh sau cánh cửa gỗ. Trong truyện Sư Tuệ với một cái kết “Rồi một hôm sư Tuệ bỏ chùa đi”. Nhà sư đi đâu? Rũ bỏ bộ áo tu hành để đi tìm người yêu cũ hay đi sang ngôi chùa khác? Số phận nhà sư sẽ thế nào? Tùy người đọc phán đoán và kết luận.

Ngoài nghệ thuật kết cấu, truyện ngắn Khái Hưng còn lôi cuốn độc giả ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật miêu tả.

2. Ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, có thể nói Khái Hưng đã khắc họa chân dung nhân vật bằng nhiều thủ pháp. Chân dung tính cách nhân vật khi thì được miêu tả một cách trực tiếp “Cụ Tú là một ông già bảy mươi tuổi, y phục rất cổ, đầu đội mũ ni nhiễu, mình mặc áo thâm rộng, tay chống cây gậy trúc. Có lẽ cụ thích y phục ấy chứ thực sự cụ tuy râu tóc bạc phơ mà còn khỏe mạnh, chưa điếc, chưa lòa, chưa gù, cái gậy cụ cầm là một vật trang sức hơn là vật cần dùng” (Tương Tri) hoặc “Nhà tu hành ấy là một chàng trai thiếu niên ngoài ba mươi tuổi, thân hình vạm vỡ, vẻ mặt khôi ngô, hai vai ngang và rộng, bộ ngực nở nang dưới làn áo nâu mỏng, đôi má phinh phính, nước da hồng hào, cặp má đỏ như thoa son, hai con mắt sáng long lanh, nhanh nhẹn” (Sư Tuệ). Có khi chân dung nhân vật lại được hiện lên qua điểm nhìn của nhiều nhân vật. Trong truyện Cái Ve, chân dung ông giáo Thanh qua con mắt của những người lao động chân tay ở cùng nhà trọ là “một người kiêu ngạo, ít nói, vui buồn không để lộ ra ngoài mặt, một người đã nhiều phen phê bình lời bông đùa, cợt nhả của họ bằng sự yên lặng trang nghiêm”. Nhưng dưới con mắt của Ve thì ông giáo Thanh là người “nói với nàng những câu dịu dàng, đứng đắn, khác với những lời cục cằn của mấy bác thợ ăn cơm trọ nhà nàng” (Cái Ve). Trong khi khắc họa chân dung nhân vật, Khái Hưng rất chú ý đến việc cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật. Ngôn ngữ của tầng lớp thanh niên quý tộc thường là thứ ngôn ngữ phòng trà bóng bẩy, hoa mỹ. Ngôn ngữ yêu đương của cô tiểu thư nhà giàu: “ – Mình ơi! Em sung sướng quá. Em ước ao trọn đời được ở bên mình trong cái cảnh thần tiên mộng ảo này” (Bên dòng Hương giang), càng xa lạ với thứ ngôn ngữ của cô gái thôn quê thật thà chất phác: “Ông Văn! Thưa ông, em khổ lắm, em chỉ muốn chết thôi. Nhưng em chả biết làm thế nào để chết được bây giờ… Em chả biết ông có còn thương em nữa không mà em viết nhưng bu em bảo em cứ viết chứ em chả biết làm thế nào cả… Ông có còn thương em tí nào nữa thì ông định liệu cho em phận nào, em được nhờ phận nấy”. Tẹo kí (Dưới ánh trăng)

Ngôn ngữ của bọn nhà giàu là ngôn ngữ hách dịch, trịch thượng của tầng lớp ông chủ: “Văn liền dẫm mạnh lên sàn xe và thét: - Đỗ lại! Đỗ lại đây. Bước xuống xe, chàng còn chưa hả cơn tức, còn mắng thêm một câu: Điếc à! Chỉ cắm đầu chạy tràn” (Xanh cà bung). Còn ngôn ngữ của những người nghèo, phận “con sâu cái kiến” thì hễ cất lên là van xin, khúm núm: “ – Lạy cậu, cậu thương” (Lòng tốt), hoặc “ – Thưa các quan, không phải em dám làm cao nhưng thầy em ốm” (Biến đổi).

