NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

THƯƠNG NHỮNG PHẬN NGƯỜI CÙNG KHỔ

( 13-12-2013 - 06:10 AM ) - Lượt xem: 1036

Nếu còn sống, nhà văn của những người cùng khổ đã tròn 95 tuổi. Ông ra đi vì đột quỵ trong khi đang làm lại chuồng lợn nhà mình. Sự ra đi trong cùng khổ, sự ra đi gắn bó với những nhân vật chịu nhiều đày ải của xã hội mà ông thương xót trên từng trang văn. Tháng 11 này, học trò, bạn văn và con gái thứ của ông – chị Nhã Nam quây tụ cùng CLB Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng giữa trời Nam để tưởng nhớ một người thầy, một bạn văn, một người cha thương lắm những kiếp người bé mọn.

Chuyện Nguyên Hồng bỏ Hà Nội, dắt díu vợ con lên Bắc Giang sinh sống đã khiến những người đương thời không khỏi bàng hoàng. Nhà văn Nguyễn Quang Thân, là một học trò của ông ở trường viết văn Quảng Bá, là bạn văn vong niên khá thân thiết với nhà văn Nguyên Hồng hiểu rõ vì sao. Nguyễn Quang Thân kể rằng sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, tờ báo tuần của Hội Nhà văn được đổi tên là báo Văn và Nguyên Hồng được phân công làm Tổng biên tập vì xem ra ông là người hiền lành, có vẻ trong sạch nhất, ít dính líu tới vụ Nhân văn. “Nhưng họ không đánh giá đúng ông. Một Nguyên Hồng ít học, lặng lẽ, không thích lý luận về tự do sáng tác, nhưng là một núi lửa cá tính mạnh đầy chất phản kháng khó lường. Tờ báo Văn với Nguyên Hồng là Tổng biên tập và một số nhà văn tên tuổi như Tế Hanh, Lê Minh… ra được vài số thì bị phát hiện ra là nó không chịu “an phận” như người ta tưởng”. Việc Văn đăng bài thờ “Gió” của Xuân Diệu đã bị người ta “đánh” tới tấp với những luận điểm phê phán chết người: “báo Văn toàn là những thứ lượm lặt ngoài rìa cuộc sống”, “không ăn nhập gì với cuộc sống, không dính dáng gì đến những con người vĩ đại và thực tế, xa rời cuộc sống”. Tờ báo bị kết luận “tách rời những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng”. Nguyên Hồng cùng các nhà văn có uy tín trên văn đàn như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Tế Hanh… đã có những bài phản pháo cực kỳ sắc bén. Sau khi bị đánh tới tấp, đến lúc tờ Văn bị người ta cho rằng nó đang bắt đầu xuất hiện từ Nhân phía trước chữ Văn thì Nguyên Hồng lắc đầu: Ông không chơi với bọn họ được nữa. “Vậy là Nguyên Hồng xin thôi chức Tổng biên tập và sau đó không lâu bạn bè văn chương Hà Nội sửng sốt khi biết tin ông đã có một quyết định đột ngột: ra khỏi biên chế Hội Nhà văn, cùng gia đình gồm bà Nguyên Hồng và mấy đứa con từ bỏ hộ khẩu Hà Nội, đồng nghĩa với việc vất sổ gạo cùng các loại tem phiếu, những thứ nhu yếu phẩm của cuộc sống tối thiểu. Ông lôi cả nhà về Yên Thế, Bắc Giang, chọn quả đồi hồi kháng chiến ông đã ở với gia đình để sinh sống bằng nghề “cày sâu cuốc bẫm”. Một quyết định không thể tưởng tượng nổi với một gia đình đông con, chân yếu tay mềm vốn gốc thành thị ba đời, không hề biết thế nào là cày cuốc. Nhưng Nguyên Hồng đã chấp nhận để có tự do, để không chịu làm gì trái với bản thân mình” – nhà văn Nguyễn Quang Thân nhớ lại.

