NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN TIỂU THUYẾT “ĐẠP ĐỔ CHÂN TRỜI, XỔNG XÍCH CÁC CHÂN MÂY”

( 09-09-2015 - 03:04 PM ) - Lượt xem: 1386

Những ngã tư và những cột đèn được Trần Dần sáng tác từ đơn đặt hàng của ngành Công an viết về ngụy binh thời Pháp sau ngày tiếp quản thủ đô, từ năm 1963. Thời gian này, ông được Sở Công an Hà Nội cấp giấy phép ra vào trại giam để tiếp xúc thực tế với các tù nhân ngụy binh

Những ngã tư và những cột đèn là quyển tiểu thuyết “vô tiền, khoáng hậu” của Trần Dần, với một số phận khác thường, mang những dấu hiệu cách tân vượt quá ngưỡng sáng tác của những tác phẩm cùng thời, và với cả những sáng tác (văn xuôi) trước đó của ông.

Quyển tiểu thuyết với số phận nằm trong ngăn kéo

  “Họ cứ vu oan mặt trời ngủ” (Sổ thơ 1976). Tôi dùng chữ của Trần Dần để nói về ông trong giai đoạn sáng tác Những ngã tư và những cột đèn (những năm 60). Như diễn giải của nhà văn Trần Trọng Vũ (con trai ông): “...câu thơ là một kinh ngạc. Một kinh ngạc lại chứa nhiều kinh ngạc khác. Từ họ đến mặt trời, từ mặt trời đến mặt trời ngủ, từ vu oan mặt trời đến vu oan mặt trời ngủ... và mặt trời ngủ rõ ràng là một hình ảnh thị giác. Tôi cứ hình dung thấy một mặt trời vàng vô cùng oai vệ nằm ngủ như một con người, thế thôi, chẳng mộng mị, chẳng lo lắng. Nhưng tôi đã bị lừa, hình ảnh của tôi chỉ là ảo ảnh, vì biết đâu mặt trời lại không ngủ, ông bị vu oan. Người nhiều tưởng tượng hơn có thể đi từ câu thơ đến những thân phận người, những số phận oan nghiệt...” (3:312,313)  Và từ đây - cao trào sự kiện Nhân văn – Giai phẩm,  số phận nghiệt oan của tác giả đi cùng với thân phận bản- thảo- nằm của tác phẩm. 

Nhân văn - Giai phẩm ra đời với 5 số Nhân văn (số 6 không  được in) và 4 số Giai phẩm. Giai Phẩm Mùa Thu tập I xuất bản số đầu tiên ngày 29/8/1956. Ngày 15/12/1956, ủy ban hành chính Hà Nội ra thông báo đóng cửa báo Nhân Văn. “Chiến dịch diệt đánh Nhân văn” và các phong trào văn nghệ mang tính chất tương tự (Đất mới, Sáng tạo), chuẩn bị từ năm  1956  hoàn thành năm 1958, thực hành trên mọi mặt: tư tưởng, báo chí, đến các hình thức tự kiểm thảo khác, và cuối cùng là các biện pháp trừng phạt. “Chao ôi! Con đường để đi tới chỗ “Đúng” mới nhiều máu làm sao!”. 

Đi đến số phận bên lề văn chương, và cả bên lề đời sống công dân không chỉ có các hành động trong văn chương – nghệ thuật của Trần Dần, mà còn bởi, con người quyết liệt trong ông. Sự quyết liệt đó là chung thủy một tình yêu với người con gái mà sau này ông lấy làm vợ, với sự bất chấp quân kỷ (để được kết hôn với vợ - bà Bùi Thị Ngọc Khuê, ông làm đơn xin giải ngũ, ra Đảng) . Và hành động ra ngoài tổ chức Đảng bị đồng nhất là chống đối, phá hoại.

Nếu “trận chiến” Nhân văn đã tước đi quyền cầm bút, tước đi khả năng tự cầm bút của các nhà văn “Nhân văn” để rồi có người “đóng cửa, nằm nhà, không đọc báo”, hay “miễn tiếp khách” thì ngược lại, Trần Dần lại từng bước thực hành những sáng tạo mới, quyết liệt hơn, dù ông từng nói rằng “đình bản cả giao du, đình bản cả việc viết lách”. Từ đây, con người Trần Dần được đồng nhất với con người- nhà văn của ông. Hay ở một góc khác, có thể nói, con người xã hội Trần Dần là một thể nghiệm, là một chất liệu trong văn chương của ông. Ở đó, vị trí của văn chương cao hơn vị trí của nhà văn: “tác phẩm  là bản gốc? đời là bản sao?”. Hành trình của “thủ lĩnh trong bóng tối” bắt đầu.

 “Không người viết nào muốn thuộc về phía tối của đời sống văn học, song khi phía được chiếu sáng quá tầm thường thì được khuất mặt có thể là một hãnh diện chính đáng.”(5) Khi mà, những cảm xúc nghệ thuật phải tuân theo một hình thức nhất định: “con người mới không buồn”, “cuộc đời vui quá, không buồn được” (Tuân Nguyễn), thì phải chăng, con người ấy trở thành con người khuyết tật cảm xúc? Và ở phía ánh sáng của một loại hình nghệ thuật - sự sáng tạo là yếu tố sống còn, nhưng phải “sáng tạo” theo cùng một công thức, và chắc chắn có cùng mẫu số thì Trần Dần tự chọn một vị trí khác cho mình, đứng riêng ngoài. Khi đó, “ghi” trở thành "một động tác thõa mãn nhu cầu đối thoại không thể, với người khác."

