NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

TIỂU THUYẾT BƯỚM TRẮNG CỦA NHẤT LINH VÀ PHƯƠNG PHÁP THÁI TÂY CỦA DOSTOIEVSKI

( 27-12-2014 - 06:51 PM ) - Lượt xem: 1602

Nhiều ý kiến có trọng lượng quả quyết rằng Bướm Trắng là một sự chủ động tiếp thu Dostoievski có sáng tạo và có hiệu quả. Nhất Linh đã tiếp thu khéo léo cả đề tài, đối tượng phản ánh, cả nghệ thuật đối thoại tư tưởng của Dostoievski

 Có thể nói rằng điều thứ 10 trong Tôn chỉ sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn (Phong Hóa, 2.3.1934) là một điều mở, tạo điều kiện cho những đột phá, cách tân, vượt ra ngoài khung điển chế của một trường phái, chắp cánh cho những con ngựa thi thần bay vượt thoát cái cũi của văn đoàn mình. Viết Bướm Trắng (1938 - 1939), Nhất Linh đã tuân thủ hai điểm cuối cùng, đó là: Đem phương pháp Thái Tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam; và Theo một điều trong 9 điều trên đây cũng được miễn đừng trái ngược với những điều khác. "Đừng trái ngược" chứ không phải là "không được khác". An tâm có điều thứ 10, khi chăm chú thực hiện điều thứ 9, Nhất Linh đã bỏ qua hoặc làm khác với một vài điều trước đó. Có lẽ nhờ vậy, Bướm Trắng có một vị trí đặc biệt và khác lạ trong hệ thống sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn.

Các nhà nghiên cứu Bùi Xuân Bào, Phạm Thế Ngũ, Đỗ Đức Hiểu, Phan Cự Đệ, Võ Phiến, Huỳnh Phan Anh... nhất loạt cho rằng Bướm Trắng chứa đựng nhiều yếu tố phương Tây, điều mà ghi mốc son "một lời nói KHÔNG của chính tác giả trước lối mòn của quá khứ, thể hiện và đồng thời thực hiện một cuộc đoạn tuyệt với chính vũ trụ tiểu thuyết quen thuộc của tác giả"1, điều làm cho "khi mọi người vẫn là bác sĩ toàn khoa, ông đã trở thành bác sĩ chuyên khoa, dùng phương pháp nội soi để chiếu vào những ngõ ngách sâu xa nhất của tâm hồn con người"2. Với bài viết này3, chúng tôi thử phác họa cách Nhất Linh thực hiện điều thứ 9 của Tôn chỉ văn đoàn trong sự đối chiếu với phương pháp sáng tác của một tác giả Thái Tây mà ông yêu thích và ngưỡng vọng, muốn học tập - F. Dostoievski.

Trong tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết, Nhất Linh không phải một lần nhắc đến Dostoievski đầy thán phục. Điều mà ông ghi nhận ở tác giả này không phải là giọng điệu, mà là kĩ thuật. Ông thích giọng điệu của Tolstoi hơn và cho rằng giọng điệu của Dostoievski "nặng nề gò gẫm" và "bí hiểm". Nhưng cứ hễ bàn luận đến kĩ thuật là ông lập tức dẫn viện Tội ác và Hình phạt, Anh em nhà Karamazov để ca tụng. Điều này giải thích tại sao Bướm Trắng mang dấu vết kĩ thuật viết của Dostoievski chứ không phải là giọng điệu.

Nhiều ý kiến có trọng lượng quả quyết rằng Bướm Trắng là một sự chủ động tiếp thu Dostoievski có sáng tạo và có hiệu quả. Nhất Linh đã tiếp thu khéo léo cả đề tài, đối tượng phản ánh, cả nghệ thuật đối thoại tư tưởng của Dostoievski - đối thoại ở ngoài hành động, nhân vật như tự đụng độ với mình để đi tìm chân lí. Bùi Xuân Bào nhấn mạnh rằng độc thoại nội tâm của Trương là cách độc thoại "của nhân vật Dostoievski chứ không phải là của Proust và Joyce"4. Thế Phong xác định: "Bướm Trắng là mượn hơi ngắn của một hơi trường thiên Crime et Châtiment của Dostoievski"5. Phạm Thế Ngũ viết: "Người ta thấy rõ ảnh hưởng của Dostoievski, của Gide khi đọc những đoạn nhân vật Trương xem xét cái thiện và cái ác dưới con mắt hoà đồng hay cúi xuống thăm dò cái hố sâu tội lỗi trong tâm hồn mình"6. Phan Cự Đệ nhận xét: "Sự đắn đo của Trương lúc thụt két, sức hấp dẫn ma quái của ánh thép ở tủ sắt làm ta nhớ tới cuộc đấu tranh nội tâm của Raskolnikov trước cái chết của mụ già cho vay lãi. Nhìn chung cuốn tiểu thuyết này của Nhất Linh có một bình diện phụ (arriere plane) mang tính siêu hình và tôn giáo, ảnh hưởng vài chương của Tội ác và hình phạt của Dostoievski"7. Ngay cả những ý kiến chê bai chất lượng tiểu thuyết Bướm Trắng cũng vẫn công nhận sự chịu ảnh hưởng từ Dostoievski của Nhất Linh. Ví dụ như ý kiến của Trọng Đạt: "Cốt truyện Bướm Trắng giả tạo, mối tình Trương - Thu nhạt nhẽo. Kỹ thuật mô tả tâm lí nhân vật bắt chước Dostoievski một cách vụng về. Tác giả dựng lên một nhân vật Trương điên điên khùng khùng, theo kiểu các nhân vật chính trong các truyện của Dostoievski như Người chồng vĩnh cửu, Thằng ngốc, Tội ác và hình phạt. [...] Nhìn chung, Bướm Trắng là một tác phẩm đua đòi bắt chước Phương Tây một cách vụng về, giả tạo, đây là một tác phẩm thất bại của Nhất Linh"8.

