NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

TRĂNG SÁNG, HOA THƠM TRONG HỒN THƠ HỒ CHÍ MINH

( 13-02-2014 - 05:31 AM ) - Lượt xem: 1967

Trong đời, đã bao lần Hồ Chí Minh ngắm trăng, xem hoa, đón nhận hình ảnh. ánh sáng cũng như sắc diện, hương thơm từ trăng, hoa? Có những hoàn cảnh bình thường và cả không bình thường, thậm chí là éo le – bận việc quân hoặc ở trong tù... Tuy nhiên, tất cả cảnh và tình ấy đều được in dấu sâu đậm trên những vần thơ bộc lộ một tâm hồn tinh diệu của nhà thơ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.

I)           TRĂNG SÁNG, HOA THƠM IN DẤU HỒN THƠ

Trong thơ Hồ Chí Minh (1), cả ở phần chữ Hán và tiếng Việt đều ghi lại nhiều bài có nói về trăng, hoa.

 

Về trăng, có mười bài, về hoa, có tám bài (không kể hai bài là hoa ẩn dụ, hoa thành tích của phong trào thi đua:

 

Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong

 

Hoa chiến công:

 

Tin mừng thắng trận nở như hoa

 

Mỗi loại mươi bài nhưng trong đó lại có những bài đặc sắc rất tiêu biểu của tâm hồn môt nhà thơ lớn, có thể được lưu lại như những bài thơ vào loại hay nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam: Vọng nguyệt, Vãn cảnh, Thướng sơn, Đối nguyệt, Báo tiệp, Nguyên tiêu, Cảnh rừng Việt Bắc, Cảnh khuya.

 

Nếu phân loại, có thể thấy nổi bật: trăng vào mùa xuân (Nguyên tiêu: tiết rằm tháng Giêng)và trăng thu (đặc biệt vào tiết trung thu, rằm tháng Tám). Còn với hoa thì nổi trội hơn cả là hoa mùa xuân (xuân hoa).

 

Trong bài Tặng Bùi công – đúng là cảnh mùa xuân, có hoa mùa xuân (Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì – Khi phê công văn, hoa xuân soi bóng trong nghiên mực) và do đó có thơ mới tặng cũng mang tính chất mùa xuân (Nhớ cụ, thơ xuân tặng một bài – theo bản dịch Hồ Chí Minh – Thơ, NXB Văn học, 1975). Tuy nhiên, trong hồn thơ Hồ Chí Minh, thì khi tìm bạn trở về, ngẫu nhiên qua cây mai núi thấy “phép lạ”: Mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân – Mỗi đóa hoàng hoa nhất điểm xuân. (Tìm bạn chua gặp – Tầm hữu vị ngộ). Bài viết vào mùa xuân chiến dịch Điện Biên Phủ, mùa xuân thơ hòa mùa xuân chiến thắng trong tâm hồn Hồ Chí Minh.

 

Trăng thường là đẹp. Ấy là trăng tròn vào trung thu hoặc vào Nguyên tiêu – rằm tháng Giêng:” nguyệt chính viên’ (trăng vừa tròn). Đặc biệt là trăng sáng. Ánh trăng lồng lộng (minh nguyệt) soi tỏ (hạo nguyệt) chan hòa vạn vật.

 

Hoa cũng đầy hương sắc. Tuy không miêu tả cụ thể nhưng hoa xuân là hoa nở mùa xuân – mùa của muôn hồng nghìn tía. Có bài miêu tả cụ thể: Mậu Thân xuân tiết – Tiết xuân Mậu Thân. Đó là cảnh trăm hoa đua nở đầy vườn (bách hoa khai mãn viên):

Hồng hồng tử tử hỗ tranh nghiên

Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi

 

Có hoa đẹp nhưng chủ yếu là miêu tả hoa thơm, tức bên cạnh sắc là hương: Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hương ( Đầy non chim hót với hoa thơm). Có bài đặc tả mùi hương, như Vãn cảnh: “Hương hoa thấu nhập lung môn lý (Hương hoa bay thấu vào trong ngục).