 

Không ít các nhà văn, sau “Nhân văn”, ở cùng phía bóng tối, thế nhưng, vị trí “thủ lĩnh” duy chỉ có một Trần Dần. Ở ông, “một nhận định phát ra từ bóng tối và cõi im lặng... có cái uy dũng mà người ta tuy hãi nhưng thèm.” (5)

Cùng với Trần Dần, tác phẩm của nhiều nhà văn trong Nhân văn – Giai phẩm chịu cùng số phận “đóng chai”. Đặng Đình Hưng là một trường hợp tương tự. Số lượng tác phẩm ông để lại chỉ vỏn vẹn 6 tập thơ, chỉ được trích đăng trên một số báo khi ông mất. Tuy nhiên, thi pháp thơ Đặng Đình Hưng trong các tác phẩm được công bố: Bến lạ (1991) và Ô mai (1993) khiến nhiều người thán phục, nhưng độc giả của ông không phải là số đông và mãi cho đến nay vẫn là một vùng khả năng mời gọi nhiều người khám phá, tìm tòi, nghiên cứu.

Những ngã tư và những cột đèn được Trần Dần sáng tác từ đơn đặt hàng của ngành Công an viết về ngụy binh thời Pháp sau ngày tiếp quản thủ đô, từ năm 1963.  Thời gian này, ông được Sở Công an  Hà Nội cấp giấy phép ra vào trại giam để tiếp xúc thực tế với các tù nhân ngụy binh. Năm 1964, cuốn tiểu thuyết hoàn thành, bản thảo được sửa chữa cẩn thận và ghi năm 1966. Một lần chia sẻ với Dương Tường, Trần Dần nói: “Tôi viết cái này là đơn đặt hàng của ngành Công an. Dù viết theo đặt hàng, mình vẫn là mình. Viết cái thư nhỏ cho bạn cũng phải hết văn tài.” Và có lẽ chính vì dùng hết văn tài với những cách tân nghệ thuật mà những tiểu thuyết cùng thời chưa đáp ứng được, mà cuốn sách không thể xuất bản, vì nhiều ý kiến cho rằng chưa thích hợp để ra đời, mặc dù Giám đốc các nhà xuất bản Văn học, Công An, Hội nhà văn Việt Nam đều ghi nhận đây là một tác phẩm có giá trị.

Năm 1988, Sở công an Hà Nội mang trả lại bản thảo cho Trần Dần tại nhà riêng, cùng tập thơ chép tay Cổng tỉnh, sau đó tác giả đã sửa chữa lại bản thảo chủ yếu về văn phong. Trong một trang nhật kí năm 1989 Trần Dần viết: “Người ta nói nhiều, đến bố cục, chủ đề, í đồ không rõ… Xong người ta bàng hoàng và bảo: in cái này hơn Người người lớp lớp. Vâng, đúng là xa lạ. Tôi tuyên ngôn: tào lao – xông xênh – bàng hoàng. Vô hình nhưng rõ rệt. Hiện hữu vô hình ấy là một thực thể. Bàng hoàng ở đó. Bàng hoàng ở những ngã tư. Ai chẳng luôn gặp, những ngã tư. Để rẽ đường nào ?”. Rồi ở một trang khác, ông lại quay về Những ngã tư và những cột đèn: “Đời lắm ngã tư ? Rẽ một ngã tư là trách nhiệm sinh tử, phải cẩn thận kẻo hối bất kịp. Nhưng cẩn thận không có nghĩa tính toán, chi li, chi hoe, mà trực cảm mang hết mình, ngửi ngửi ngã tư cẩn trọng rồi hãy rẽ”. Cuối năm 1989, bản thảo Những ngã tư và những cột đèn được sửa chữa lần cuối trước khi Trần Dần lâm trọng bệnh. Ông thuê đánh máy và tự mình sao chép ra thành nhiều bản gửi những người tin cậy cất giữ. Và mặc dù trước đó, năm 1987, Trần Dần cùng một số nhà văn trong Nhân văn  - Giai phẩm đã được phục hồi,  thì toàn bộ sáng tác  của ông vẫn bị các nhà xuất bản từ chối, bởi chúng có một chữ ký: Trần Dần. “Những ngã tư và những cột đèn, cùng mọi tác phẩm khác, lại bị trả vào ngăn kéo.” Khi đó, đời sống tác phẩm vẫn chưa được bắt đầu.