1. Motif "Tội ác và Hình phạt"

Đây không phải là lần đầu tiên trong văn học hiện đại Việt Nam vang lên motif "Tội ác và Hình phạt". Liên quan đến đề tài này, trước Bướm Trắng có thể kể đến Thầy Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản, Oan kia theo mãi (1922) của Nguyễn Hoằng Mưu; cùng thời điểm với Bướm TrắngNgười thất chí (1938) của Hồ Biểu Chánh; ngay sau Bướm TrắngTội ác và hối hận (1940) của Vũ Bằng. Tuy nhiên, những tác phẩm đó không hẳn triển khai motif "Tội ác và Hình phạt" theo kiểu tác phẩm Преступление и Наказание (Crime and Punishment, Crime et Châtiment) nói riêng và theo triết lí và cảm quan nghệ thuật nói chung của Dostoievski. Có lẽ chỉ có Nhất Linh đã đi theo hướng ấy, nhưng theo cách của mình.

Tội ác của hai chàng cựu sinh viên luật khoa trong tiểu thuyết Tội ác và Hình phạt, Bướm Trắng là gì? Là ra tay sát hại "bản tính thiện" sâu kín của mình, đày đọa những số phận có liên đới với mình. Hình phạt đối với họ là gì? Không phải là nhà tù mà họ phải kinh qua, mà là sự giằng xé, tự đối diện với con người sâu kín của mình. Ánh sáng cứu chuộc đến với họ từ đâu? Từ kí ức tuổi thơ ngây của lòng trắc ẩn với con ngựa già, từ những cánh bướm rập rờn trong vườn quê, từ tình yêu chân thành của những người phụ nữ như những bến đậu sau những ngã ba đường giông bão. Nhân vật Raskolnikov của Dostoievski và nhân vật Trương của Nhất Linh đều bị đẩy vào một trạng huống phải tự quyết định phải "bước qua" hay không bước qua, và họ đã bước qua, nhưng bước không qua. Đó là những bước về phía ranh giới của thiên lương và tội ác. Raskolnikov muốn biết nhanh mình là "vĩ nhân", là "cứu tinh của nhân loại", là người "dám làm tất cả" hay chỉ là loài "sâu bọ run rẩy", nên đã bước qua lằn ranh ấy, và nhận về nỗi giằng xé tâm can. Chàng cay đắng thốt lên với Sonia: "Tôi muốn nhẩy qua bước đó thật nhanh. Nhưng tôi không biết hoàn thành bước nhảy vọt đó. Tôi vẫn ở bên này hào". Ngỡ mình sắp chết, chàng trai Á châu của Nhất Linh quyết định "bước qua" những chuẩn mực đạo lí để sống gấp, hưởng thụ khoái lạc cuộc đời. Kết thúc quãng đời hoang đàng, Trương vẫn để một bàn chân bên này lằn ranh của thiên lương, của hoài vọng về cái đẹp, cái cao thượng.

Theo Dostoievski, có ý định phạm tội thì đã là có tội rồi, và con người phải trả giá cho ý định bất lương đó. Dmit'ri và Ivan trong Anh em nhà Karamazov tuy không trực tiếp giết cha nhưng từng manh nha ý định giết cha hoặc mong cha chết, vì thế hình phạt đã đến với họ. Lưỡi rìu oan nghiệt chưa bổ xuống đầu nạn nhân mà Raskolnikov đã bị trừng phạt bằng cảm giác ghê tởm cái ý đồ sát thế của mình, bằng những ác mộng và sự dằn vặt sinh tử. Trương của Nhất Linh cũng day dứt về tội dối trá, dù "tội" ấy chưa gây hậu quả nào đến ai. Chàng kết án mình là một tay "đĩ lừa", một tội còn nặng hơn kẻ trăng hoa phụ tình. Có khi chỉ một hành vi nhỏ nhặt thoáng qua, như một câu nói lấp liếm với bạn bè cũng làm chàng thấy ngượng với chính mình, chàng buồn nhận ra mình đã quen thói dối trá mất rồi.

Cũng như Raskolnikov, nhân vật của Nhất Linh không phải là kẻ tội phạm tầm thường theo cái nghĩa thông thường. Chàng hành động có toan tính, theo một lí thuyết hiện sinh bấy giờ. "Học thuyết người hùng", "lí thuyết số học" không phải là vấn đề triết học đặt ra trong xã hội Trương sống, nên Nhất Linh tìm cho chàng một lí do khác để biện minh cho hành vi "phạm tội": tình trạng sống "không có lí tưởng" của tầng lớp trẻ. Trương nói với Thăng - sinh viên du học Pháp mới về: "Anh ở Pháp về không biết, chứ thanh niên Việt Nam, một thanh niên không lí tưởng, chưa sống đã già cội như sắp chết, biết mình sắp chết nên không còn chống lại làm gì nữa, buông xuôi tay để mặc cho trôi đến đâu thì đến. Không cưỡng lại nữa ắt cái trụy lạc sẽ tiến mau lắm". (tr. 58).

Giống như chàng sinh viên luật học Raskolnikov, chàng sinh viên luật khoa Trương đã tìm đến thú tội, sám hối với cô gái điếm. Mùi đối với Trương giống như vai trò của Sonia đối với Raskolnikov. Suốt từ đầu truyện, Trương luôn bí ẩn trước mọi người, thoắt ẩn thoắt hiện, chẳng tâm sự, chẳng thành thật với ai, nhưng vừa gặp Mùi, chàng dễ dàng cư xử. Với cô, Trương chân thành hào hiệp và dễ dàng bộc bạch như xưng tội trước Chúa:

"Trương để mặc cho hai hàng nước mắt chảy trên má; chàng không giữ được nữa, muốn nói hết với Mùi những điều mà từ xưa tới nay chàng chưa từng nói với ai. Chàng thấy cần phải nói để cho nhẹ bớt gánh nặng, và như một tín đồ sám hối với Đức Chúa Trời trước khi nhắm mắt, chàng cũng mang hết những tội lỗi, các nỗi đau khổ ra kể lể với Mùi" (tr.193)