 

Rời Hà Nội, sống bằng nghề cày cuốc và viết văn, gia đình Nguyên Hồng luôn lâm vào cảnh nghèo khó, đôi khi phải đi mượn gạo. Quyết định không hề dễ dàng của ông đó cho thấy con người Nguyên Hồng đầy bản lĩnh và ý chí sắt thép, quyết không khuất phục để bảo vệ cho lẽ phải khác xa với cái vẻ ngoài hiền lành đôi khi xuề xòa của ông. Nhà thơ Hà Phương và chị Nhã Nam – con gái thứ năm của Nguyên Hồng vẫn không quên được sự rèn luyện nghiêm khắc, kỷ luật của ông đối với học trò, của một người cha đối với con. Chị Phương kể ngày học ở trường viết văn Nguyễn Du, sáng nào chị và một số bạn học khác cũng “bị” thầy Nguyên Hồng đánh thức từ mờ sáng để chạy thể dục dù là mùa đông rét mướt. Là người thầy, ông khó tính trong từng dấu chấm, dấu phẩy kể cả lời ăn tiếng nói hằng ngày của học trò. Chị Nhã Nam kể: “Cha tôi thấy chúng tôi mê đọc truyện quá, lười việc nhà ông cũng không nói gì, nhưng nếu chúng tôi giữ sách không cẩn thận thì ông cằn nhằn ngay: “Đọc sách mà bẻ quặt bìa sách thế này khác gì bẻ quặt cánh tay người ta, như bẻ quặt cánh con chim bồ câu!”. Rồi khi đọc xong không cất cẩn thận vào tủ thì ông nói: “Thầy ghét nhất đứa nào đọc xong cứ “nhồi” sách vào thế này!” Và cái đứa nào mắc tội “nhồi” sách ấy sợ lắm”. Đối với họ, dù nghiêm khắc thế nào, Nguyên Hồng vẫn luôn là một người cha, một người thầy hết mực yêu con, thương trò. Có cái áo len trò tặng, do hết len nên phải đan chèn thêm màu khác, nhìn nham nhở, nhưng Nguyên Hồng vẫn vui vẻ mặc và nâng niu như một món quà vô giá. Mỗi lần ông tắm gội cho con, đầu con đau điếng vì … bố gội kỹ quá. Nhờ sự rèn giũa của ông bao nhiêu thế hệ nhà văn đã trưởng thành, con cái đều nên người.

 

Từ bé, Nguyên Hồng đã sống trong cảnh thiếu thốn tình thương. Bố mất vì ho lao, mẹ tào tẩn nuôi ông trong muôn vàn khổ cực, tủi nhục bởi cái miệng ác nghiệt của người đời. Ông và mẹ trôi dạt về Hải Phòng, nơi thiên hạ tứ xứ đổ về kiếm cơm. Chàng thanh niên gầy gò, xanh xao vì thiếu ăn lê la đầu đường xó chợ, xin dạy học trong những xóm lao động nghèo. “Ném” vào giữa kiếp người cùng khổ, ăn với họ, sống vơi họ, Nguyên Hồng đớn đau mà xót xa cho những kiếp người bị xã hội đày đọa làm cho tha hóa. Ông thương mọi kiếp người, dang tay với những thân phận bị gọi là dưới dáy xã hội. Thế nên những trang viết của ông luôn đẫm lệ cảm thương tha nhân.

 

