NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NHỚ HỮU MAI – NGÒI BÚT SUNG SỨC VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG

( 03-06-2015 - 03:47 PM ) - Lượt xem: 812

Nhà văn Hữu Mai chỉ chuyên viết về mảng chiến tranh, đúng hơn là chiến tranh cách mạng – tức hoạt động chiến đấu, vũ trang của nhân dân, chiến sĩ. Nếu chắp nối lại, ta sẽ có những diễn biến lịch sử liên tục trước và sau 1945 – với mảng ghi chép hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các trận chiến oanh liệt, tiêu biểu nhất thời chống Pháp và chống Mỹ - kể cả mặt trận bí mật không tiếng súng – những trận đánh của điệp viên, tình báo.

Nhập ngũ từ 1946, từng làm chủ bút báo Quân tiên phong, Hữu Mai thuộc trang lứa những nhà văn quân đội trưởng thành từ thời kháng chiến chống Pháp – Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,…

Khác với Nguyễn Đình Thi còn làm thơ, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu còn viết về mảng dân sự, nhà văn Hữu Mai chỉ  chuyên viết về mảng chiến tranh, đúng hơn là chiến tranh cách mạng – tức hoạt động chiến đấu, vũ trang của nhân dân, chiến sĩ. Nếu chắp nối lại, ta sẽ có những diễn biến lịch sử liên tục trước và sau 1945 – với mảng ghi chép hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các trận chiến oanh liệt, tiêu biểu nhất thời chống Pháp và chống Mỹ - kể cả mặt trận bí mật không tiếng súng – những trận đánh của điệp viên, tình báo.

Giải thưởng Nhà nước về Văn học của Hữu Mai rất tiêu biểu cho thành tựu sáng tác của nhà văn quân đội: Cao điểm cuối cùng (tiểu thuyết – 1960), Vùng trời (tiểu thuyết 3 tập – 1971, 1975, 1981) và Ông cố vấn (tiểu thuyết 3 tập – 1988, 1989).

HỮU MAI – NHÀ VĂN QUÂN ĐỘI QUẢ CẢM, TÀI NĂNG

Các nhà văn quân đội là những người cầm bút khoác áo lính. Trước hết, họ phải bộc lộ tư cách chiến sĩ, là người cầm súng trực tiếp trong nhiều trường hợp. Cùng lớp nhà văn quân đội, Hữu Mai là người cầm bút xông xáo nơi thực địa mặt trận, giáp mặt và chiến đấu trên chiến trường. Những trang viết  Cao điểm cuối cùng thể hiện rõ  sự lăn lộn thực tế chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Hữu Mai gắn bó trực tiếp với chiến sĩ làm nhiệm vụ của phóng viên mặt trận, ghi chép, viết phóng sự, ký sự chiến đấu.

Trần Dần, Nguyễn Đình Thi, Hữu Mai là những nhà văn thực sự sống và chiến đấu cùng đồng đội. Trong đó, điều quan trọng hơn cả là nhà văn không chỉ dấn thân mà qua đó, họ còn phát hiện ra những khuôn mặt, cốt cách tinh thần đích thực của những con người chiến đấu. Những sự vật, sự kiện do đó được mô tả chân thực và khách quan. Như chiến thắng và tổn thất hy sinh, mất mát của cả hai phía ta và địch. Hữu Mai cố gắng đi vào chiến trường với tư cách người ghi chép lịch sử chiến trận là như vậy. Nhà văn đã tập trung vào những thời điểm, thời đoạn gay cấn, quyết liệt nhất, để qua đó khám phá ra tính cách anh hùng thực sự của người cầm súng.

Sau Cao điểm cuối cùng, Hữu Mai cho xuất bản hai tập truyện ngắn Đồng đội (1962) và Phía trước là mặt trận (1966) và tập ký sự Dải đất hẹp (1968) viết về chiến trường miền Trung. Tiếp theo là tập Trận đánh cuối cùng (Ký sự – 1977). Các sáng tác văn xuôi như kết quả của một chặng đường đầu bám sát thực tế quân đội trong hoạt động rèn luyện, chiến đấu quả cảm.

Thâm nhập hoạt động chiến đấu của bộ đội Phòng không – Không quân, binh chủng quân sự hiện đại trong thời gian nhiều năm với bao vất vả gian lao và dũng khí, nhà văn đã liên tục cho ra đời các tập của bộ tiểu thuyết quy mô Vùng trời: Tập 1 (1971), tập 2 (1974) và tập 3 (1980).

Những năm đã lớn tuổi, sau tiểu thuyết Đất nước (1984), Hữu Mai chuyển sang một ngã rẽ, viết truyện tình báo  Ông cố vấn : hồ sơ một điệp viên (Quân đội nhân dân – 1987) do một duyên may với Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ. Đây cũng là bộ tiểu thuyết được viết liên tục 3 tập trong mấy  năm (1987, 1988, 1989).

Sau đó, nhà văn còn viết kịch bản chuyển thể và tham gia dựng các bộ phim chiến đấu như Cao điểm cuối cùng, nhất là  Ông cố vấn với rất nhiều vất vả dàn dựng và thiếu thốn tài chính.

Hữu Mai dành trọn cuộc đời quân nhân để viết về chiến tranh cách mạng. Ngòai sáng tác, còn là những ghi chép giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp về các hồi ức hoạt động cách mạng và chiến tranh.