"Lời thú tội" của Trương là một màn độc thoại nội tâm thể hiện hết sức tinh vi tính chất phức tạp, mâu thuẫn trong sự vận động nội tâm con người. Cũng như các nhân vật của Dostoievski thường làm, Trương của Nhất Linh vừa bộc bạch, thú tội, vừa tự phân tích tâm trạng và việc làm của mình. Chàng cần người nghe, nhưng đồng thời chàng cũng cần lắng nghe mình, tự khám phá mình, muốn hiểu bản thân hơn:

"Chàng nói chậm chạp, vừa nói vừa nghĩ ngợi, cố phân tích lòng mình kể ra và như thế chỉ cốt cho một mình mình nghe: Anh là một thằng đĩ lừa... quá thế nữa... một thằng ăn cắp. Lừa tiền, ăn cắp, nhưng ngồi tù xong là trả được nợ, còn như đi lừa một người con gái, yêu người ta nhưng lại muốn người ta hết sức đau khổ vì mình, thấy người ta khổ vì mình lại sướng ngầm trong bụng... biết mình không xứng đáng nhưng vẫn cố làm người ta trọng mình... đau khổ vì thấy mình khốn nạn nhưng lại sung sướng mong mỏi người ấy cũng khốn nạn như mình; cái tội ấy, thì không có luật pháp nào trị, vì thật ra không phải là một cái tội. Anh thấy anh là khả ố, hành vi của anh là khốn nạn, nhưng bắt phải sống trở lại thì anh sẽ lại làm đúng như thế..." (tr.194).

Rõ ràng đây là "hình phạt" được tuyên đọc bên trong về một "tội ác" tinh thần của một tiểu Raskolnikov. Và cũng như nhân vật của Dostoievski, đến phút chót, Trương vẫn chưa thật sự ân hận. Có lẽ cuộc sống tiếp sau đó, ngoài trang sách, sẽ đem lại sự "phục sinh" cho chàng. Ánh sáng biết thức tỉnh ấy không gì hơn là tình yêu thương của nhân quần. Sự thức tỉnh đối với nhân vật của cả Dostoievski, của cả Nhất Linh mới chỉ là bắt đầu, và còn ở ngoài trang sách. Nhân vật của hai nhà văn phức tạp hơn hiện tượng, cho phép người đọc tự do trong tiếp nhận.

Dostoievski và Nhất Linh cùng lựa chọn cho nhân vật của mình con đường phiêu lưu tinh thần để rồi đến bến đỗ cuối cùng là tình yêu tận hiến của người phụ nữ. Là kẻ trọng tội, Raskolnikov vẫn cao ngạo và ghẻ lạnh với đám tù nhân; chàng chỉ bắt đầu quy phục khi cảm nhận sâu xa tình yêu dịu dàng đầy đức hy sinh của Sonia - con người mà Chúa gửi đến với chàng. Bị bầm dập sau sóng gió cuộc đời, Trương tìm về với Nhan như con thuyền về bến đợi. Bến đợi ấy đã có từ trước nhưng những nhân vật mải mốt phiêu lưu của Dostoievski và Nhất Linh không chấp nhận ngay; họ cần phải đi qua bao hồ nghi, dằn vặt rồi mới đón nhận nó như một lẽ giản dị và thiêng liêng. Với Trương, bến đợi ấy còn là khu vườn rau quê mẹ của những ngày "tuổi thơ trong sáng", ở đó có "những luống rau riếp xanh thắm, những luống thìa là lá đỏ như sương mù", có những luống đậu hoà lan nở hoa trắng và "những con bướm rất xinh ở đâu bay về" (tr.146). Có lẽ hành trình của Trương là đi tìm con bướm trên luống rau ấy, con bướm trắng của một thời êm đềm và chưa vương vào tội lỗi, là tượng trưng cho cái đẹp, cái mong manh, cái mộng mơ, cái thánh thiện của cuộc sống không cần bon chen, toan tính. Một khi còn giữ lại cho mình những vùng kí ức đẹp đẽ như vậy, con người sẽ ít có hơn khả năng làm điều ác. Những tiềm thức xa xôi dịu êm ấy lí giải cho ta thấy trong con người sa đắm vào lí tưởng Sodome ấy tại sao vẫn luôn mang một mầm nụ của lí tưởng Madone. Những hoài niệm muôn đời về cái đẹp ẩn giấu nơi tiềm thức, nơi bản chất nhất của con người ấy đã giữ cho nhân vật trong cuộc vật lộn nội tâm khốc liệt nhất vẫn "giữ được ở chừng mực nhất định thiên lương, nhân phẩm"9. Những điều này đúng với cả nhân vật của Dostoievski và cả nhân vật của Nhất Linh.

2. Kết cấu - cốt truyện phiêu lưu tinh thần trong không gian đô thị

Sẽ khó nhận thấy một sự trùng khít nào về cốt truyện nếu so sánh Bướm Trắng với bất kì tác phẩm nào của Dostoievski. Nhất Linh không sao chép cốt truyện mà nắm bắt tinh thần, tư tưởng tác phẩm ngoại quốc, đưa vào môi trường Việt Nam, cấp cho nó một khuôn mặt khác. Trong bài Nỗi đau hiện sinh trong Bướm Trắng Thụy Khê viết: "Nhất Linh viết Bướm Trắng năm 1938 - 1939. Bốn năm sau, 1942 ở Pháp, Albert Camus cho in tập tiểu luận Le mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), rồi tiểu thuyết L'étranger(Người Xa Lạ), tiếp theo là kịch bản Le malentendu (Ngộ Nhận) và sau cùng là tiểu thuyết La chute (Sa Ðọa). Tất nhiên là hai nhà văn này không đọc nhau, ít nhất là Nhất Linh không đọc Camus trước khi viết Bướm Trắng, nhưng có một ngẫu nhiên trùng hợp lạ lùng là những chủ đề ẩn trong Bướm Trắng về tính chất phi lý của cuộc đời, về vấn đề tự tử, về sự ngộ nhận, về tính sa đọa của con người - những đề tài chủ yếu của Camus - đều có mặt trong tác phẩm của Nhất Linh". Sự gặp gỡ kì lạ này được nhà phê bình nhìn thấy trong sự tương hợp của Đông - Tây trước cuộc "tra vấn bản ngã" mà nhà văn Việt Nam đã triển khai thành một cảm hứng "rất Đông phương, rất Trang Tử"10. Dẫn viện điều trên, chúng tôi muốn khẳng định một lần nữa tài năng độc lập sáng tạo của nghệ sĩ Nhất Linh. Đặt Bướm Trắng trong sự soi chiếu với tác phẩm Tội ác và Hình phạt ta cũng sẽ nhận thấy tài năng này - tài năng làm nên giá trị tự tại cho tác phẩm ông.

