NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NHỮNG TÁC PHẨM ĐẦU ĐỜI ĐẦY ẤN TƯỢNG CỦA CHẾ LAN VIÊN

( 11-02-2015 - 05:13 AM ) - Lượt xem: 984

Thành tựu sáng tác Chế Lan Viên trong đó có những tác phẩm đầu đời mà chủ yếu là Điêu tàn đã được đánh giá trong nhiều công trình tiểu luận phê bình, chuyên luận. Gần đây nhất, dịp hội thảo Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn (2012), Chế Lan Viên lại được nhìn nhận, phát hiện thêm tài năng sáng tạo thơ ca. Bài viết này nhằm hai chủ đích: 1. Khảo sát toàn bộ sáng tác đầu đời Chế Lan Viên. Căn cứ chủ yếu là Điêu tàn và tập Thơ không tên được công bố trong các tập Di Cảo thơ I, II – Các bài đăng rải rác trên báo từ 1937 – 1942. Ngoài ra là Vàng sao và Gai lửa (các tập văn xuôi) 2. Nhận diện, đánh giá chính xác, đầy đủ giá trị đặc sắc sáng tác đầu đời. Phát hiện những mầm mống manh nha đặc biệt là chắt lọc yếu tố khả thủ để thấy được ý nghĩa, tác dụng với cả hành trình đời thơ Chế Lan Viên.

  1. 1.      GIẢI Mà “NIỀM KINH DỊ”

            Sáng tác đầu đời của Chế Lan Viên đúng là sự “bắt đầu của mọi bắt đầu” mang tầm quan trọng đặc biệt. Sáng tạo văn học là sáng tạo bức tranh thế giới được mã h.Tác phẩm văn học thường có mã văn học ẩn sâu trong hình ảnh, hình tượng, ngụ ý… Người đọc phải nắm được cái mã đích thực của người viết.Do đó giải mã là thao tác văn học  quan trọng hàng đầu  khi đọc hiểu văn bản.

            Nổi lên là ba nhân tố “kinh dị” về nội dung hiện thực phản ánh,quan điểm  nghệ thuật và biểu hiện trạng thái tâm hồn nhà thơ trẻ của Trường thơ Loạn.

1.1.            Một tuyên ngôn quan điểm “kinh dị”

             Tựa của Điêu tàn cùng khuynh hướng Thơ không tên là một tuyên ngôn khác thường gây chấn động thi đàn.

            Nhà thơ là người dị thường, siêu phàm: “Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu”. Hành động như phù thủy, nói như phù chú: “Nó thoát Hiện tại. Nó xáo trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý”.

            Làm thơ cũng là công việc dị thường. “Hàn Mặc Tử nói: làm thơ tức là điên. Tôi thêm: làm thơ là sự phi thường”

            Bạn đọc – chủ thể tiếp nhận – có quan hệ với nhà thơ, cũng là một quan hệ khác thường. Trước sau, nhà thơ là khách bộ hành lầm lũi, cô độc. Anh ta thiết lập một quan hệ mơ hồ, giả định.  Nhưng có khi bạn đọc lại là tri kỷ tuyệt vời: “Tôi nằm ngủ ở trong sao, nghe được, tung mây ngồi dậy, vồ lấy cái quà quý báu ấy rồi say sưa, rồi ngây ngất, rồi  điên cuồng vỗ lên đầu sao Khuê, Sao Đẩu, lên cả Nguyệt Cầu mà bảo chúng nó rằng:

            Ha, ha! Bay ôi! Loài người thành thi sĩ như Ta cả rồi”.

            Thực chất, đây là một phát ngôn của thơ lãng mạn có pha nét siêu thực, được nói bằng ngoa ngôn cực đoan có màu sắc “kinh dị”.

1.2.   Một thế giới siêu thực

            Như nhiều nhận định, do quan điểm phủ định xã hội thực tại, thơ thời Điêu tàn(kể cả Thơ không tên ) dựng lên một  thế giới âm với hệ thống biểu tượng kinh dị qua trí tưởng  tượng có tính chất siêu thực  kỳ quái, ma mị: huyệt mộ, sọ người, tủy xương, hồn ma, cô hồn… đầy rẫy. Bao trùm là ám ảnh hư vô “Lời than náo động cõi hư vô”, “Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi hư vô”… (Điêu tàn) và suy tưởng. “Đào xới hư vô, tuôn chảy hư vô, thoát tục”(Vàng sao).