Con trai của Trần Dần là hoạ sĩ, nhà văn Trần Trọng Vũ mang một tập bản thảo sang Pháp, cùng một số cuốn thơ, nhật kí khác và nhà văn Thuận là con dâu Trần Dần cố gắng dịch bản thảo sang tiếng Pháp với hi vọng nó có thể xuất bản ở nước ngoài để tác phẩm có đời sống thật sự và phần nào an ủi người cha có một số phận oan khiên, nhưng được hơn chục trang thì bất lực. Với cuốn bản thảo mà Trần Dần đã đặt cả tâm huyết này, những người thân của ông tưởng chừng như cuốn sách sẽ mãi ở dạng bản thảo. Những năm sau đó, hai chương của tiểu thuyết đã được in trên Tạp chí văn nghệ Hà Sơn Bình. Nhưng mãi đến năm 2011 tác phẩm mới được NXB Nhã Nam và NXB Hội nhà văn xuất bản. Và như thế,  44 năm, Những ngã tư và những cột đèn trong “phận bản-thảo-nằm”.

Đó không chỉ là số phận của riêng tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn, mà đó là số phận chung của Trần Dần và toàn bộ sáng tác của mình, sau Nhân văn – Giai phẩm. Từ Nghị quyết của các Ban chấp hành các Hội Văn học Nghệ thuật năm 1958, Trần Dần bị khai trừ khỏi Hội nhà văn thời hạn 3 năm, thực chất là 30 năm vắng mặt trên văn đàn. Nhưng ở điểm dừng của việc ngừng xuất bản, thì đó lại là dấu mốc đánh dấu đỉnh cao sáng tác của Trần Dần tham gia vào hành trình độc bước.

Không phải đến “Nhân văn” người ta mới thấy nhu cầu đòi canh tân, sáng tạo và nhu cầu thể nghiệm như một sự tất yếu của Trần Dần. Trước đó, trong thời gian tham gia văn nghệ quân đội  đầu năm 1947, “nổi tiếng có một anh Trần Dần [...] thường vẽ và làm thơ có nhiều cái rất lạ, anh em văn nghệ xung quanh thì rất thích nhưng đồn rằng bộ đội thì không hiểu và một số cán bộ chính trị ở đơn vị thì lấy làm bực mình.”(1)  Trần Dần từng bước thể thiện phong cách riêng trong văn học nghệ thuật và tư tưởng hướng đến tự do sáng tạo. Tháng 11/ 1946, Trần Dần cùng với Đinh Hùng, Trần Mai  Châu, Vũ Hoàng Địch xuất bản tạp chí Dạ Đài và công bố bản Tuyên ngôn tượng trưng. Đến tháng 2/ 1955, Trần Dần viết bản Đề Nghị Chính Sách Văn Nghệ. Tháng 3 -4/1955, Trần Dần, Tử Phác tổ chức phê bình tiểu thuyết Vượt Côn Đảo của Phùng Quán và tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.  Ngay từ thời gian này, độc giả quần chúng và cả lãnh đạo văn nghệ đã khó tiếp cận/không thể diễn ra sự đối thoại với thơ văn Trần Dần (và ngược lại), ngoại trừ những người có những am hiểu nhất định về văn học – nghệ thuật và nhu cầu tìm tòi cái mới .

Và cũng không phải “đóng cửa” Nhân văn là đồng nghĩa với chấm dứt văn nghiệp Trần Dần. Mà từ đây, riêng một Trần Dần, hoàn toàn cô độc trên hành trình sáng tạo, trên lựa chọn “độc sáng” với sự cách tân triệt để. Trần Dần “viết, để được sống”. Nên, “40 năm sau Nhân văn, Trần Dần đã thấy những hòm bản thảo của mình: 2/3 bị tiêu tán, mục nát, 1/3 còn lại bị kết án chung thân trong trạng thái nằm. Vậy mà vẫn viết. Viết đều. Bởi ông cho rằng viết hay ghi là cách duy nhất nói chuyện với mình khi không thể nói được với ai.” (6:238)

Trong giai đoạn “treo bút” này, Trần Dần vẫn âm thầm viết. Viết trong tâm thế mong chờ “độc giả tương lai”, nghệ thuật viết theo lối đoạn tuyệt độc giả đại chúng của thực tại. Nhiều tác phẩm viết trong giai đoạn này nhưng mãi sau này mới được xuất bản: Cổng tỉnh (thơ-tiểu thuyết, viết từ 1959 -1960), Ðêm Núm Sen (tiểu thuyết, 1961), Jờ Joạcx (thơ, 1963), Mùa Sạch (thơ, 1964), Một Ngày Cẩm Phả (tiểu thuyết, 1965) và Những ngã tư và những cột đèn (tiểu thuyết, 1964 - 1966), Con Trắng (thơ hồi ký, 1967), 177 Cảnh (hùng ca lụa, 1968), Ðộng đất tâm thần (nhật ký- thơ, 1974), Thơ không lời – Mây không lời (thơ - họa, 1978), Bộ tam Thiên Thanh – 77 – Ngày Ngày (1979), Bộ tam 36 – Thở dài – Tư Mã dâng sao (1980), Thơ Mini (1987) cùng với những Sổ bụi, Vở bụi.

Trong nhật ký của mình, Trần Dần bày tỏ tâm huyết của mình dành cho tác phẩm Cổng tỉnh, cũng như dành cho nghiệp viết : “Hãy để tôi hoàn thành “Cổng tỉnh”! Óc nhé, chịu khó chịu đựng, gắng gỏi lên, một ít ngày giờ! Sau đó, dây thép thần kinh có đứt thì cứ đứt, tha hồ! (3:109)  Ông biến tứ khổ thành tứ khoái để con người toàn phần  của mình dành cho văn nghiệp.