 

Trong thơ Hồ Chí Minh, chỉ xuất hiện hai loài hoa rõ rệt về danh tính: hoa hồng (mai khôi) và hoa mai (nhất chi mai, hoàng mai). Ngoài ra là hoa nói chung (hoa xuân, hoa núi...). Việc chọn loài hoa này vừa vô tình (ngẫu nhiên) trong hoàn cảnh, vừa cố ý trong thể hiện .Nghĩa là vừa thực vừa hư, vừa chân thật vừa lãng mạn, vừa hiện thực vừa tượng trưng. Bởi mỗi loài hoa thường có đặc điểm hương sắc riêng,  tức có cốt cách và tinh thần riêng, có phát ngôn – tức tiếng nói riêng, có ý nghĩa tượng trưng đặc hiệu.

 

Cần hiểu thêm, bình sinh, Hồ Chí Minh có sở thích riêng với hoa. Qua đời sống, sinh hoạt của Người, một số nhà thơ đã có những phát hiện thú vị. Trong “Vườn Bác” có rất nhiều loài hoa nhưng Tố Hữu luyến tiếc:

 

Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài

(Bác ơi!)

 

Trong khi Chế Lan Viên viết về Hoa trước lăng Bác có những câu:

 

Tri kỷ với hoa mộc trong vườn, trong phòng: hoa huệ

Yêu mùi hương ngay cả khi đôi chân treo tựa giảo hình

......

Ngôi nhà sàn nằm yên trong hoa mộc, hoa ngâu

 

Vậy là đã rõ, Bác rất chuộng loài hoa có sắc trắng, sáng, nhất là có mùi hương dịu nhẹ, thoảng xa. Ngược lại, “Bác không thích các mùi hương lõa lồ, gay gắt”.

 

Trước hết, nói về hoa.

 

Ta trở lại với hoa hồng trong Vãn cảnh (Cảnh chiều tối).

 

Trong văn học cổ, cận đại Việt Nam và phương Đông, cũng như phương Tây, ngoài nghĩa thực trong văn cảnh, hoacòn mang ý nghĩa ẩn dụ, phúng dụ và tượng trưng biểu thị cho tình yêu và tuổi trẻ, đặc biệt là nhan sắc rực rỡ của người thiếu nữ với số phận mong manh nhanh chóng phai tàn:

 

Hoa hồng nở, hoa hồng lại rụng

Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình

 

Hoa đã mượn hương để giao lưu với người tù:

 

Hương hoa bay thấu vào trong ngục

Kể với tù nhân nỗi bất bình

 

Theo văn cảnh, hương hồng thơm ngát tìm đến người tù trong ngục là tìm một tâm hồn tri kỷ để “kể nỗi bất bình”, “tố bất bình”. Nỗi bất bình chung với hoàn cảnh. Với hoa hồng, đó là bất bình của bản thân: một vẻ đẹp kiều diễm bị khuất lấp, rơi vào quên lãng và thân phận mỏng manh sớm nở tối tàn. Với người tù thì quá rõ: một hoàn cảnh “Trời xanh cố ý hãm anh hùng” (Tích quang âm – Tiếc ngày giờ) – hoàn cảnh oan nghiệt, tù túng, cay đắng nhất là “mất tự do”. Tự do thưởng ngoạn thiên nhiên, ở đây là hương sắc hoa hồng và lớn hơn, cao cả hơn chính là tự do để hoạt động cách mạng. Quả đây là một hương thơm lạ trong cảm hứng thơ của Người tù vĩ đại (2).

 

Hoa mai có vẻ đẹp và mang biểu tượng riêng. Trong thơ, có hai loại chính là mai vàng (hoàng hoa) thường ở phía Nam, còn mai trắng (bạch mai, nhất chi mai) lại ở miền Bắc, thường ở trên núi cao, chịu khí hậu mát và lạnh (mai trong Lên núi ).