            Đó cũng là một thế giới quá vãng, thế giới tưởng tượng xa xưa: Chiêm quốc thời vàng son (Trên đường về, Chiến tượng, Đời người Chiêm nữ…). Và phiêu bồng, lãng đãng là một thế giới bầu trời hư vô với  những “nguồn trăng, suối trăng” và cả “mồ trăng:. Rồi thế giới sao: từ “một tinh cầu giá lạnh” “một vì sao trơ trọi cuối trời xa”đến cả một “Suối trăng sao”.

1.3.  Một  tâm hồn vật vã kinh hoàng

            Trên đại thể, sáng tác trước 1945 của Chế Lan Viên phản ánh một bi kịch tâm hồn ghê  gớm. Đã có nhiều phân tích về tình trạng đó và chính nhà thơ sau này đã tự mổ xẻ căn bệnh lịch sử – thời đại mà thế hệ thi sĩ tiền chiến đã nhiễm khá nặng nề. Nhà thơ cựa quậy, giãy giụa, đớn đau tưởng chừng như có thể chết trong sự bế tắc, cùng quẫn, trong sự chán nản gần như tuyệt vọng: “Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết! Những sắc màu hình ảnh của Trần gian” (Tạo lập).

            Nhìn chung lại, đó là những bất hòa, những xung đột, mâu thuẫn kịch liệt trên một số phạm trù trong đó có thế giới tâm hồn, suy tư triết học:

            - Bản thể và khách thể. Hoài nghi: “Ai bảo giùm: Ta có có Ta không”(Ta1937) “Jéhova thầm hỏi: Ta là ai?”Đáy Hư vô, Người ngửa mặt – trông trời/Ta là ai? Người thấy đó là ai?” (Ta là ai? – 1940)…

            - Hiện thực và siêu bìnhThực tại và mơ tưởng: “Cho lăn lóc, hồn mê trong Ảo Huyễn/ Lãng quên đi giây phút  cảnh Trần Ai” (Tạo lập). Ước mơ tha thiết của nhà thơ là “thoát lên tất cả những nhu cầu” (Vàng sao) vươn lên một Cõi ta ảo tưởng “Cho linh hồn mình đến xứ Trăng Mây/ Mà sáp nhập vào tuổi tên cây cỏ!”

            Tuy nhiên, đây là hiện tượng phức tạp trong một tâm trạng đầy xáo trộn: Đau đời và yêu đờiChán nản và hy vọng. Chỉ nói về cảm thức thời gian, không gian. Xuân về có cảnh vui mở đầu: “Pháo đã nổ đưa xuân về vang động/ Vườn đầy hoa ríu rít tiếng chim trongvà câu kết trái ngược trong tình buồn: “Nhưng, than ôi, xuân về trong nắng sớm/ Mà lòng ta, đóng lạnh giá băng thôi!”. Trong lòng thi sĩ có Bóng tối, Đêm tàn nhưng có cả Nắng mai với những ánh “Nắng trời bay”, “nắng trời tươi” trong cảm nhận: “Cả vũ trụ biến dần ra ánh sáng”…

 

  1. 2.      NHẬN XÉT SỰ MANH NHA MỘT TIỀM LỰC THI TÀI

            Sáng tác đầu đời Chế Lan Viên mà nổi trội là Điêu tànđột ngột” xuất hiện “như một niềm kinh dị” (Hoài Thanh). Ngọn tháp “chắc chắn và lẻ loi”, bí mật đó vẫn tồn tại như một sự thách đố giải mã  với thời gian.

            Sau này chính Chế Lan Viên tự nghiệm: những điều mình mất đi quả là đáng mất. Nhà thơ tự nhận: “Trước Cách mạng tôi đã mất năng lực, tài năng cho những cơn mưa, và những nỗi buồn, cho những bóng ma và những ảo ảnh”. Thực ra chỉ là mất những năng lực phung phí, vô bổ, chưa phát huy được tài năng thực sự như sau này.