Hoài Nam, trong Cuộc chơi ngôn ngữ trong “đã đặt một nghi vấn, mà đúng hơn là một Những ngã tư và những cột đèn”, sự khẳng định: “Ai đó đã từng cảm khái trước sự kiện Trần Dần bị gạt ra bên lề đời sống văn chương suốt mấy chục năm. Nhưng biết đâu đó lại chẳng là một cơ may cho ông: chính sự tồn tại “bên lề” ấy khiến ông có thể yên tâm đi con đường riêng của mình, viết theo xác tín nghệ thuật của mình, khỏi phải lo đến việc tác phẩm mình viết ra có là món ăn hợp với khẩu vị của người đương thời hay không?”

Như Tuân Nguyễn từng nói về Dostoevsky: “nếu không có mười năm lưu đày ở Sibir, tài năng của Dostoevsky không đạt đến độ viên mãn đến vậy”, thì với Trần Dần, số phận bên lề văn chương chính thống, hay trong cô độc bóng tối như một điều kiện để ông được trọn vẹn là ông, sống với văn cách và nhân cách của chính mình. Cùng với đó, các tác phẩm ký tên Trần Dần mang một bản sắc riêng không lẫn vào đâu, vào ai được.

“Nhân văn – Giai phẩm”  với “cái sẹo còn rỉ máu đến đời con” không phải là lý do duy nhất khiến sáng tác của Trần Dần không được đến với đông đảo độc giả, mà còn những lý do khác, quan trọng hơn, chính bởi do Trần Dần.

Trần Dần đòi hỏi nhà văn phải có chữ ký riêng. Điều đó, chính ông đã thể hiện cái nhìn của mình trong những lần phê bình tập thơ Việt Bắc, Vượt Côn Đảo đối với những nhà văn “chính trị công thức quá, lười tìm tòi quá”. Vì thế, Trần Dần trở thành  một cõi riêng.  “Phần lớn tác phẩm của ông, mỗi dòng là mỗi riêng một cõi, càng lúc càng riêng, riêng tới mức cực đoan, riêng tới mức bí hiểm phải giải mã, phải cần đến một từ điển Trần Dần, không có cách nào khác là làm phận bản-thảo-nằm.” (5)

Và khi, tính đại chúng là tiêu chuẩn thẩm định giá trị văn chương, thì con người hướng đến giá trị nghệ thuật thuần túy - Trần Dần có sự “lệch pha” rõ rệt.  Quan niệm đổi mới nghệ thuật của ông, trước hết là hình thức, với  “bốn  kiểu chữ” và “kèm theo một khoa chính tả khác thường và một thư pháp, hay thư họa rất đặc trưng Trần Dần.” Vị trí trong bóng tối của ông cùng tác phẩm còn bởi “bị không hiểu”. “Không hiểu chứ không phải hiểu nhầm. Hiểu nhầm còn chữa lại được, không hiểu thì khó thay đổi hơn nhiều. Một người như thế sống ở bất kỳ đâu cũng khó.”(4)

Bên cạnh đó, “khí chất của Trần Dần là cái khí chất không thuận với mọi cách” nên “số phận của Trần Dần là số phận hoàn toàn cô đơn và trong bóng tối theo mọi nghĩa của một người dốc hết mình vào thửa ruộng thử nghiệm của văn học”. (4) Vì cô đơn nên ông được “lặng yên” quan sát mọi thứ bên ngoài, đám đông. Một cuộc viết thầm lặng nên ông được tự do sáng tác theo cách riêng của mình.

Ông bị không hiểu còn bởi vì: “một phần ba thế kỷ văn vần quốc doanh, văn xuôi mậu dịch trên môi” người đọc Việt Nam. Họ đọc cái mới, nhưng tư tưởng đã tiếp thu cái mới? Họ đọc cái mới, nhưng đã “dọn lòng” từ bỏ quan niệm đọc cũ để đến với những cách tân không thiên kiến?

Trần Dần là người “ham muốn vượt qua, hoặc ít nhất là khác đi với cái cũ, hoặc cái đã trở thành cũ, ở bên ngoài mình đã đành, lại còn liên tục tự mới với chính mình, tự vượt qua mình, mà lại làm điều ấy trong từng chi tiết, cho đến tận nét chữ”. Trần Dần – “kẻ vượt ra mọi cách thì không có chỗ đứng. Cho nên Trần Dần nằm. Thơ ông là thơ nằm. Mọi bản thảo của ông là bản thảo nằm.” (4) Để rồi từ đó, “Một câu văn/ dang dở nửa đời/ nằm trên giấy/ đợi tôi về/ chắp nối”. 

Trần Dần từng nói với thơ, và như nói với mình: “HÃY ĐẮM ĐUỐI ĐI VÀO BÓNG TỐI”, “THƠ TÔI CÓ 30 NĂM ĐÓNG CHAI. NÓ CÓ THỂ... CHỜ.” (3:400)

Thơ văn ông đã chờ để mở ra một không gian tiềm năng cho độc giả, mở ra một cái nhìn cho người đời – những ai còn biết đặt một dấu chấm hỏi cho cuộc sống của mình và cho văn chương Việt. Mà ở đây, tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn là một tiêu biểu.

Tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn – một cột mốc trong hành trình tự xóa chính mình

Sự nghiệp văn xuôi Trần Dần không nhiều tác phẩm, bao gồm cả các tác phẩm đã in hoặc chưa xuất bản: Những ngã tư và những cột đèn, Đêm núm sen và dấu ấn đầu tiên về văn xuôi Trần Dần đó là tác phẩm đầu tay Người người lớp lớp. Trong không khí sôi sục tình thần đấu tranh đến với chiến dịch Điện Biên Phủ, tiểu thuyết Người người lớp lớp được đón nhận như một tác phẩm đầu tiên phản ánh kịp thời không khí và tinh thần thời cuộc, phác thảo bức tranh hiện thực đầy sinh động. Đó cũng là yêu cầu chung của văn học bấy giờ, tác phẩm phải mang cảm hứng sử thi, ca ngợi những người chiến sĩ vào cuộc chiến đầy máu lửa, vì độc lập dân tộc.

Thế nhưng, ngay sau khi hoàn thành tác phẩm, Trần Dần đã “tự phê bình”: “Tôi vừa viết xong cuốn Người người lớp lớp. Viết về chiến tranh ở Điện Biên Phủ đấy. Nhưng mà tôi chán rồi. Tại vì rằng tôi ít thấy sự thực của chiến tranh trong đó quá. Và vì rằng tôi ít thấy sự thực của bản thân tôi trong đó quá. Chưa phải là chiến tranh, chưa phải là tôi. Cho nên tôi viết tới hơn 300 trang mà không thích bằng một bài thơ mà tôi cũng mới làm về chiến tranh: “Anh đã thấy” (Mes douleurs) trên dưới có 6 trang!” (6:255)

Và “theo lời Trần Dần kể (bài in trong cuốn Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học 1945 – 1954, H, 1995)  dù đó là Tô Vĩnh Diện, là anh Lục, anh Sâm...thì họ đều là “các nhân vật vô hình”, “hiện thân của một tình cảm vô thức”, có nhân vật mượn tên người nọ người kia ngoài đời mà thực ra lại hoàn toàn “do trí tưởng tượng” của tác giả sáng tạo.” (3:113)

Như vậy, điều trăn trở lớn nhất trong quá trình sáng tác của Trần Dần là “sự thật”. “Sự thật” ở đây chính là hiện thực với đầy đủ màu sắc, chứ không chỉ có con đường vinh quang, một màu hồng phú kín các màu. Bên cạnh yêu cầu viết cái gì, ông là người đòi hỏi về “viết như thế nào” một cách nghiêm khắc. Cùng với đó là sự khát khao cách tân như một tất yếu: “tôi luôn đi trước tôi. Bút không đi trước, tôi ắt không viết”.

Trần Dần là con người “làm một/ ngôi người/đến/chết?/VIẾT – KHÔN – NGUÔI”. Tinh thần đó được thể hiện tiếp nối trong Những ngã tư và những cột đèn nhưng với một thể nghiệm hoàn toàn mới. Để, tác phẩm của Trần Dần không có một “mẫu số chung”, có thể “ký tên người khác” cùng với các tác phẩm cùng thời, hay mang lên mình một “nhiệm vụ” nào khác ngoài văn học.

Có thể nhận thấy sự thay đổi này qua sự so sánh hai tác phẩm Người người lớp lớp và Những ngã tư và những cột đèn một cách tương đối, trên các phương diện: đề tài, cốt truyện, nhân vật, điểm nhìn, giọng điệu.

Về phương diện đề tài, Người người lớp lớp là tác phẩm đầu tiên viết về chiến tranh ở Điện Biên Phủ và Trần Dần là người tiên phong. Là một nhà văn áo lính thời kỳ đầu trong trận Điện Biên Phủ, có đóng góp tích cực với trang Văn nghệ quân đội, Trần Dần mang tâm thế, tinh thần của người vào cuộc chiến, vì tự do dân tộc, đồng thời ca ngợi những con người mang máu xương mình thấm vào đất nước, làm nên anh hồn tổ quốc.

Người người lớp lớp với ba tập sách, hơn ba trăm trang được viết từ tháng 2-1954 tại Điện Biên và hoàn thành tháng 7-1954 tại Việt Bắc. Người người lớp lớp mang đậm tính thời sự, cỗ vũ cho trận chiến Điện Biên. Trong bối cảnh miền Bắc đang tiến hành cải cách ruộng đất, Tây Bắc vào giai đoạn khốc liệt nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 23 vượt sông Đà tiến vào trận chiến. Thế nhưng, với những thay đổi từ chiến trận, các chiến sĩ phải thay đổi nhiệm vụ: kéo pháo ra. Lồng vào câu chuyện chung của đại đoàn là những câu chuyện riêng về cuộc đời, tính cách của từng chiến sĩ, của đồng bào. Những câu chuyện về chính ủy Trần Thắc,  về No, Lục, Truyện, Sâm, chị Hà văn công, đến trạm quân y, trận đánh Him Lam,...cho đến ngày thắng lợi và hướng về tương lai sau hiệp định Geneve. Tất cả được ghi lại bằng máu xương, bằng những tháng ngày gian khổ của những cuộc đời riêng làm nên cuộc đời chung cho tổ quốc. “Máu của người công nhân này đã góp vào bản tin chiến sự mà chiều chiều các em thiếu nữ thường phát thanh ở hậu phương.”