 

Mai xuất hiện trong thơ ca trung đại, nằm trong một thi đề mang màu sắc văn hóa Việt. Ta có bộ tứ bình “tùng, cúc, trúc, mai”. Đã có ý kiến cho rằng nên chọn mai làm quốc hoa! Mai mang nhiều ý nghĩa biểu tượng vì hương sắc riêng: “Xuân thiên  mai nhụy như thanh bạch”. Nguyễn Du cũng từng viết: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”. Mãn Giác thiền sư thể hiện một triết lý lạc quan về lẽ sinh tồn, biến hóa tự nhiên:

 

Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai

 

Mai còn biểu trưng cho sự bất tử, thường là biểu hiện khí phách của người quân tử với dáng vẻ thanh khiết. Mai mang ý nghĩa lạc quan là ở bài Tầm hữu vị ngộ, cũng mang ý nghĩa ấy nhưng còn đượm triết lý Phật giáo là ở Thướng sơn: cành mai của bến bờ giác ngộ.

 

Hãy tiếp tục dừng lại ở đôi vần để thấu hiểu cái nhìn, cách cảm nhận tấm lòng của nhà thơ về trăng.

 

Nặng lòng vì con trẻ, hầu như đến Tết Trung thu nào, Bác Hồ cũng thường có thơ hoặc lời thư  nhắn gửi bằng thơ:

 

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

 

Ngày còn ở trong tù “Lòng theo trăng thu cũng xa vời vợi” “không được tự do thưởng trăng thu” (Trung thu)

Nhà thơ nhớ các gia đìnhsum họp ăn Tết trung thu mà không quên người tù trong ngục “đang ăn sầu” (ngật sầu). Trung thu trăng sáng, trăng tròn như gương, như tấm lòng người quê hương cũng như người tha hương. Trước sau là vậy: ánh sáng “chiếu rọi thế gian” và hình vẻ tròn trịa của trăng rằm luôn gợi nhớ tình cảm người Bác, người Ông “nhớ thương” , “nhớ nhung” của các cháu. Lòng Bác trọn vẹn tình cảm vớinhi đồng như mảnh trăng tròn ngày rằm vậy. Thời kháng chiến chống Pháp dù trăm công nghìn việc, nhất là “việc quân” có lúc như nước sôi, lửa bỏng, vậy mà, vào tiết trăng tròn (nguyệt chính viên), nhà thơ Hồ Chí Minh vẫn đón nhận:

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

(Tiết rằm tháng giêng – Nguyên tiêu)

Người từng Ngắm trăng trong tù (Vọng nguyệt), nghỉ ngơi thanh thản ngay thời chiến:

Việc quân, việc nước bàn xong

Gối khuya ngon giấc, bên song trăng nhòm

(Đối trăng – Đối nguyệt)

Trăng với Người đúng là đôi bạn tâm giao, tri kỷ. Blaga Dimitrova – nữ văn sĩ Bungaria từng đọc Người, viết “Những bài thơ Người viết trong nhà tù chứa đầy ánh trăng dịu hiền”(3). Ta biết, sau này vẫn vậy, thơ Người tràn đầy ánh trăng. Có thể nói: bởi tâm hồn của Người luôn tràn ngập ánh trăng. Báo chí nước ngoài cũng từng nêu đại ý: Bác Hồ là “mặt trăng dịu hiền” đối với bè bạn. Nhưng người là “sức nóng mặt trời thiêu đốt” đối với kẻ thù (4).

Có những tấm lòng miền Nam đã đền đáp tấm lòng Bác Hồ: “Nhớ khi trăng sáng đầy trời/ Trung thu Bác gởi những lời vào thăm.........Đêm nay trăng lại sáng rồi/ Trung thu nhớ Bác cháu ngồi cháu trông” (Cháu nhớ Bác Hồ - Thanh Hải).

Ánh trăng - Bác Hồ là chủ đề của nhiều thi sĩ. Nguyễn Xuân Thâm qua vần thơ Ánh trăng:

Nửa đêm trăng rọi ngâm thơ Bác

“...””Nguyệt mãn thuyền”, đau nhớ chẳng nguôi

Vắng Bác, ngẩng đầu trăng một sắc

Ánh trăng Người cũng để cho đời

Còn Chế Lan Viên trong Trung thu 69:

Mùa thu đầu thiếu Bác

Đau một sắc trăng ngời

Bác để vầng trăng sáng

Vui triệu cháu mồ côi

“Vầng trăng sáng” đất trời cũng là “Vầng trăng sáng” tâm hồn Hồ Chí Minh.

