NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NHỚ NGUYÊN HỒNG, NHỚ BỈ VỎ

( 05-11-2013 - 06:23 AM ) - Lượt xem: 4714

Nguyên Hồng, một cây bút nhân hậu, luôn hướng đến cái cao đẹp, trong sáng, niềm tin yêu tha thiết vào lẽ sống. Tất nhiên khi cần, ngòi bút Nguyên Hồng vẫn làm việc tố cáo, đập tan những áp bức, bất công nhưng chủ yếu là một bàn tay xây dựng và ca ngợi con người.

 

Nhớ về Nguyên Hồng là nhớ cái dáng dấp tất tưởi, lam lũ; nụ cười tự tin, yêu đời trên khuôn mặt nhân hậu còn in rõ dấu vết của những ngày đói khổ, tủi nhục trong cuộc đời sớm vất vả trước đây. Cuộc sống cùng khổ ấy đã rèn luyện Nguyên Hồng thành nhà văn của người dân nghèo thành thị, tầng lớp bần cùng của xã hội thời bấy giờ.

 

 Sau bao nhiêu ngày tháng bị câu thúc thân thể, bị đầy đoạ tội tù trong các nhà giam và một cuộc sống cơ cực, nặng nề đói khổ kéo dài, Nguyên Hồng nhiều lúc lo sợ, bối rối, tưởng mình sẽ chết đau đớn ở cái tuổi 16, “sẽ quằn quại như con bướm non bị hai ngón tay dữ tợn kẹp chặt vừa lúc nó mới đánh thấy mùi nhị hoa thơm ngát.” Người thanh niên ấy bỗng thấy ham sống, thèm sống hơn bao giờ hết, tha thiết và khắc khoải một cách lạ thường. Nguyên Hồng nghĩ dù có chết đi cũng phải để lại cho cuộc đời mà ông yêu quý một cái gì vừa tinh khiết, trong sáng, vừa tha thiết, yêu thương nhất của tâm hồn. Với suy nghĩ đó, Nguyên Hồng quyết định tồn tại bằng cách đi vào sự nghiệp cao quý và trong sạch của văn chương. Nhà văn bắt đầu viết, viết suốt ngày đêm, viết một cách đau khổ, say mê, bất chấp “ cái đói ê ẩm thấm thía vô cùng trong đêm mưa lạnh hoang vắng”. Một ngày làm việc của Nguyên Hồng bắt đầu từ gà gáy và kết thúc trong  cái tỉnh thức giữa đêm, mà thức giấc để tiếp tục đọc, tiếp tục viết.   Qua gần 50 năm sáng tạo không mệt mỏi, Nguyên Hồng đã đóng góp được những tác phẩm có giá trị bền vững lâu dài cho nền văn học dân tộc.

 

Bỉ vỏ ra đời cùng với những tác phẩm nổi tiếng khác trong thời gian nhà văn tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ ở Hải Phòng. Giữa thế kỷ 20, Nguyên Hồng nổi lên như một cây bút trẻ với những cảm xúc tươi mới, trong sáng và dạt dào, dễ xúc động, dễ cảm thông trước cuộc sống cùng cực của những người cần lao đói khổ và bởi những kỉ niệm đau xót,  chân thành của những ngày thơ ấu của nhà văn. Ở Nguyên Hồng những tình cảm sôi nổi, dào dạt từ bên trong đôi lúc như lấn lướt, bao trùm cái hiện thực khách quan của ngòi bút vốn hiện thực và tỉnh táo này. Do đó, Bỉ vỏ tuy chưa đi sâu vào  trung tâm mâu thuẫn của hiện thực khách quan lúc bấy giờ, song tác phẩm đã thổi vào hồn ta những day dứt mãnh liệt-  sự nổi giận rung người và cả những  yêu thương đầy tình người.

 

Nguyên Hồng cùng các nhà văn Quảng Ninh 4/1982

Nhân vật chính của tiểu thuyết Bỉ vỏ là Tám Bính, một cô gái chất phác của làng quê, bị lừa gạt trong tình yêu rồi bị tập quán lạc hậu xua đuổi, lên thành phố lại bị đày vào con đường tội lỗi. Từ chỗ phải làm nghề mại dâm, Tám Bính trở nên một “bỉ vỏ”- kẻ cắp lành nghề- và cuối cùng cả hai vợ chồng đều bị bắt giữa lúc Tám Bính hay tin đứa con duy nhất bị giết do chính tay người chồng sau của mình.

 

Mở đầu tác phẩm là tình cảnh đáng thương của Bính khi đã lỡ trao thân và có con với người bạc bẽo. Chị Minh, Bính và còn biết bao nhiêu người cùng chung số phận này, một khi đã vướng vào sự lỡ lầm kia, họ sẽ hoá thành cái gai trong mắt mọi người; là một thức rác rưởi nhơ nhuốc  mà mọi người muốn tiêu diệt đi cho khuất mắt; là món “bỡ” mà mấy khi bọn hương lý chức dịch được tha hồ phạt vạ, bâu vào xấu xé và giành giật.