            Sáng tác đầu đời của Chế Lan Viên bộc lộ một số yếu tố tư tưởng và nghệ thuật khả thủ như sự hé lộ tiềm lực với nhiều triển vọng trên một số phương diện chủ yếu nhất của thi tài.

2.1.     Hé mở hành trang văn hóa thơ ca

            Chế Lan Viên là một tài thơ thiên bẩm. Tuy nhiên cũng từ rất sớm, nhà thơ tương lai biết tự chăm sóc vun trồng cái năng khiếu tự nhiên để biến thành một tài năng nảy nở mạnh mẽ.

            Chàng thi sĩ trẻ nhận thức rõ hình thành nên văn, ngoài văn còn có cả những cái xa văn. Một cách tự nhiên, anh thấm nhuần được ánh sáng của văn hóa địa phương, cái nguồn cảm hứng sinh động mạnh mẽ đầy sức quyến rũ: tháp Chàm thành Đồ Bàn, bờ biển vỗ sóng và rừng dừa rợp bóng, một vùng đất sử lừng lẫy, những đêm hát bội ở An Vinh, các cuộc đổ giàn ở An Thái… Đó chính là ảnh hưởng của vùng địa – văn hóa Chăm, một quá trình văn hóa xa xôi của văn hóa xứ Quảng. Cả tiếng mõ tụng kinh và tiếng chuông nhà thờ. Từ ám ảnh tâm linh đến nhận thức tôn giáo. “Lần lượt yêu Bible (Kinh thánh) Catholique, protestante, adventiste, rồi Phật (Bouddhisme)”. Nhà thơ cũng tự nhận cả một quá trình ảnh hưởng: “Tôi thích thơ cổ Á Đông và thơ thế kỷ XX của Châu Âu. Còn Châu Á, thích các kinh Phật (livres bouddhistes), Thơ Đường (poésie de l’époque Tang) của  Lý Bạch (Ly Tai Pé) Đỗ Phủ (Tou Fou). Châu Âu thích Rainer – Maria Rilke, Apollinaire, Néruda, Eluard, Ristos. Về Đức biết ít, thích B.Bretch, Holderlin, Faust của Goethe” [6; 711 – 713].

            Về mặt triết học nhà thơ thiên về những thần bí của tôn giáo và siêu hình của chủ nghĩa duy tâm.

            Tiếp nhận văn học  là một sự tổng hợp, tinh lọc qua các nguồn văn hóa cổ kim, đông tây.

            Như vậy, thông qua nhà trường, sách vở và nhất là đời sống, ta thấy nhà thơ trẻ bước đầu đã tích lũy được một khối lượng khá phong phú về tri thức văn hóa, trong đó nổi lên là thơ ca, triết học mỹ học. Cũng vì là bước đầu nên kho tri thức ấy còn khá bề bộn và có phần hỗn tạp là điều dễ hiểu.

            Hành trang lên đường đã khá đủ nhưng quan trọng hơn là phải có kim chỉ nam: quan điểm mỹ học hay rộng hơn, quan niệm tư tưởng nghệ thuật để đi đúng hướng và đi xa.

2.2.      Hé lộ tiềm lực của một thi tài

            Sự phát hiện nỗi buồn như một phạm trù thẩm mỹ của Chế Lan Viên cũng là của các nhà Thơ mới lãng mạn.

            Nỗi buồn trong thơ thời này là một thi đề phổ biến. Một cảm hứng tự nhiên với nhiều sắc thái khác nhau.

            Tâm trạng thế hệ ấy có thể tìm thấy ở cơ sở hiện thực khách quan mang tính thời đại: nỗi đau vong quốc cộng với cái buồn sầu, u uất của cảnh quần chúng cách mạng bị đàn áp. Tuy nhiên biểu hiện ở Chế Lan Viên là sự chìm đắm trong ác mộng về quá vãng của  điêu tàn nước non Chiêm. Nỗi đau ấy lại được cộng hưởng và nhân lên với cái buồn cô đơn bản thể thi sĩ Chế Lan Viên. Nhà thơ như “chìm đắm bể u sầu” (Điêu tàn) thảng thốt “ Trời ơi! Chán nản đương vây ph (Thu).