II/ “THÉP” VÀ “TÌNH” QUA HỒN THƠ LINH DIỆU

Chẳng phải chỉ  ở thi đề thiên nhiên mới có sự kết hợp “tình” và “thép” mà nói như nhà thơ nổi tiếng Hoàng Trung Thông:

Vân thơ của Bác, vần thơ thép

Mà vốn mênh mông, bát ngát tình

(Đọc thơ Bác)

Qua thơ về trăng hoa, trước hết ta thấy một tâm hồn thơ đích thực.

 

Ngắm trăng trong cảnh nhà tù nghiệt ngã, người tù kiểm kê lạnh lùng hoàn cảnh. Có hai điều kiện thưởng ngoạn cần thiết thì đều vắng mặt cả:

 

Trong tù không rượu cũng không hoa

 

Thế nhưng tấm lòng thì vẫn đầy đủ, thường trực:

 

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ

 

Đã có nhận xét lý thú: “Nhân – nguyệt rồi nguyệt – thi gia ở hai đầu câu thơ, cái song sắt chắn giữa... Chúng ta chú ý: ở đầu câu thơ trên, Bác dùng chữ nhân, tức người, người tù để chỉ chủ thể, nhưng cuối câu thơ dưới, chủ thể lại là thi gia. Trước cuộc ngắm trăng, Bác là người tù, cuối cuộc ngắm trăng, người tù đã hóa nhà thơ. Bác đã làm cuộc vượt ngục bằng hành động “ngắm trăng”(5). Liên hệ với Lý Bạch ngắm trăng mà buồn đời, Tản Đà nói với chị Hằng nỗi ngao ngán: “Trần thế em nay chán nửa rồi!”thìrõ ràng, Hồ Chí Minh say trăng nhưng yêu trăng và yêu đời như một nhà thơ chân chính.

 

Trăng trong Cảnh khuya có vẻ đẹp lung linh kỳ ảo:

 

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa

 

Ánh sáng soi tỏ nhiều tầng bậc, từ trời cao xuống cổ thụ và đến cánh hoa dưới thấp. Ánh trăng đan lồng, xen kẽ qua cây, lá và hoa. Thơ làm ta liên tưởng tới trăng, hoa ttrong Chinh phụ ngâm, cũng đan xen, quấn quít như vậy:

 

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông

Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng

 

Cảnh thật đẹp, thật nên thơ “Cảnh khuya như vẽ” đã thành thơ dưới ngòi bút thi nhân Hồ Chí Minh. Cảnh xúc cảm đã tác động làm “người chưa ngủ”. Biết Người có tâm hồn thi sĩ, đã có lần “trăng vào cửa sổ đòi thơ”. Nguyên văn chữ Hán là: “Nguyệt thôi song vấn: Thi hành vị” nghĩa là “Trăng đẩy cửa sổ hỏi: Thơ xong chưa?” (Báo tiệp – Báo tin thắng trận). Bận việc quân, Người khất trăng cũng là khất thơ: “...xin chờ hôm sau”.

Nguyễn Ái Quốc hồi ở Pháp biết vẽ và làm nghề ảnh – tức là nghệ thuật của ánh sáng. Vì vậy, hơn ai hết, Người thấm thía “thi trung hữu họa”. Hồ Chí Minh đã là một họa sĩ trong thơ. Nét vẽ thường giản dị, thanh thoát nhưng nhiều sức gợi. Có bài như bức tranh sơn mài: Trên phong cảnh thiên nhiên đất trời của Lên núi (Thướng sơn) có chiều cao hiển nhiên nhưng vẫn còn chiều sâu ở dưới và một chiều ngang ngoạn mục là con suối, bờ suối. Nét vẽ này bao quát được không gian nhiều chiều, giống như ở Nhớ cố nhân – Ức cố nhân hay Tân xuất ngục học đăng sơn. Chỉ chấm phá đơn sơ mà ghi được cái hồn tạo vật (nét vút cao vẽ mây núi, nét ngang chân núi là dòng sông).