Bướm Trắng có kiểu kết cấu - cốt truyện phiêu lưu tinh thần - một kiểu rất đặc trưng của tác phẩm Dostoievski: cốt truyện không định đoạt nhân vật, mà ngược lại, những diễn biến nội tâm dẫn dắt hành vi nhân vật và quyết định tình tiết cốt truyện. Câu chuyện về Trương - Thu nhìn bề ngoài như một chuyện tình dang dở, nhưng thật ra tác giả không hề có ý định triển khai một tấn bi kịch tình yêu, mà muốn đưa nhân vật của mình vào một thế giới phiêu lưu tinh thần kiểu con người hiện đại. Toàn bộ câu chuyện được xây dựng bằng hàng loạt sự kiện ngẫu nhiên được lắp ghép lại - một kiểu kết cấu mới lạ trong tiểu thuyết Việt Nam. Các hành động của nhân vật trung tâm tác phẩm xảy ra bột phát, tức thì. Đang cô đơn cùng cực, Trương vô tình thấy Quang trên phố, trò chuyện dăm ba câu, định bỏ đi, rồi lại theo bạn đến nhà người khác chơi. Được mấy anh bạn rủ về quê một tuần, chàng đi luôn. Vài hôm sau, vì giận lẫy vu vơ chàng bất ngờ quày quả trở lại Hà Nội, đám bạn bặt tăm chàng mấy tháng trời. Trương luôn chơi vơi trong niềm riêng của mình, đi từ quyết định này đến quyết định khác, không buồn toan tính, đến đâu thì đến. Cùng với cách thế sống đó là một hoàn cảnh đầy những phi lí, dở dang, trớ trêu đã đẩy nhân vật vào cuộc phiêu lưu không lường trước kết thúc thế nào. Kiểu kết cấu - cốt truyện như thế này thường nảy sinh trong đời sống đô thị.

Hầu hết nhân vật của tiểu thuyết Dostoievski là con người đô thị. Chính cái tính chất đô thị này sẽ góp phần tô đậm thêm tính phiêu lưu của nhân vật. Có thể so sánh với loại nhân vật của đời sống trại ấp, làng quê trong văn học truyền thống thì thấy rõ điều đó. Đặc trưng chủ yếu của đời sống làng quê là sự bền vững của các mối quan hệ trong không gian và thời gian. Cuộc sống của dòng họ, gia phả qua nhiều thế hệ đã luân phiên nhau gìn giữ truyền thống tổ tiên, liên kết hiện tại với quá khứ và tương lai. Cuộc sống xô bồ vất vưởng xô đẩy nhân vật nơi thành thị lang thang vật vờ khắp nơi, không có lấy một điểm tựa vững bền. Với họ, đâu cũng là nhà, đâu cũng là chốn nương thân nhưng chẳng nơi đâu gắn bó lâu bền. Trên cơ sở này, các mối liên hệ của con người với nhau mang tính ngẫu nhiên, tình cờ, tạm bợ. Nếu như cuộc sống trại ấp, làng quê có thể bao quát từng con người trong cái toàn thể của nó - nghĩa là, mọi người trên cùng một mảnh đất đều hiển nhiên quen biết nhau, họ nồng nhiệt, đon đả khi gặp nhau, thì cuộc sống nơi thành thị luôn đánh mất, nhấn chìm đi cái cá thể trong sự quay cuồng vận động không ngừng của nó. Cái toàn thể ở đây không hề để ý đến các bộ phận cấu thành của mình, không cần biết đến số phận của chúng; và chính các phân tử đơn lẻ ấy cũng bị cuốn hút vào vòng quay mê hoặc, hỗn độn của cái toàn thể mà không sao nắm bắt được thực chất của cái toàn thể ấy. Y như trên đường phố đông đúc, đám đông chen nhau đi, mỗi người trong số họ chẳng biết ai và chẳng cần ai biết đến mình. Trong cuộc sống đó con người ngẫu nhiên gặp nhau, tiếp xúc, gắn bó tạm bợ rồi chia lìa số phận, lẫn tiếp và mất hút vào đám đông như chưa hề từng gặp gỡ nhau: Devushkin và Dobroselova (Những kẻ đáng thương) vừa gặp nhau một thoáng đã chia lìa đôi ngả, trong ba Đêm trắng có hai số phận gắn bó với nhau rồi để mất hút nhau vĩnh viễn. Đó là những gì hằng xuyên diễn ra trong tất cả các tiểu thuyết của Dostoievski.