Ra đời trong hoàn cảnh sau này, cùng với tâm thế sáng tác khác, Những ngã tư và những cột đèn mang nhiều dấu ấn cách tân, làm nên nấc thang mới trong hành trình tự xóa chính mình của Trần Dần.

 Những ngã tư và những cột đèn là tác phẩm bất khả tóm tắt. Nội dung bề nổi của tác phẩm xoay quanh nhân vật Dưỡng – một người lính ngụy binh sống trong thời hòa bình lập lại sau tiếp quản, miền Bắc đang tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa. Cùng với đó, là việc khắc họa các mối quan hệ: vợ chồng, bạn bè, công dân – chính quyền, đi qua thời gian từ trong chiến tranh đến ngày hòa bình, và hướng đến mẫu số chung là tìm đến lý tưởng cách mạng, trở thành một công dân tốt phục vụ cho xã hội. Nếu xét ở bề mặt thì câu chuyện chỉ có thế, không có gì đặc biệt. Thế nhưng, bằng một phương thức diễn đạt rất riêng và rất mới của mình, Trần Dần viết nên Những ngã tư và những cột đèn “thực chất để đòi những câu hỏi khác về trách nhiệm của người đang sống, đối với hiện tại và quá khứ.” “Không một cảnh chiến tranh, nhưng hai chữ chiến tranh đi vào tiểu thuyết ngay từ trang một và trôi theo nhật ký, như một ám ảnh cho đến trang cuối cùng. Chiến tranh do vậy, tồn tại như một bè đệm. Để con người TOÀN PHẦN và CỤ THỂ vẫn tiếp tục trong chiến tranh. Và mạnh hơn chiến tranh.” Cùng đề tài về chiến tranh, nhưng vào hai giai đoạn khác nhau, hai tâm thế khác nhau được truyền tải bằng hai phương thức khác nhau.

Thông qua hình thức tiểu thuyết – nhật kí, tiểu thuyết – trinh thám, Những ngã tư và những cột đèn miêu tả một hiện thực khác dưới bề nổi “phải đạo” của tác phẩm có thể nhìn thấy. Một hiện thực về sự tự nghiệm về thời gian và cuộc sống. Con người không tồn tại riêng lẻ mà sống trong mạng lưới xã hội và chịu sự chi phối bắt buộc. Sự cùng sống trong một thiết chế xã hội/ thời đại nhất định chi phối không ít, thậm chí làm biến dạng nhân cách mỗi người cùng các mối quan hệ khi trải qua nhiều biến cố. Cụ thể ở đây là Dưỡng, Tình Bốp, Chắt, Ngỡi, Đoành từ những người bạn đã trở thành những người dò xét nhau, hoặc “hạ bệ” nhau để lập công, và được sống. Trong khi đó, Dưỡng rơi vào tình trạng tự kỉ ám thị, tự nghi kị, kết án mình và sống dần phụ thuộc vào cái nhìn của người khác.

Những ngã tư và những cột đèn như một hồi chuông cảnh tỉnh rằng sự thật cuộc sống chỉ là “sự thật được biết” của chính mỗi người, hay là những sự thật được sàng lọc với những góc nhìn khác nhau trong tác phẩm và một cái kết mở của cuộc điều tra dù hồ sơ vụ án đã được đóng lại, ở  phía được chiếu sáng.

Về giọng điệu, Người người lớp lớp mang giọng anh hùng ca, hòa chung vào giọng nói của cả dân tộc, của thời đại. Tâm thế háo hức sẵn sàng cho cuộc chiến được miêu tả qua nhiều hoàn cảnh khác nhau, khi là lúc đợi lệnh xung trận, khi là lúc hành quân:  “Thật như đại hạn gặp mưa rào. Quân ta đùng đùng nổi dậy, súng ống đạn dược, bao gạo gánh muối, bước chân rầm rập ra đi. Mùa đông gió nổi ầm ầm, quân ta từ biệt hậu phương lên đường rong ruổi ra mặt trận.”(2:6) Tinh thần vì chiến đấu cũng tiếp thêm nghị lực, và xua tan mệt mỏi của chiến sĩ: “Đó là vì quân ta bụng đã đều để cả vào nơi chiến trường sắp đến. Bao nhiêu con mắt chăm chăm rọi lên đằng trước! Cho nên: đường xa nhưng không để ý tới đường xa, mang nặng nhưng không để ý tới mang nặng, mệt mỏi nhưng không để ý tới mệt mỏi. Mà bao nhiêu ý tứ để cả vào việc đi mau tới đích, giết giặc lập công” (2:7); “Đoàn quân hàng vạn người đêm đi ngày nghỉ khí thế đùng đùng. Họ mong từng giờ phút tới nơi súng nổ. Đường trường bụi bậm, mưa nắng rạc người. 100 anh thì chỉ có một, hai anh ốm phải cáng – có một vài anh kêu khổ thốt ra lời – kêu khổ nhưng vẫn cố đi – những tiếng phàn nàn hầu như không có, bao nhiêu mệt nhọc quân ta bấm bụng cất trong tâm.” (2:8) Giọng ngợi ca thể hiện niềm tin vững chắc vào tương lai, vào sự đổi đời, sang trang lịch sử, và sang trang một kiếp người: “Họ hàng chục năm lặn lội cần cù, bây giờ họ giữ những trọng trách của giai cấp giao cho, sức đã cạn nhưng không ai chịu nghỉ...Họ giống như hình ảnh của Hồ Chủ tịch: suốt một đời, Người chạy vạy trong gió mưa sấm bão, để cho chúng ta có từng hạt cơm, từng viên đạn...” (2:14) Lời riêng đã thành lời chung, đại diện cho tiếng nói của hàng triệu con người khác. Lời nhân vật cũng chính là lời tác giả, truyền tải thông điệp từ tác giả.