 

Về màu sắc, ở Lên núi (Thướng sơn) chỉ có hai màu. Màu đỏ của mặt trời và màu trắng của nhất chi mai (một cây chi mai khác nhất chi mai là một cành mai trong thơ Mãn Giác. Như vậy, chi mai khác hoàng mai có hoa vàng). Hai màu đơn sơ có tính đối chọi, làm tôn nhau lên và giàu ý nghĩa tượng trưng – Màu đỏ mặt trời gợi sự nồng nhiệt, mãnh liệt, màu trắng của hoa như vẻ thanh tao, thuần khiết. Chúng có vẻ khác biệt, nhưng thực chất lại hòa hợp như hai nét tính cách cần có, thống nhất trong một tâm hồn.

 

Thảng hoặc cũng có đôi bức tranh sặc sỡ như sơn dầu. Ấy là những khi vui. Tiết xuân Mậu Thân (Mậu Thân xuân tiết) là sự pha trộn của một họa sĩ có nghề trong thơ:

 

Xuân muộn đầy vườn hoa nở rộ

Tía hồng đồng loạt trổ màu tươi

Chim trắng bay đi chao vội cá

Oanh vàng tung cánh vút lên trời

Thong dong bao đám mây trôi

Miền Nam thắng trận không ngơi gửi về

 

Khi nhìn kỹ, ta thấy đây là một đoạn phim ghi lại sự vật đang vận động trong một không gian khoáng đạt. Có chiều hướng xuống: chim trời chao cá, có chiều hướng cao: chim oanh vút lên trời. Lại có chuyển động đi lại: mây trời ngang dọc (vân lai hựu khứ) và tin tức từ Nam ra Bắc. Màu sắc đủ loại của hoa, trong đó nổi bật tía (tím), hồng (đỏ) xen với chim trắng, oanh vàng, đấy là không kể bầu trời xanh (Thiên thượng nhàn vân lai lưu khứ) làm nền cho đám mây (trắng) trôi! Quả thật, đây là bức tranh sống động đầy sinh khí của một nhà thơ – họa sĩ tài ba.

 

Nữ văn sĩ rất thân thiết và thấu hiểu Việt Nam Blaga Dimitrova đã có một định nghĩa ngắn gọn, súc tích ,chân xác, đầy thú vị về Bác Hồ”: “Người đứng đầu Nhà nước. Một nhà thơ – một chiến sĩ” (6). Bà cũng phân tích thấu đáo: “Những bài thơ Người viết trong tù – nhà tù chứa đầy ánh trăng dịu hiền và khát vọng tự do” tức là công nhận chất “tình” và chất “thép” như hai tố chất đồng hiện trong thơ.

 

Ngắm trăng là ngắm vẻ đẹp thiên nhiên. Nhà thơ quên đi trong phút chốc cái hiện thực phũ phàng, cay đắng để thảnh thơi thả hồn, “thưởng nguyệt”, là nhà thơ có lòng dũng cảm, có chí khí. Vẻ đẹp con người nổi bật. Nhà thơ ngắm trăng nhưng cũng tự biết ngắm mình. Hồ Chí Minh phát hiện vẻ đẹp của trăng, cũng không quên vẻ đẹp con người – đó là nhân sinh quan của một nhà cách mạng. Ở Cảnh chiều tối, chính là hương hồng đã tìm đến đúng người tù – thi nhân. Hương hoa bất bình lên tiếng đòi quyền được sống, được tôn trọng, muốn được thay đổi số phận. Đã có ý kiến cho rằng: “Nỗi bất bình của hương hoa kỳ thực là nỗi bất bình sâu sắc của Bác trước cái đẹp của con người trong xã hội cũ. Là thi sĩ, Bác yêu cái Đẹp. Là chiến sĩ Cách mạng, Bác chiến đấu, bảo vệ cái Đẹp cho cuộc đời (7). Vậy là, mục tiêu chân, thiện, mỹ là thống nhất. Hai tư cách hòa hợp trong một con người.