Thế giới trong Bướm Trắng không còn là làng quê như trong Tắt Đèn (Ngô Tất Tố) hay phố thị như trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam) mà là thế giới đô thị của một cuộc Âu hoá. Phố xá Hà Nội nhốn nha nhốn nháo những kẻ diện mạo nửa ta nửa tây, chẳng ai thật lòng với ai như trong Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), đầy rẫy những anh giáo nghèo mặt mũi đăm chiêu toan tính chi tiêu từng xu nhỏ, càng ngày càng rúc sâu vào cõi riêng tư, rầu rĩ cảm thấy đời mình đang "mòn đi, rỉ ra". Dẫu vậy, anh giáo Thứ của Nam Cao vẫn còn phương hướng, mục đích sống, vì tuy sống cùng quẫn ở thị thành nhưng tâm hồn anh vẫn hướng về quê nhà, về những người thân yêu, vẫn còn giấc mộng văn chương, vẫn có một lúc nào đó từng mơ ước đóng góp thực sự cho sự nghiệp giáo dục. Còn Trương của Nhất Linh là nỗi cô đơn, trống trải, sự mất phương hướng của con người từ bỏ nông thôn nhưng không hòa nhập được với lối sống đô thị. Trương từ tỉnh lẻ lên thủ đô ăn học, lâu lâu mới ghé về quê chớp nhoáng, mối liên hệ với bản quán dần bị xao lãng. Về quê, Trương bắt đầu được mọi người coi như khách; trở ra thành thị, chàng như kẻ lãng du, không gắn bó với bất cứ nơi nào mình đi qua hay dừng lại. Bạn bè thì chàng không thiếu nhưng chẳng mấy ai thân quen, chẳng có ai thật sự có thể sẻ chia. Và bản thân chàng cũng trở nên lạ lẫm với mình: nghĩ một đàng làm một nẻo, khi trò chuyện bỗng bỏ lửng câu, tâm hồn trôi dạt đâu đâu.

          Tính chất phiêu lưu của nhân vật trung tâm tiểu thuyết Bướm Trắng được xác định ngay khi vào truyện: Trương quyết định tàn phá cuộc đời trong ăn chơi hưởng lạc, bởi "chết thì còn cần gì nữa". Quyết định này phá bung luật lệ đạo đức, cho phép con người bước vào một hành trình không cần biết bờ bến. Trương cảm thấy mình như "con chim thoát khỏi lồng nhẹ nhàng trong một sự tự do không bờ bến. Những cái ràng buộc, đè nén của cuộc sống thường không còn nữa, chàng sẽ hết băn khoăn, hết e dè được hoàn toàn sống như ý mình" (tr. 38). Chàng bước vào một cuộc chinh phục đầy phiêu lưu: yêu Thu khi mới nhìn thấy: "muốn yêu thì sẽ yêu" (tr. 17). Cuộc tình phiêu lưu ấy hứa hẹn những thái cực "mai đây sẽ đưa đẩy chàng đến những chân trời xa lạ; lạc thú và khốn khổ, đợi và tuyệt vọng, sự cao thượng và lòng ích kỉ, sự bao dung và lòng thù hận" (tr.259). Phiêu lưu trong tình trường, nếm trải mọi cung bậc tận cùng cuộc sống để giành lấy lạc thú mà nay mai thần chết sẽ lấy mất. Và đã là phiêu lưu thì không thể lường trước mọi sự: tưởng vờ yêu cho thoả đời lại hoá yêu thật, tưởng sẽ chết sau khi nướng tâm hồn vào trụy lạc lại khỏi bệnh. Tất cả đã qua, còn lại một bãi chiến trường ngổn ngang và vô nghĩa.

Cùng với kiểu cốt truyện phiêu lưu tinh thần là một không - thời gian mang tính bất ổn định, khác với thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết cổ điển. Truyện Kiều bao quát trọn một cuộc đời người con gái bạc mệnh, Hoàng Lê nhất thống chí kể trọn một giai đoạn lịch sử. Ngay cả những truyện quốc ngữ đầu tiên của ta như Thầy Lazaro Phiền hay Tố Tâm cũng bao quát một thời gian của cõi nhân sinh. Đến cả tác phẩm trước đó của Nhất Linh, như Đoạn tuyệt cũng tua lại một dòng thời gian dài từ khi Loan về nhà chồng đến khi nàng ra đi, đoạn tuyệt với cuộc đời cũ. Mọi diễn biến có thứ tự lớp lang, cái trước dẫn đến cái sau, nhìn thấy căn nguyên. Bướm Trắng không như thế. Thời gian của tác phẩm là những "lát cắt" của cuộc đời của một con người, diễn ra trong vòng một năm, từ khi Trương nhận được bản án chỉ còn sống một năm đến khi chàng khỏi bệnh, phần quá khứ (thời gian đã ổn định) bị xoá bỏ và phần tương lai (thời gian chưa xác định) còn bỏ ngỏ, toàn bộ dấu nhấn đặt lên thời gian hiện sinh, một thứ thời gian chóng vánh, không thể xác định sẽ xảy ra cái gì, chính vì vậy tràn ngập cái ngẫu nhiên, cái không thể định trước. Cũng như 14 ngày của Raskolnikov, biết bao ngẫu nhiên như một thứ định mệnh làm nên số phận nhân vật, trong Bướm Trắng cũng xảy ra nhiều sự kiện ngẫu nhiên đến là bí hiểm, hoàn toàn không ai tiên liệu được: Trương ngẫu nhiên gặp Quang và sau đó gặp Thu trên phố trong đám tang cậu nàng; gần cuối tác phẩm chàng ngẫu nhiên gặp đám ma Quang. Trương có ý định thụt két vào một ngày ngẫu nhiên ông chủ không tới lấy tiền. Ra tù, chàng ngẫu nhiên đi chung một chuyến tàu với gia đình Thu... Những sự ngẫu nhiên đi liền với những hành động, cách ứng xử vô lí của con người. Ngay từ lúc nhìn thấy Thu lần đầu, Trương đã bị cuốn hút, linh cảm rằng sẽ yêu nàng "mê man", tuy ý thức được đó là một tình yêu "trắc trở", "vô lí" - vô lí cả từ phía chàng lẫn phía nàng: "Hay có lẽ Thu cũng yêu chàng tự nhiên, yêu một cách vô lí như chàng yêu Thu vô lí bấy lâu" (tr. 204). Những hành động của chàng dường như không phải do ý thức điều khiển, mà là do một thế lực ngầm bên trong đưa đường chỉ lối, những chuỗi "vô lí": vô lí viết thư tỏ tình với Thu, vô lí chơi bời truỵ lạc, vô lí đánh cá ngựa, vô lí thụt két, vô lí mua dao định giết Thu...