Trong Người người lớp lớp, điểm nhìn tư tưởng của tác giả và của nhân vật chính trùng khít nhau. Đồng thời, ngôi kể là ngôi thứ ba, khả tri. Nếu Người người lớp lớp hướng đến một chân lý tuyệt đối với nền tảng vững chắc là lý tưởng cách mạng thì Những ngã tư và những cột đèn là biểu hiện của sự hoài nghi. Điều này thấy rất rõ ngay từ tiêu đề tác phẩm. Người người lớp lớp diễn tả khí thế và số lượng hùng mạnh của quân ta khi xung trận. Ẩn trong đó là niềm tin, là hy vọng, là lý tưởng. Những ngã tư và những cột đèn lại là biểu tượng của những ngã rẽ, của phân vân, và số phận đằng sau sự lựa chọn trên những phân vân ấy. Những ngã tư và những cột đèn là một tiểu thuyết mang tính đa thanh, đa giọng. Mỗi nhân vật đều được nói lên tiếng nói của mình (tất nhiên, có phụ thuộc vào hình thức thể loại trinh thám) và đều có sức nặng như lời tác giả, đồng thời có vị trí độc lập, ngang hàng với lời tác giả. Các nhân vật: nhà văn không xưng tên, Dưỡng, chị Hòa, Cốm, Thái, Nhọn – Cằm (Phúc) luân phiên nhau ở vị trí người kể chuyện. Mỗi người là một góc khác nhau, khi nhìn về hiện thực. tư Những ngã và những cột đèn được kể từ nhiều điểm nhìn và vì thế, độ chính xác về “sự thật”, sự chắc chắn không cao. Và có lẽ, ngôi kể “bất khả tri” trong tác phẩm cùng với những “hoài nghi” mới chính là bản chất hiện thực đời sống. Sự thật chỉ là “sự thật được biết” của chính mình, đôi khi đã qua “sàng lọc”.

Một bên sử dụng đề tài để tác động đến độc giả. Một bên dùng kỹ thuật viết tác động đến cách nhìn hiện tồn, đặt ra một câu hỏi khác buộc độc giả tự tìm hiểu và trả lời. Với Những ngã tư và những cột đèn, câu trả lời không nằm trên bề mặt tác phẩm, trong khi Người người lớp lớp mang tính giáo huấn rất rõ nét. Ngay từ khi ra đời, Người người lớp lớp được xem là một tác phẩm “hợp thời”.  Những ngã tư và những cột đèn lại là tác phẩm “hợp thời” của gần 50 năm sau.

Về nhân vật, Người người lớp lớpphân tuyến nhân vật thành hai phía rõ rệt: chính diện và phản diện, không có tuyến nhân vật thứ ba với cả hai mặt tính cách ưu – khuyết. Và tất nhiên, chính diện là quân dân ta, phía ngược lại là địch, ngụy binh. Nhân vật ở đây là 

hình tượng nhân vật anh hùng, có lý tưởng cao cả, hiện thân cho vẻ đẹp thời đại. “Anh này là pháo thủ, anh kia là xung kích, anh khác là công binh...mỗi một người hy sinh ở một góc đường chiến dịch. Họ khụy xuống cho tổ quốc vươn lên.” (2:107)

Các nhân vật cũng được chú ý đến nguồn gốc xuất thân như một “nền tảng” vững chắc làm nên người anh hùng. Trong một đoạn tranh luận của  No và Chính trị viên Ngọc, đã thể hiện rõ quan điểm này:  “Đội quân nó thắng là ở thành phần và sự lãnh đạo, cái đó tạo nên tinh thần và truyền thống của nó.” (2:269) Không chỉ thế, trong từng câu chuyện kể về các nhân vật, nguồn gốc xuất thân được miêu tả khá chi tiết, hầu hết là bần cố nông, chịu nhiều áp bức, sau đó được tố khổ và gặp được sự dìu dắt của Đảng mà trở thành người chiến sĩ  anh dũng. Đó là những: Trần Thắc, No, Truyện, Lục,... “Ngày đó chiến sĩ từ những người hôm qua còn cầm cày, cầm bừa, cầm bút, hôm nay Tổ quốc lâm nguy họ trỗi dậy cầm súng, người người còn bỡ ngỡ với đầu ruồi, quy lát. Ngày đó cán bộ từ nhà máy ruộng đồng ra cũng có, từ ghế nhà trường hoặc từ hàng ngũ quân đội khố đỏ khố xanh sang cũng có, tác phong lung tung mỗi người mỗi vẻ.” (2:12,13)