            Bệnh trạng tâm lý xã hội này lại có căn nguyên ở tâm lý nghệ thuật. Xét ở góc độ loại hình thì nỗi buồn trong Thơ mới nói chung được xem là một phạm trù thẩm mỹ đồng thời được coi như đặc điểm mang tính nguyên tắc của nghệ thuật lãng mạn. Alfred de Musset được coi như một chủ tướng của người tôn vinh cái buồn trong chủ nghĩa lãng mạn. Đó là cái buồn đau của cái Tôi cô đơn, cô đơn được cảm nhận như cơn đau nghệ sĩ và đó là một nỗi đau thú vị. Các nhà thơ lãng mạn coi nỗi buồn, sự cô đơn là trạng thái đồng hành  với sáng tạo

            Tuy nhiên, đau đời chưa phải là chán đời. Thậm chí, chán đời chưa hẳn là tuyệt vọng. Cái buồn không thể đẩy cả một thế hệ nhà thơ đến bờ vực tuyệt vọng và được quan niệm là hình ảnh nghịch lý của niềm vui sống.

            Sự biểu hiện của quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật  như ý thức đề cao nghệ thuật chân chính.

            Thực chất đó là sự phản ứng với tình trạng nghệ thuật vụ lợi. Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu đề cao sự tìm tòi cái tính cách thiêng liêng của nghệ thuật đối nghịch với cái tầm thường vì lợi. Các nhà thơ muốn thơ đến với lợi ích mang tinh thần vĩnh cửu: đó cũng là cái lý tưởng của hiện thực, cái thần thánh của trần thế. Thơ được quan niệm là một sáng tạo thiêng liêng, cái đẹp trong thơ phải là cái đẹp tinh khiết. Tuy nhiên, trong chiều sâu tâm khảm, có sự chấp nhận nét vị nhân sinh. Cũng như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên chủ trương một cái đẹp siêu thoát trong thơ nhưng cũng có cả cái tươi xanh, sinh động của đời.

            Xuân về có “tiếng chim trong” “ríu rít”, “cỏ non biếc”, “tà áo chuối non bay phất phới”, “hoa đào mỉm miệng đón xuân tươi”. Một buổi Trưa đơn giản mang vẻ đẹp vừa huyền thoại vừa trần thế: “Nâng không gian trưa đặt giữa lòng người”. Chế Lan Viên coi “làm thơ là một sự phi thường”với hàm nghĩa lớn thơ phải táo bạo, phải mới lạ, phải cao thượng, không vì lợi, vượt qua ranh giới của sự tầm thường

            Trường thơ Loạn thể hiện một khuynh hướng mỹ học hiện đại. Khía cạnh coi trọng hình thức biểu hiện (ngôn từ, hình ảnh, cảm hứng…) như của Parnasse cũng được khơi nguồn từ đây.

            Giao tiếp, giao cảm thơ ca mở ra một ý tưởng đồng sáng tạo nghệ thuật. Đó cũng là một khát vọng nghệ thuật chân chính.

            Chế Lan Viên chính là người mạnh dạn đặt mối liên hệ với bạn đọc từ rất sớm – coi đó là một chủ thể đồng sáng tạo – một biểu hiện của ý niệm nghệ thuật tiến bộ nhằm phát huy ảnh hưởng thanh lọc của thơ ca (Tựa – Điêu tàn). Đã khởi sự  một mỹ học tiếp nhận từ ý niệm đó.

Từ đây, có những khởi đầu của thi pháp và phong cách nghệ thuật.

            Năng lực tạo dựng hình ảnh phong phú, đa dạng, kỳ thú như một đặc điểm thi pháp đã phát lộ.

            Hệ thống biểu tượng trong sáng tác thời kỳ đầu ở cả thơ (Điêu tàn, Thơ không tên) và văn (Vàng sao) rất phong phú. Có biểu tượng tần số rất cao: máu, huyết (50), huyệt, mộ, tha ma (29) – kể cả sọ, đầu, xương, thịt tượng trưng đau thương, chết chóc, huỷ hoại…là 146. Riêng sao (33), trăng (47) là 80; đặc biệt hồn 104. Mật độ trong một bài cũng rất cao: Khúc ca chiều (máu), Nguồn thơ của tôi (hồn). Ngoài hình ảnh thật của hiện thực là vô số hình ảnh ảo hoặc xen kẽ thực - hư, thực - ảo. Bắt đầu xuất hiện, tuy còn ít, những hình ảnh ý niệm tức hình ảnh trừu tượng là kết hòa của ý hình hoặc hình tượng hóa khái niệm: Dĩ Vãng, Hiện Tại, Vũ Trụ, Hư Không, U Minh, Chán Nản, Trời Mơ, U Buồn, U Sầu, Tương Lai, Ảo Huyễn…; Thâm – khu – ý - thức, Mặt- nguyệt - tâm - tư, Đĩa - bấc - trần - tâm…