Khác với tính bền vững của không gian làng quê, không gian đô thị mang tính tạm bợ và bất ổn: đường phố, phòng trọ, toa xe lửa, nhà xăm, trường đua v.v.; nơi chốn sinh hoạt của con người có hai đặc điểm: không gian co hẹp và không gian công cộng. Một mặt, con người chui rúc trong những khu nhà ống, tiếp xúc với nhau bằng mối quan hệ tạm bợ, thoáng qua, ngẫu nhiên, có xu hướng co lại bên trong cái hang của mình, chạy trốn tất cả và chạy trốn ngay cả bản thân mình. Mặt khác, con người luôn bị chường ra trước bàn dân thiên hạ. Căn phòng của Marmeladov nằm ngay lối ra vào, có một cánh cửa nối sang phòng khác, là nơi tụ họp của đám đông hiếu sự; phòng trọ của Sonia có hai cánh cửa thông sang buồng chủ nhà và một buồng để trống, nơi mà sau đó Svidrigailov nghe được toàn bộ lời thú tội của Raskolnikov. Phòng trọ của Trương cũng thế: bên kia bức vách bằng nan dán giấy báo có đôi vợ chồng nghèo, người vợ có giọng hò Huế buồn rười rượi khiến Trương tò mò tìm lỗ thủng ở vách nhòm sang. Đời tư của con người phơi ra trước mắt mọi người, nhưng mỗi số phận lại chẳng tìm thấy đồng điệu nơi đâu.

3. Kiểu nhân vật đặc trưng của Dostoievski

Đặt nhân vật Trương vào văn học Việt Nam thời buổi những năm '30 - '40 ta thấy đây quả là một gương mặt lạ lẫm. Việc Trương khác với các nhân vật trong tiểu thuyết cổ điển thì đương nhiên rồi, nhưng anh ta còn là "Người xa lạ" so với cả nhiều nhân vật của Tự Lực Văn Đoàn lúc bấy giờ, lạ luôn so với cả những nhân vật của chính Nhất Linh trước Bướm Trắng. Tuy cùng có những sai biệt cơ bản so với nhân vật trong văn học cổ điển, nhân vật trẻ tuổi trong văn chương Tự Lực Văn Đoàn nhìn chung vẫn mang một khuôn mặt na ná nhau: họ đều là những thanh niên Tây học, mang tư tưởng tân thời từ cách ăn mặc cho đến suy nghĩ, hành động; khá lộ liễu khi đóng vai trò là cái loa phát ngôn cổ suý tư tưởng của tác giả; tính cách họ đã được định hình rắn chắc, được quyết định ngay từ đầu. Nhân vật trung tâm của Bướm Trắng không phải là đại diện cho một trong hai phe trẻ cấp tiến và già bảo thủ - kiểu đặc trưng của Tự Lực Văn Đoàn. Ý thức được cái tôi cá nhân, mang tinh thần tự do mới mẻ, nhưng Trương không phải là người tình lí tưởng (như Ngọc trong Hồn bướm mơ tiên) hay người thanh niên có chí hướng (như Dũng trong Đoạn tuyệt), mà là một chàng trai thiếu mực thước, dễ gây dị ứng cho độc giả coi nặng chức năng giáo lí của văn chương. Đó là một con người phức tạp đến bí hiểm, một kiểu lưỡng diện - song trùng, rất đặc trưng của Dostoievski. Phạm Vĩnh Cư nhận định nhân vật Raskolnikov là "sự cấu thành của tất cả sự kết hợp nghịch lý những phẩm chất không thể dung hoà với nhau: tột mực vị tha, hiền từ đến mềm yếu, nhiệt thành tha thiết yêu thương con người, tha thiết hướng về công lý, đi đôi với tột mực ích kỷ, tàn nhẫn đến quái ác, kịch liệt khinh ghét con người và ngang ngược chà đạp lên công lý"12. Trần Hữu Tá nhận định nhân vật Trương là tổng hợp của những đối cực tâm lí và tính cách "giả dối và chân thành, ích kỉ và nhân hậu, phóng đãng và tự trọng, bạo liệt và mực thước, thấp hèn và cao thượng"13 ... - cùng một kiểu tính cách với Raskolnikov và Dmit'ri Karamazov.

Nhân vật của Nhất Linh là sự pha trộn giữa anh sinh viên luật học Raskolnikov bí hiểm với chàng sĩ quan Dmit'ri Karamazov hoang đàng náo động, cao thượng và đắm say. Chàng vừa chán sống vừa rất ham sống, vừa ngụp lặn trong trụy lạc vừa ý thức được sự nhơ nhớp của nó, giải phiền với gái điếm nhưng vẫn khao khát tình yêu trong sạch đẹp đẽ với con gái nhà lành, túng tiền bán đất bán nhà nhưng vẫn giữ lại mảnh vườn cho mẹ con Nhan; túng thiếu mà thụt két đi tù nhưng vẫn giúp Mùi đồng tiền cuối. Đó là con người bị đẩy đến lằn ranh mong manh giữa cái ác tiềm ẩn bùng nổ và hoài niệm muôn đời về cái thiện.