Chính ủy Trần cũng “xuất thân từ một người chiến sĩ mà lên. Xưa kia đồng chí là một anh cố nông, vì theo “cộng sản” đi cắm cờ đỏ mà bị tù ở Sơn La.”  No khổ 3 đời, Lục đi ở nhà địa chủ, Sửu “xuất thân là một công nhân sở máy cưa Hà Nội”, Luân “xưa kia ba năm ngự trên mình trâu nhà tên tiên chỉ, đã bắt Luân gán vào một món nợ từ đời ông”, “Truyện là một anh đánh cá nghèo ở mãi Nghệ Tĩnh”, “Lâm là cố nông đã ra bộ đội sau một trận bom, lửa cháy vỡ làng”.

Trong khi đó, anh Dưỡng và các bạn của mình  lại là thành phần ngụy binh và có thể nói là ở tuyến thứ ba không nằm trong “bản đồ” nhân vật thời bấy giờ. Vì thế mà họ phải luôn sống trong tâm thế “đối phó” cả “bên này” và “bên kia”. Sự đối phó đó lại nằm trong thế bị động, bị quy chụp, bị giăng mắc trong một không khí nghi hoặc, dò xét, sẵn sàng thủ tiêu phủ trùm đời sống. Và diễn biến tâm lý trong cái tâm thế ấy, chính là đối tượng trọng yếu được nói đến. Nhân vật ở đây là con người đa diện, đa tính cách, không phải là hình tượng điển hình, với cái tôi phức tạp.  Cái tôi phức tạp ấy luôn trăn trở, đầy suy nghiệm, mang đậm giá trị nhân sinh: “Ngã tư này nhiều cột đèn. Có những cột điện sáng đèn. Có những cột điện không đèn. Những cột đèn nối những cột đèn. Bằng những đường dây điện màu đen. Thành một mạng cột đèn. Cả mạng cột đèn có nhiều đèn. Cả mạng cột đèn có một mạng đèn. Mạng đèn soi soi mạng ngã tư. Không có đèn khó mà tới được ngã tư. Không có đèn thế nào cũng va vấp. Có khi ngã sái chân. Có đèn dễ đi. Dễ đi: nhưng vẫn có người vấp vẫn có người ngã. Người lầm phố. Vẫn có tai nạn giao thông. Trong một kiếp người. Vẫn có những nhầm lẫn ngã tư cũng trong một kiếp người. Bởi vì chiếc xe ấy đã có thể rẽ nhầm ngã tư ấy.  Và một người nhầm lẫn đã đến phố ấy trong buổi chiều ấy. Đã nhầm đúng vào giờ ấy. Tôi đưa tay lên sọ. Không phải vì đau đầu. Tôi lại dừng chân bên một ngã tư: tôi rụt rè không định rẽ ngả nào. Biết đâu rẽ ngã tư kia tôi không gặp gió độc? Biết đâu ngả nào không gió thổi? Tôi đưa tay lên sọ. Tôi đứng im: hình như giữa một ngã tư. Tôi không có cả một ai để bắt chước. Tôi đến dưới một cột điện sáng đèn. Nhưng tôi nghĩ lung tung rồi. Tôi giẫm phải bóng tôi trong phố. Bóng tôi đêm nay lúc nào cũng im.” (4:274) Hàng loạt câu hỏi hiện lên để tự tra vấn mình: “Ai đếm bao nhiêu nốt chân khôn dại. Bao nhiêu nốt chân vui buồn? Ai đếm những ngã tư đời láo nháo nốt chân. Láo nháo cột đèn láo nháo đèn?” (4:275)

Những ngã tư và những cột đèn – quyển tiểu thuyết của quá khứ làm xạm mặt hiện tại với những thủ pháp độc đáo, không chỉ thay đổi quan niệm sáng tác, mà còn thay đổi quan niệm người đọc, vai trò của người đọc trong việc tham dự vào tác phẩm kiến tạo nghĩa văn bản.

Với Những ngã tư và những cột đèn, “Trần Dần giải được bài toán văn chương không đề cao cách viết bấy lâu nay”. Tác phẩm mang những dấu hiệu cách tân mà mãi đến sau này, văn nghệ được “cởi trói”, các tác phẩm hậu hiện đại: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt Hà), Ngồi, Mình và họ (Nguyễn Bình Phương),... mới có dịp thể nghiệm và đơm hoa.

ĐẶNG THỊ LỆ THƯƠNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hoàng Cầm, Tiến tới xét lại một vụ án văn học: con người Trần Dần

www.talawas.org/talaDB/suche.php%3Fres%3D7812%26rb%3D+&cd=1&hl=vi&ct=clnk

Trần Dần (2004), Người người lớp lớp, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội

Trần Dần(2008), Trần Dần – Thơ, NXB Nhã Nam – NXB Đà Nẵng, Hà Nội

Trần Dần (2014), Những ngã tư và những cột đèn, NXB Nhã Nam – NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

Phạm Thị Hoài, Thủ lĩnh trong bóng tối, http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=700

Thụy Khuê (2012), Nhân văn giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, NXB Tiếng Quê Hương, Hoa Kỳ

Các Bài viết khác