 

Thời kháng chiến,  nhà văn Cuba – Raul Vadez Vivo phát hiện một chân lý: “Bác Hồ lãnh đạo chiến tranh bằng những vần thơ”. Tất nhiên, thơ của Bác mang nhiều đề tài, bao gồm cả “Mây, núi, hoa, trăng, tuyết, núi, sông” – những vần thơ thép của một chiến sĩ tiên phong.

 

Trong nhiều hoàn cảnh thực tế, nhà thơ có những bối rối. Đó là sự chồng chéo, bề bộn của công việc hệ trọng. Tuy nhiên, cách giải quyết tốt nhất vẫn là việc nước, việc quân trên việc thơ, tức nhiệm vụ chung lớn lao trên hết. Cuối cùng, vẫn là sự thu xếp để hòa hợp.

 

Cảnh khuya, có hai thực tế cùng diễn ra qua một hiện tượng “chưa ngủ”: “cảnh như vẽ” và “nỗi nước nhà”. Nổi lên vẫn là tâm trạng cao đẹp, thiêng liêng:

 

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

 

Nhiều lần là phải khéo thu xếp vì “việc quân đang bận” (Báo tiệp – Báo tin thắng trận). Chỉ có đôi lần là thoải mái, thảnh thơi sau nhiệm vụ:

 

Việc quân, việc nước bàn xong

Giờ khuya ngon giấc bên song trăng nhòm

(Đối trăng – Đối nguyệt)

 

Có cảnh thật đẹp, thật quyến rũ: rằm xuân, trăng soi lồng lộng, vạn vật chìm trong màn xuân xanh (sông, nước, bầu trời). Đó là cái nền đầy thi vị cho thảo luận quân sự:

 

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

(Tiết rằm tháng Giêng – Nguyên tiêu)

 

Nguyễn Công Trứ xưa kia là một nhà kinh tế lãng tử: “Gió trăng chứa một thuyền đầy”. Ngày nay, nhà thơ Hồ Chí Minh tạm bỏ dáng bộ quân phục chỉ huy để thỏa thuê thưởng ngoạn cảnh “trăng ngân đầy thuyền” như một thi sĩ hào hoa lãng tử.

*

Thơ Hồ Chí Minh bao trùm nhiều thi đề, thi tứ với cảm hứng chủ đạo về vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước mỹ lệ và hào hùng.

 

Thế giới không ngớt lời ca ngợi thi nhân – chiến sĩ lớn trong thời đại.

 

Kateb Yacine – nhà văn Angieria – Tác giả của kịch thơ Người đi dép cao su về Hồ Chí Minh đã viết: “Nhà chính trị khiêm tốn vào bậc nhất. Nhà thơ lớn lao vào bậc nhất. Thơ của Cụ bằng máu và bằng thịt, đó là thơ của cả Việt Nam” (8).

 

Và Konstantin Simonov – nhà văn lớn của Liên Xô (cũ) viết: “Quả thật, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà chiến lược, nhà thực tiễn của phong trào cách mạng, mà còn là một nhà thơ, một nhà văn, ngay từ buổi đầu hoạt động của mình Người đã biết nhìn xa xôi phía trước. Và trong sức mạnh niềm tin này của Người đã chứa đựng một niềm thơ cao cả, được thử thách qua thời gian” (9).

---------------------

 

CHÚ THÍCH

 

1.Hồ Chí Minh – Thơ – Toàn tập – Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh – Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 2000

 

2.Xem thêm Đặng Thanh Lê – Một hương thơm lạ trong thi hứng nhân loại – Giáo dục, 1996

(3),(4),(6),(8),(9)    Nhiều tác giả - Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh – Thanh niên (3), 2007

(5) Vũ Quần Phương – Thơ với lời bình – Giáo dục, 1999

(7) Lê Trí Viễn, Trần Thị Thìn – Phân tích bài thơ Cảnh chiều hôm của Hồ Chí Minh, Những bài làm văn mẫu 12 (Tập 1), Giáo dục, 1997.

PGS.TS ĐOÀN TRỌNG HUY

 

 

Các Bài viết khác