Khi xây dựng nhân vật Trương, tác giả không định sẵn cho nhân vật một tính cách, mà để tính cách phiêu lưu theo ngòi bút, định hình dần trong chuyển biến tâm lí phức tạp, cứ thế nhân vật như tự bộc lộ, tự khám phá ra mình. Giống như Dostoievski, Nhất Linh ngay từ đầu đã đẩy nhanh nhân vật của mình vào tình huống kịch tính cần giải quyết, có nghĩa là ông cũng có xu hướng bắt đầu từ giữa câu chuyện: Trương biết mình mắc căn bệnh quái ác, chàng quyết định hỏi đốc tờ cho ngã ngũ vấn đề mà chàng dằn vặt bấy lâu: cuối cùng thì tình trạng bệnh của chàng ở mức độ nào, chàng sẽ sống được bao lâu? Tiếp đó, người kể mới để nhân vật bước vào những mối quan hệ phức tạp, bộc lộ tính cách dần dần. Cách vận động tâm lí ở đây là sự vận động bên trong. Cái mà đang xảy ra trong tâm hồn Trương không giống những hành động biểu hiện bên ngoài của chàng. Tâm trạng con người ở đây là cả thế giới đầy biến động, trong đó có cả ý thức và tiềm thức, cả cái hữu lí và cái phi lí, cả hiện thực và giấc mơ, mê sảng, linh cảm...

Ở Trương ta thấy một kiểu nhân tự ý thức. M. Bakhtin nhận xét: "Cái quan trọng đối với Dostoievski không phải nhân vật là cái gì trong thế giới này mà trước hết thế giới này là cái gì đối với nhân vật và nó là cái gì đối với bản thân nó"(13). Dostoievski không coi nhân vật là khách thể câm lặng, bị điều khiển bởi dụng ý lộ liễu của tác giả, trở thành cái loa phát ngôn cho tác giả, ông chuyển tầm nhìn, quyền được nói sang cho nhân vật, cho nó một ý thức về mình, một đời sống riêng, tính cách chưa bị quy kết trong những khuôn đóng, mà còn đang trong tiềm năng phát triển. Tất nhiên là Nhất Linh chưa biết Bakhtin và lí thuyết đa thanh được nhà phê bình tổng kết từ trước tác của Dostoievski. Bằng cảm nhận của người đọc thông minh và nghệ sĩ tài hoa, nhà văn Việt Nam đã cảm nghiệm được phương pháp Thái Tây này. Khác với các tác giả văn chương lãng mạn thường hay không giấu nổi cảm xúc của mình đằng sau bức tranh nhân sinh, Nhất Linh cho thấy một cách tiếp cận khách quan: ông chỉ đơn thuần trình ra một con người, không thuyết minh, không biện hộ, để mặc anh ta suy nghĩ và tự bộc lộ mình. Mọi ngã rẽ cuộc đời, mọi thử nghiệm cuộc sống là do nhân vật tự quyết định. Có cảm tưởng chính anh ta là người dẫn dắt độc giả chứ không phải là nhà văn. Trương nhiều khi không cần ai phân tích mình, mà tự mình phân tích. Ví dụ như đoạn viết thư cho Thu: chàng bất giác phân mình thành hai, vừa là người viết vừa là người đọc thư. Chàng quan sát xem mình viết có chân thành không, đặt mình vào địa vị Thu xem nàng tiếp nhận thế nào. Viết xong, chàng rảy vài giọt nước lã vào mấy con chữ cho nhòe giả làm nước mắt, nhưng tính sao cho "tự nhiên" nên rỏ vào mấy câu không thống thiết nhất. Nhưng liền đó, chàng cáo giác mình ngay, cảm thấy ghê tởm sự giả dối, thấy rằng tuy tình cảm mình là chân thành, nhưng lại dối trá trong biểu lộ cảm xúc, làm mất đi cái vẻ trong sáng.

Diễn biến trong toàn bộ tác phẩm nhiều khi được xây dựng từ độc thoại nội tâm. Bùi Xuân Bào xác nhận những độc thoại ấy trong Bướm Trắng "không phải là của Proust và Joyce", mà "đúng hơn là thứ độc thoại mà Dostoievski đã sử dụng"(14). Ví dụ về kiểu độc thoại có tính tự ý thức của nhân vật Trương:

"Còn gì hơn? Chỉ một lần này thôi là thoát khỏi hẳn cái anh chàng kì quặc và bận bịu ấy. Ta liệu tỏ rất khéo cho Thu biết rằng nếu Thu từ chối, Thu sẽ bị ta quấy rầy một cách khó chịu vô cùng. Thu cũng không sợ ta xúc phạm đến vì một là từ trước đến nay ta vẫn kính trọng Thu, hai là ta ở một nơi như chùa Láng chẳng hạn, thì còn gì sợ hãi, cho dẫu Thu vẫn nghi là ta có tà tâm" (tr. 217).

Câu thứ nhất là lời tự nhủ của Trương, câu thứ hai vang lên giọng điệu khó chịu của Thu (người vắng mặt). Các câu tiếp theo là cách thầm tính đối phó với cơn bực bội của Thu. Kiểu độc thoại để tự phân tích này thấy rõ nhất qua màn thú tội của Trương:

 "Nếu anh ngủ Thu như ngủ với Mùi, rồi thôi, mai không nghĩ đến nữa, hết yêu, như vậy có lẽ đểu giả thật - thiếu gì người đểu giả như thế - đểu giả nhưng tội không lấy gì làm to lắm vì hành vi ấy rất thường có. Đằng này không, anh lấy nê là yêu để đánh lừa người ta một cách khoái trá và cứ muốn kéo dài cuộc lừa dối ấy ra mãi để cho mình vui thích [...]. Nếu tớ ngủ với Thu rồi thì có lẽ tớ không giết Thu nữa. Nhưng nếu chưa có gì thì tớ sẽ báo thù Thu đã làm khổ tớ một đời... và tớ sẽ giết Thu..." (tr. 171 - 172).

Trương nói với Mùi, nhưng chỉ sau đó một câu, đã không còn hướng về người đối diện, mà là tự nói với mình, phân tích mình. Mới đầu là sự cật vấn lương tâm, sau đó lại quay ra buộc tội người làm khổ mình. Mới đầu xưng "anh" và nhắc đến tên người đối diện, nhưng sau xưng "tớ" và quên luôn có người đang nghe mình nói. Thực chất "tớ" ở đây không phải là xưng với Mùi, mà là sự tự xưng với kẻ đối thoại phân mảnh của mình.