Người đàn bà mà nhà văn Nguyễn Quang Thân bắt gặp năm xưa mãi mãi là bí ẩn khó giải của nhà văn Nguyên Hồng. Những năm đầu thập kỷ 70, nhà văn Nguyễn Quang Thân ở nhờ ở cơ quan Hội Văn nghệ Hải Phòng. Ngày nọ, khoảng 5 giờ chiều, một người đàn bà có tuổi đến cơ quan hỏi ông Nguyên Hồng có ở đây không? Lúc đó Nguyên Hồng đang ở Bắc Giang. Một năm họa hoằn vài ba tháng ông mới về Hải Phòng. Khi tiễn bà khách về, Nguyễn Quang Thân có hỏi rằng bà có để lại lời nhắn gì với nhà văn Nguyên Hồng không, bà khách có vẻ ngại ngần. Bà bảo chỉ muốn đến thăm nhà văn. Hai tuần sau đó, người đàn bà bí ẩn lại ghé thăm và lại ra về không lời nhắn. Đến khi Nguyên Hồng về Hải Phòng mấy tháng sau đó, nghe chuyện có người đàn bà kỳ lạ đến tìm gặp mình, ông sốt sắng nhờ Nguyễn Quang Thân tả lại tỉ mỉ dang người, giọng điệu… Người bạn vắt trí nhớ tả hết nước hết cái nhưng Nguyên Hồng vẫn lắc đầu buồn bã: Chịu, không biết bà ấy là ai? Rồi một buổi chiều muộn, Nguyên Hồng kể cho Nguyễn Quang Thân nghe chuyện mình tiêu đồng nhuận bút đầu tiên trong đời như thế nào: “Cậu biết không năm đó mình mới 16 tuổi, cũng là năm cuốn Bỉ Vỏ được in và nhận giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn. Những 120 đồng Đông Dương. To lắm. Nói thế này để so sánh: một bữa cơm đầu ghế như cơm bình dân bây giờ khoảng 5 xu. Một con gà một hào. Như vậy là mình lĩnh một lúc 1.200 con gà tiền giải thưởng văn chương. Trước đó không hề nhận được món nào to như thế. Mình quyết định hư một lần xem sao. 16 tuổi, ở một thành phố như Hải Phòng, ai mà đóng mãi vai ông đồ Nho được. Mình tìm một cô gái và rủ cô ta ra bờ sông Lấp. Hôm đó là một đêm mùa đông, lạnh. Thân biết không, mình ngồi bên cô ta, quàng tay ôm cô ta và nhận ra cô ta run như giẽ. Run vì rét. Thì ra, cô ta chỉ có cái áo sợi Nam Định mỏng khoác bên ngoài áo cánh cát bá. Tự nhiên không còn cảm hứng trò chuyện hay làm cái gì khác nữa. Mình kéo cô ta dậy rồi rủ cô lên đường Cầu Đất đi dạo phố. Mình mua cho cô ta một cái áo len, một cái áo khá sang, loại áo của con gái nhà giàu, không nhớ phải trả bao nhiêu nhưng cũng khá đắt. Cô gái mặc ngay vào người, sung sướng, hạnh phúc. Rồi nói: “Ông dẫn em đi đâu đi!”. Cái cảm giác sung sướng của cô gái làm mình thỏa mãn và sung sướng theo. Mình đi với cô một đoạn phố nữa và bảo cô ta về hay đi tìm khách khác. Cô ấy giữ tay mình lại, nói: “Ông cho em biết tên đi, để em nhớ ơn ông”. Đang tuổi thanh niên, lại cho mình đang là người nổi tiếng, mình dẫn cô vào một hiệu sách mua cuốn Bỉ Vỏ, rút bút ký ngay lời đề tặng “người không quen biết” và nói: “Sách của tôi đấy, viết về một cô gái như em”. Rồi chia tay. Từ đó mình không bao giờ gặp cô ta nữa. Nhưng người đàn bà bí ẩn của cậu rất có thể là cô ta. Mình hy vọng cô ta hãy còn sống và theo như cậu mô tả thì cuộc sống của bà ấy không đến nỗi…”.

 

Chị Ngọc Hà từng là học sinh miền Nam trước năm 1975. Chị kể ngày đó, dù là bên kia chiến tuyến nhưng tác phẩm của Nguyên Hồng vẫn được giảng dạy trong các trường trung học Sài Gòn. Đơn giản bởi tác phẩm của ông giàu tính nhân văn, là tiếng nói cho thân phận con người, không phân biệt ranh giới. “Linh hồn” là tác phẩm đầu tiên của Nguyên Hồng mà tôi được tiếp xúc. Thầy cô giáo dạy văn của tôi ngày ấy thường ví Nguyên Hồng như Victor Hugo, nhà văn của những người cùng khổ. Và quả vậy. Từng dòng văn của ông khiến bao thế hệ học trò chúng tôi rưng rức mãi khôn nguôi!”.

 

Họa sĩ Nguyễn Thị Hiền vẫn nhớ như in cái dáng gầy gò của nhà văn, quần nâu sồng xắn móng lợn, mang dép cao su, lọc cọc trên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô, sau chiếc xe lúc nào cũng có một cái bị cói đựng bản thảo. Ông ngồi bên đường, râu tóc phất phơ theo gió, chậm rãi, nhàn nhã như một lão nông, mắt hướng về xa xăm với bao đau đáu về kiếp đời. Họa sĩ Nguyễn Thị Hiền đã vẽ ông – người vất vả cùng bố chị - nhà văn Kim Lân đưa mẹ chị đến nhà hộ sinh, đón chị cất tiếng khóc chào đời. Và ngày nhận được cuộc điện thoại nấc nghẹn nước mắt của bố, chị biết rằng đó là bức vẽ duy nhất của mình về bác Nguyên Hồng- nhà văn của những người cùng khổ, nhà văn giàu lòng nhân…

 

 HẠNH TRANG

 

Các Bài viết khác