 

 

Xã hội ấy, những định kiến khe khắt ấy đã dồn con người  vào bước đường cùng, chỉ còn cách ra đi, từ bỏ quê hương hoặc liều mình tìm đến cái chết. Chỉ như thế mới thoát khỏi những cái nguýt, cái nhìn gườm gườm, những lời mắng nhiếc, đay nghiến, chìa bỉu cay nghiệt của xã hội. Cuộc đời họ, những con người đáng giận, đáng thương kia chỉ đi vào  ngõ cụt,  tối tăm và khắc nghiệt, không mong tìm được ánh sáng dù le lói. Họ là những kẻ đáng thương, vì đã cả tin khờ dại, sa chân, tạo  điều kiện cho cái xấu của xã hội đay nghiến, hành hạ, giết chết dần từng ngày. Có lẽ, cho đến lúc chết, những nỗi nhục nhã, đau đớn  tột cùng kia, khó lòng mà phôi pha.

 

Nguyên Hồng, người đã từng xót xa, chua xót đến ứa mước mắt vì bất lực khi nhìn thấy những thành kiến của xã hội và gia đình ruồng bỏ  chính ông và mẹ , người phụ nữ đáng thương mà Nguyên Hồng hết mực yêu thương và một đời tôn kính. Trải qua bao thăng trầm, Nguyên Hồng- ngòi bút của phụ nữ và trẻ em, đã bị thu hút bởi những tấn bi kịch đó. Từ chính bi kịch của gia đình trong đó có nhà văn, Nguyên Hồng đã miêu tả rất thực khiến độc giả hết sức thương cảm, xúc động tột cùng, căm giận những mặt trái xã hội đã làm nên diện mạo một Nguyên Hồng rất hiện thực.

 

Dưới cái nhìn của một nhà văn hiện thực chủ nghĩa, Nguyên Hồng đã xuyên thấu vào những mặt tiêu cực  của tầng lớp dân nghèo thành thị khi họ chưa tìm thấy lối thoát và phương hướng đấu tranh để giành lại quyền sống, quyền được tồn tại của một con người.

 

Mỗi nhân vật trong tác phẩm của Nguyên Hồng là cả một bản án, câu chuyện đời bi thảm được phơi bày hoặc giấu nhẹm đi. Hai Liên, Năm Sài Gòn, Tư Lập-lơ, họ từ đâu tới, họ là ai, ở đâu trước khi cam chịu những số phận đã rồi. Nguyên Hồng không miêu tả trực tiếp quá trình bị phá sản hay bị cướp đoạt,… nhưng nhà văn thấy rõ số đông dân nghèo ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định là những người lìa hẳn quê hương lên thành phố. Ước vọng trở về như tia sáng nhỏ trong tâm trí, luôn ngấm ngầm tồn tại nhưng rất xa vời, khó lòng chạm tới. Trong số họ có Bính, bị mẹ gả bán, ép uổng, bị đày đoạ bởi những hủ tục, luật lệ phong kiến khắc nghiệt. Rời làng ra thành phố rồi bị cưỡng hiếp, bị biến thành lưu manh, thành gái điếm. Sớm muộn gì rồi đám dân phiêu bạt ấy sẽ dần dần mất đi nguồn cội mà chỉ còn đám đông vô danh trong bộ đồng phục màu xám, ngày ngày đi kiếm ăn trong những điều kiện sống hết sức khắc nghiệt, vô tình của thành phố tư sản. Không chỉ dừng lại ở hiện tượng khách quan, nhà văn còn đi vào bản chất của sự việc, giúp ta nhìn sâu hơn vào cuộc đời họ, từ đó thông cảm với những nỗi đau khổ mà họ phải chịu đựng trong xã hội cũ.

 

Điều đáng làm chúng ta suy ngẫm không phải ở chỗ Nguyên Hồng miêu tả những câu chuyện kì lạ trong xã hội lưu manh, gái điếm. Ngay ở những tầng lớp cặn bã nhất, chỉ biết có lừa bịp, chém giết vẫn ánh lên những tia sáng nhân đạo, vẫn còn lòng thương yêu, thuỷ chung, lòng hy sinh dám xả thân vì một nghĩa cử, dám sống chết để bảo vệ đồng đội,… và  đọng lại là  khát vọng mảnh liệt thoáng qua muốn thoát khỏi cuộc đời tội lỗi. Đọc truyện Nguyên Hồng, qua những nhân vật phản diện, thấy tội ác của họ,  đồng thời cũng thương xót cho những kiếp người bị xã hội độc ác vùi dập vào vũng bùn tội lỗi.