Để khám phá "con người bên trong con người" Dostoievski thường sử dụng thủ pháp giấc mơ. Giấc mơ, tiềm thức, mê sảng trong Bướm Trắng cũng có vai trò như thế. Trước ngày thực thi hành động tội ác Raskolnikov mơ về một sự kiện thời thơ ấu từng làm chấn thương dữ dội cậu bé bảy tuổi và giờ đây vẫn làm chàng sinh viên xúc động. Giấc mơ về sự kiện xa xưa đó phần nào lí giải sự dằn vặt khủng khiếp diễn ra sau đó trong lương tâm kẻ sát nhân, - một kẻ sát nhân về bản chất là một con người lương thiện. Sau khi hạ sát người đàn bà cầm đồ, Raskonikov có những giấc mơ giống như những gì đã diễn ra trong đời thực: cảnh đánh đập, la hét, máu me, đám đông la ó, ánh trăng sáng quái dị,... Những cơn mê sảng của Trương không dữ dội, quái đản như của Raskolnikov, nhưng cũng thể hiện sự giày vò, ám ảnh và bất an của kẻ mang trong mình một hạt mầm tội lỗi. Trong mê sảng, Trương mơ thấy mũi dao của Thu - cô gái mà chàng cho rằng mình đang lừa dối, thấy "một dòng máu chảy ngang cổ xuống gáy lạnh như một dòng nước đá mới tan" (tr. 146). Có lúc chàng lại mơ mình đã chết và Thu mặc áo tang đi sau quan tài. Có khi hiện thực và mê sảng lẫn lộn, khiến Trương khi dự một đám ma đã không biết mình đang đi sau một cỗ quan tài hay đang nằm trong quan tài, chàng phân vân: "Thế thì là mình rồi chứ còn gì? Hay là đám ma mình thật, chính mình nằm trong áo quan" (tr. 256). Có lúc trong trí óc chàng bỗng hiện lên rõ mồn một hình ảnh một người bà cô đã mất từ lâu mà suốt hai chục năm rồi chàng không hề nghĩ đến. Nếp sống bình dị thôn quê trong hình ảnh bà ký Tân "ngồi gội đầu ở sân, bên cạnh có đặt một nồi nước đầy rễ hương bài" (tr. 261) như một âm vang xa xưa vọng về trong kí ức con người đang chiêm nghiệm thời gian, cuộc đời. Thụy Khuê cho rằng "vùng u tối bí mật của bản ngã" như thế "trước Bướm Trắng, chưa có tiểu thuyết gia Việt Nam nào thật sự đi vào, thật sự thám hiểm"(15).

*

   Tiểu thuyết Bướm Trắng được coi là đỉnh cao nghệ thuật của Nhất Linh. Giá trị nội tại, tự tại của tác phẩm ngày càng được khẳng định, khẳng định ngay cả khi đặt nó trong sự tương đồng với tác phẩm Người xa lạ của Albert Camus, Thất lạc cõi ngườicủa Dazai Osamu v.v. mà Nhất Linh chưa từng biết đến khi viết nó, ngay cả khi đặt nó đối chiếu với phong cách các tác giả L. Tolstoi, Dostoievski, Somerset Maugham, André Gide v.v. mà ông rõ ràng có chịu ảnh hưởng, ngay cả khi đặt nó trong sự soi chiếu với những "phương pháp Thái Tây" mà nhà văn dụng công đưa vào. Trong tất cả những sự đối chiếu này, đã khẳng định bản lĩnh độc lập của thủ lĩnh một văn đoàn chủ trương đổi mới văn học nước nhà theo hướng hiện đại hoá, một cá tính sáng tạo của nhà nghệ sĩ lớn.

Chú thích

1.   Huỳnh Phan Anh (1999) Không gian và khoảnh khắc văn chương, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. tr. 256.

2.   Thụy Khuê,http://giaocam.saigonline.com/HTML-  T/VSThuyKhue/ThuyKhuePBNoiDauHienSinhTrongBuomTrang.pdf, cập nhật ngày 23.8.2012.

3.   Tất cả các trích dẫn từ tác phẩm Bướm trắng trong bài viết này đều dẫn theo bản của Nxb Đồng Tháp 1997.

4.   Bùi Xuân Bào (2000), "Nhất Linh hay khuynh hướng lãng mạn phản kháng", in trong cuốn Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc (Nhiều tác giả), Nxb VHTT, H., tr. 350

5.   Thế Phong (2000) "Nhất Linh", in trong cuốn Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc (Nhiều tác giả), Nxb VHTT, H.

6.   Phạm Thế Ngũ (2000) "Nhất Linh - văn tài tiêu biểu của Tự lực văn đoàn", in trong cuốn Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc(Nhiều tác giả), Nxb VHTT, H.

7.   Phan Cự Đệ (2000) "Tự lực văn đoàn", in trong cuốn Tựlực văn đoàn trong tiến trình văn hoá dân tộc, Nxb VHTT, H., tr. 291.

8.   Trọng Đạt (2003) Những tác phẩm cuối cùng của Nhất Linh, Nxb Đại Nam, Nguồn:   http://www.langvan.net/shop/nhngtcphmcuicngcanhtlinh-p-908.html. (Cập nhật 22.3.2007)

9.   Trần Hữu Tá (1997) "Đọc lại Bướm trắng", thay lời giới thiệu tác phẩm Bướm trắng, Nxb Đồng Tháp, tr. 7.

10.  Thụy Khuê, tlđd.

11.  Lời giới thiệu tiểu thuyết Tội ác và Trừng phạt, Nxb Văn học, H., 1993.

12.  Trần Hữu Tá (1997), tlđd, tr. 7.

13.  M. Bakhtin (1993), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, tr. 238

14.  Bùi Xuân Bào (2000), tlđd, tr. 350.

15.  Thụy Khuê, tlđd.

 PGS.TS PHẠM THỊ PHƯƠNG

Các Bài viết khác