3. Ở nghệ thuật miêu tả, truyện ngắn Khái Hưng hấp dẫn bạn đọc ở cách sử dụng ngôn ngữ miêu tả. Ngôn ngữ miêu tả trong truyện ngắn của ông vừa mượt mà chất thơ, vừa giàu chất tạo hình lại giàu khả năng biểu cảm. Đây là một cảnh biển trong một không khí lao động dưới ngòi bút Khái Hưng: “Ven làn nước có phần êm lặng so với những buổi chiều huyên náo mấy hôm trước, từng hàng người lực lưỡng kéo lưới. Những tấm thân cường tráng, nổi từng bắp thịt răn chắc và cùng ưỡn ra, ngả về phía sau. Những bộ đùi mập mạp cứng như thép cùng duỗi thẳng để nhịp nhàng giẫm chân xuống cát và từ từ lùi lại, từ từ quá đỗi đến nỗi ta sẽ tưởng vẫn đứng y nguyên một chỗ…” (Biển). Cảnh vật một vùng thôn quê trong ánh hoàng hôn vừa thơ mộng bởi vẻ đẹp của thiên nhiên, vừa sống động bởi hoạt động của con người: “ánh sáng vàng úa của vừng thái dương đỏ chói như còn do dự ở chân dãy tre già cao vót rì rào kẽo kẹt. Luồng gió mát về chiều vừa đánh thức xóm Hồng Thủy miên man ngây ngất trong bầu không khí nồng nực của một buổi trưa mùa hạ. Nào tiếng cười đùa của các cô gánh nước xúm xít nhau bên bờ giếng, nào tiếng ca hát của bọn mục đồng cưỡi trâu bò về chuồng, nào tiếng cãi cọ của trẻ con đuổi nhau chạy quanh mấy gốc đa già trên tòa miếu cổ” (Tình điên). Để tăng chất chữ tình trong tác phẩm, Khái Hưng rất chú ý đan xen những đoạn miêu tả thiên nhiên. Khi thì một cảnh vật sau cơn mưa: “Ngang mái tranh, nước mưa đọng giọt một hàng lấp lánh như những ngôi sao. Và đều đều sao theo nhau mọc. Thong thả, rời rạc, lười biếng như tiếng đời” (Hạnh). Khi thì một tia nắng bất ngờ “ánh nắng vàng đục, trong mát, mịn màng như lọc qua mấy đợt mây xanh, vẽ đều những hình rung động trên cát ướt” (Biển). Thiên nhiên không chỉ tạo ra chất thơ bàng bạc trong tác phẩm, thiên nhiên còn góp phần thể hiện nội tâm con người: “Song từ hôm ra Đồ Sơn, Bạch Tuyết thấy tình hình đổi khác hẳn. Khi mặt trời mọc, khi mặt trời lặn, khi ánh trăng chơi vơi trên làn sóng, khi tiếng gió vù vù thổi rạp lá thông, Bạch Tuyết đều thấy trong lòng nảy ra một mối tình vô hạn. Có buổi chiều ngồi một mình trên mỏm đá thấy trái tim đập mạnh như hồi hộp vì ai” (Sóng gió Đồ Sơn). Vũ Ngọc Phan đã từng nhận xét rằng Khái Hưng là “một nhà quan sát lão luyện” quả không sai. Chúng ta hãy xem nhà văn tả một bữa cơm của những người lao động bình dân để thấy tài quan sát và miêu tả của ông: “Trên mâm, đĩa đậu phụ om tương, đĩa rau muống xào tóp mỡ, đĩa đu đủ xanh om mắm tôm sạch sẽ như lai. Ai nấy ăn ngốn ngấu vội vàng không trò chuyện, không ngừng gắp, không ngừng nhai. Người ta chỉ nghe thấy tiếng hai hàm răng chạm nhau côm cốp, tiếng thìa đĩa đụng nhau lách cách và tiếng canh húp sụp soạp. Ăn no ai nấy trở nên vui vẻ và những câu chuyện khôi hài nghịch ngợm, chen đua nhau không ngớt” (Cái Ve). Chỉ qua việc tả một bữa cơm, Khái Hưng đã cho người đọc thấy đủ hết “dư vị” cuộc sống của tầng lớp lao động nghèo từ đời sống vật chất đến thế giới tinh thần. Và chúng ta có cảm tưởng như nhà văn là người trong cuộc.

Tất nhiên cũng phải thấy rằng những truyện ngắn của Khái Hưng được viết ra từ những năm 30 – 40 của thế kỉ XX, khi mà nền văn xuôi Quốc ngữ còn đang trên con đường hiện đại hóa, nên nó cũng chưa thực sự toàn bích. Bên cạnh những truyện được Vũ Ngọc Phan đánh giá là xuất sắc “thường ngụ một ý thật cao” như các truyện trong tập Dọc đường gió bụi, Đợi chờ, Hạnh vẫn không phải không có những truyện nhạt nhẽo vô vị. Văn trong truyện của ông, bên cạnh những câu văn mượt mà , hiện đại vẫn còn dấu vết của những câu văn cổ. Ta hãy xem một bức thư tình của chàng Văn Hải viết cho người mình tơ tưởng nhớ. Đã nhiều phen mượn giọt mực đen tờ giấy tím để bày tỏ ngày đêm tôi âu sầu tưởng nhớ. Đã nhiều phen mượn giọt mực đen tờ giấy tím để bày tỏ tấm gan vàng với người mắt xanh…”. Các cụm từ cổ như “khối tình”, “ly biệt”, “mỹ lệ”, “nhỏ lụy”, “ái tình”. “sầu thảm” ta còn thấy rơi rớt trong truyện Khái Hưng. Tuy vậy, với những nét đặc sắc trên, Khái Hưng vẫn là một cây bút truyện ngắn nổi bật có những đóng góp không thể phủ nhận vào dòng truyện ngắn lãng mạn nói riêng, dòng truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 nói chung, góp phần hoàn thiện diện mạo của thể loại truyện ngắn Việt Nam thế kỉ XX.

LÊ DỤC TÚ

PGS.TS – Viện Văn học

Các Bài viết khác