Nét phong cách tân kỳ, độc đáo cũng đã manh nha. Cả  trong quan niệm và trong  hình thức biểu hiện.

            Chế Lan Viên cùng Hàn Mặc Tử đã đi tiên phong theo hướng phong cách đó. Bích Khê còn đi xa hơn với tính cách tượng trưng, huyền diệu – theo Hàn Mặc Tử. Riêng Chế Lan Viên đã dựng một thế giới lạ với những biểu tượng ít có, thậm chí chưa từng có, mà trong đó lại sống động mọi hình thể trong mọi quan hệ kỳ lạ đến quái đản. Sao “Sao tán loạn đua bơi trên mặt nước”, “Sao sa xuống cõi trần”; Máu: “Trong gió rít, tiếng huyết kêu rạo rực”; Ma: “ Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”… Nhà thơ chủ trương đề cao những cái kỳ dị, cái phi thường, cái huyền bí lên đến tột cùng để tổng thể tạo ra “niềm kinh dị” lớn lao. Vì vậy, nhà thơ đã tạo ra một mỹ cảm mới về cái điêu tàn, cái kinh dị bằng những thủ pháp của tượng trưng, siêu thực.

            Nhìn chung lại trong phần khả thủ với những yếu tố tích cực của một quan niệm  mỹ học mới, Chế Lan Viên đã góp phần mở ra những đối tượng thẩm mỹ mới, những hình thức và khuynh hướng thẩm mỹ mới trong thơ hiện đại Việt Nam.

                                                           ***

 

           Những tác phẩm đầu đời của Chế Lan Viên có vị trí ý nghĩa hết sức quan trọng với cả đời thơ.

            Phần khả thủ là sự khởi đầu đầy hứa hẹn cho cả hành trình thơ, thể hiện một tiềm lực về nhiều phương diện rõ nhất là khát vọng sáng tạo nghệ thuật thi ca chân chính.

            Rất biết mình, luôn luôn mạnh dạn dũng cảm tự đổi mới theo quy luật có đoạn tuyệt ,có tiếp biến và biến h, nhà thơ đã ra sức phát huy tiềm lực ban đầu, tạo ra những năng lực sáng tạo mới  giá trị cao cho đến cuối đời thơ.

            Có thể thấy Di cảo thơ vẫn thấp thoáng bóng dáng Điêu tàn như sự thăng hoa được kết tụ chung cuộc một nghiệp thơ của thi hào thế kỷ Chế Lan Viên.

                                                                                            

PGS – TS ĐOÀN TRỌNG HUY,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 

TI LIỆU THAM KHẢO

[1]   Nguyễn Huệ Chi (2013), T́m hiểu cái “tôi”“Thơ mới”,in trong Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn, NXB Thanh niên.

[2]    Hoàng Diệp (1969), Chế Lan Viên, thi sĩ tiền chiến, NXB Khai trí, Sài G̣òn.

[3]    Nguyễn Hữu Hiếu (2013), Thơ mới - đôi điều nhìn lại và suy nghĩ in trong Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn, NXB Thanh niên.

[4]    Đoàn Trọng Huy (1993), Nhìn qua sự đổi mới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên,Thông báo khoa học Đại học Sư Phạm  .

[5]    Đoàn Trọng Huy (2013), Hồn dân tộc nhiệm màu từ Thơ mới, in trong Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn, NXB Thanh niên.

[6]   Nhiều tác giả (2000), Chế Lan Viên giữa chúng ta, NXB Giáo dục - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.

[7]    Chế Lan Viên (2009), Chế Lan Viên toàn tập (III,V), NXB Văn học, Hà Nội.

Các Bài viết khác