 

Sống bên Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở đất Cảng, nhưng tâm hồn Tám Bính luôn hướng về một cuộc đời lương thiện, trong trắng. Bính mơ về tương lai tươi đẹp chăng? Không, số phận Bính giờ đây là một số phận an bài, chẳng có phép mầu nào lay chuyển.  Bính nuối tiếc cuộc đời trong sạch khi xưa còn là cô gái quê ngày ngày đua đòi cùng chị em đi các chợ gần, chợ xa, đòn gánh trên vai dẻo dai nhún nhảy nhịp theo những bước chân thoăn thoắt, những cánh tay mềm mại tung tà áo nàng ra trước gió. Giờ đây, Bính chỉ ước mong được sống trong một gia đình lương thiện.  “Một tia hy vọng bỗng chiếu vào tâm trí Bính như làn chớp vụt xé vùng trời mờ tối. Bằng sự lần hồi buôn bán, tần tảo ở các chợ xa, rồi đây Bính sẽ nuôi được đứa con sắp đẻ, sẽ nuôi năm để năm khỏi làm điều gian ác, dần dà Bính trở về quê chuộc đưa con đầu lòng đày ải kia và giúp đỡ cha mẹ gầy dựng cho hai em.”

 

Trong tầng lớp lưu manh, cặn bã của xã hội đen, Nguyên Hồng đã khám phá, đã nâng niu từng tia sáng nhân đạo. Phần lương tâm còn lại dưới đáy sâu tâm hồn, đâu đó, vụt loé lên. Cứ trông bác ta giơ đứa con cao quá đầu, rồi ôm ghì nó vào ngực, rồi hôn hít cổ nó, rồi cắn véo và mắng yêu nó, thì Bính thấy trên đời chỉ có mình hai mẹ con bác ta. Giờ Bính cũng chỉ ao ước được như bác gái thôi, và trên đời này cũng chỉ cái hạnh phúc ấy là có thể xoá tan hẳn những kỉ niệm tàn bạo mà “tham” chung, thằng trẻ tuổi, con mụ đàn bà đanh đá, sở Cấm, nhà Lục xì, mụ “Tài-sế-cấu” gây ra.

 

Được ôm ấp nâng niu, chăm sóc đứa con mà mình đứt ruột đẻ ra, đối với Bính là một khát vọng, một ước mơ to lớn lắm khó lòng  thành hiện thực. Để rồi Bính thở hơi dài từ những lo sợ ngổn ngang, nghịch lý: “ Lần này ta đẻ rồi có được ôm con nuôi không?”. Đâu đó trong chuỗi ngày cực nhục của một cô gái điếm, một cô gái giang hồ, cắn loé lên những ý nghĩa lương thiện mà những người tự cho mình lương thiện, cao sang lúc bấy giờ khó lòng mà có được. “ Mà ta sung sướng để làm gì? Con cái chả có mà cũng chẳng bao giờ có được…Vả lại biết bao người khổ sở vì ta vậy ta cũng phải khổ sở mới cân chứ?”. “ Bính không thể nương nhờ tụi bạn chồng được, tiền của chúng, Bính ghê sợ như lưỡi gươm sắc vấy máu, Bính không dám nhìn, không bao giờ dám cầm.”

Tác phẩm của Nguyên Hồng cho ta thấy quá trình bần cùng hoá, lưu manh hoá của những người dân nghèo thành thị. Nhưng xu hướng chính, cái lương thiện của họ, theo nhà văn vẫn là niềm khao khát tột bậc, muốn chạm tay vào ánh sáng, muốn một lần đứng dậy từ bãi bùn nhơ nhuốc. Vấn đề trong hầu hết tất cả các tác phẩm của Nguyên Hồng trước cách mạng là những con người quằn quại trong  đau khổ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời, vẫn muốn “ngoi lên ánh sáng như những mầm cây xanh”.

 

Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm của Nguyên Hồng không kêu gọi, hô hào những thái độ phẫn nộ, không muốn lên án bọn địa chủ tư sản, quan lại, vạch mặt trái những chính sách mỵ dân giả dối nhưng người đọc đã cảm nhận hết những gì nhà văn đã muốn lột tả. Đó là  một thời ngập chìm trong lọc lừa giả dối, những thủ đoạn đàn áp vô nhân đạo của bè lũ thống trị, chính là chế độ thực dân phong kiến.

 

Nguyên Hồng, một cây bút nhân hậu, luôn  hướng đến cái cao đẹp, trong sáng, niềm tin yêu tha thiết vào lẽ sống. Tất nhiên khi cần, ngòi bút Nguyên Hồng vẫn làm việc tố cáo, đập tan những áp bức, bất công nhưng chủ yếu là một bàn tay xây dựng và ca ngợi con người.

 

Xã hội hiện nay dù còn lắm điều bất công, bức xúc bởi những sự lừa đảo, mất an toàn an ninh trật tự  nhưng vẫn còn nhiều lắm tình yêu giữa những con người. Bính, Năm Sài Gòn,  nhiều người khác nữa, họ sống lừa bịp, chém giết một cách say sưa, rồ dại rồi cuối cùng tàn lụi đi cùng những tội ác gây ra.

 

  “ Thế là hết”.

 

Bỉ vỏ khép lại trang cuối, đóng lại những tâm hồn luôn khát khao hướng thiện và mở ra trong ta những tia nắng sáng của bình minh hy vọng vào sự đổi mới.

KIM HUỲNH

(Lớp 12A12- Trường THPT Trần Khai Nguyên)

Các Bài viết khác