Đời viết trải dài với sự mẫn cán của một chiến sĩ cầm bút – cầm súng vững vàng, quả cảm. Hữu Mai còn chứng tỏ là một cây viết tài năng trên nhiều phương diện.

Nhìn đại thể, nhà văn xông xáo trên hầu hết các thể loại văn xuôi – từ ghi chép, phóng sự, ký sự đến truyện ngắn, truyện dài.

Rất nhiều tư liệu phong phú, bề bộn của cuộc sống đã thu gom,  chắt lọc và  biểu hiện bằng những cách viết đa dạng. Từ ghi chép chân thực tuyệt đối đến xen kẽ tưởng tượng, hư cấu, điển hình hoá . Hữu Mai nổi bật trong nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết với quy mô khá bề thế. Tiểu thuyết nhiều tập là một biểu hiện rõ nét của tính chất hiện đại.

Đặc biệt, Hữu Mai là người có thành tựu trong việc góp sức khai mở và phát triển loại truyện tình báo. Mảng sáng tác này có sự tiếp nối của loại truyện trinh thám từ trước 1945 với Phạm Cao Củng, Thế Lữ, nhưng mang nội dung biến hóa và màu sắc chính trị mới đã trở thành một đặc sản mới: truyện tình báo, gián điệp trong chiến tranh cách mạng. Hữu Mai có vinh dự được là thành viên của Hiệp hội Quốc tế những nhà văn viết truyện trinh thám (AIEP).

Truyện tình báo là một trong ba thể tài của thể loại trinh thám – truyện tình báo, truyện phản gián, truyện vụ án hình sự. Dĩ nhiên, Hữu Mai có thuận lợi là khai thác trực tiếp được từ nhân vật nguyên mẫu – Vũ Ngọc Nhạ – người có ba đời cố vấn cho Tổng thống, và nhiều tài liệu mật quân sự được phép công bố. Tuy nhiên, cái khó là phải tỉnh táo lựa chọn, sắp xếp tổ chức tài liệu và khó nhất là điển hình hóa của nghệ thuật tiểu thuyết. Điều đó đòi hỏi tài năng của nhà văn. Hơn nữa, khi chuyển thể thành phim lại đòi hỏi một biệt tài khác. Tô Hoài, Nguyễn Quang Sáng là những nhà văn có tài chuyển thể thành phim, kịch từ  chính tác phẩm truyện của bản thân. Hữu Mai cũng thể hiện tài năng chuyển thể truyện thành phim với kỹ thuật điện ảnh: từ dàn cảnh tạo những đoạn dựng (montage) đến ngôn ngữ điện ảnh. Rất tiếc, bộ phim truyền hình Ông cố vấn mới đi được nửa đoạn đường (10/20 tập), chưa có điều kiện bộc lộ đầy đủ tài năng của nhà dựng phim Hữu Mai.

Mảng ghi những hồi ức của Võ Nguyên Giáp lại đòi hỏi một biệt tài khác. Đó là khả năng hóa thân – hóa thân vào sự kiện thời cuộc và nhất là hóa thân vào chủ thể sự việc trong hiện tượng - ở đây là nhân vật Đại tướng. Từ đó, văn chương ghi chép được hồn cốt đích thực của nhân vật và sự kiện là kết quả của sự nhập thân, hóa thân kỳ tài đó của người viết . Nhà văn không chỉ ghi chép mà chính là thể hiện theo quan niệm đầy sáng tạo.

Hữu Mai có một cái duyên rất đặc biệt với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đó là duyên về văn chương và tâm hồn. Ở góc độ nào đó – thân tình và bình đẳng, có thể nói là hai người bạn tri kỷ: họ thường giao lưu thân tình, thẳng thắn, thân mật với nhau, dù cấp bậc có khoảng cách: Đại tướng và Đại tá.

CHÂN TÀI  NHÀ VĂN QUA CÁC “ CAO ĐIỂM”

Hữu Mai là nhà văn viết rất khỏe, để lại hơn 60 tác phẩm – một di sản văn xuôi khá đồ sộ. Ông cũng đã nhận nhiều giải thưởng các loại, cao nhất là Giải thưởng Nhà nước (2001). Tất nhiên, số lượng phải đi kèm chất lượng, trong đó chất lượng thường được coi trọng hơn. Giải thưởng chưa phải là tất cả, dù sao ở trường hợp Hữu Mai, đó cũng là một giải thưởng xứng đáng thể hiện rõ gương mặt đích thực của nhà văn.

Hữu Mai được mệnh danh là Nhà tiểu thuyết tư liệu. Ở đây có hai nghĩa chính: Một là, nhà tiểu thuyết rất giàu tư liệu – tác phẩm ngồn ngộn tư liệu. Hai là, người viết văn xuôi biết tiểu thuyết hoá tư liệu: người thật, việc thật được biến hóa qua tiểu thuyết, được nghệ thuật hóa qua phương pháp điển hình.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh thêm ý nghĩa này: tiểu thuyết tư liệu lịch sử. Nói cách khác, nhà văn xứng đáng là người thư ký thời đại theo đúng ý nghĩa sâu sắc và cao đẹp. Hữu Mai hiểu biết sâu sắc về Điện Biên Phủ khi viết tiểu thuyết và cả những hồi ký của Võ Nguyên Giáp: Đường tới Điện Biên (1999), Điện Biên Phủ - điểm hẹn lịch sử (2000). Cũng như viết Vùng trời  và viết Hà Nội 12 ngày đêm.

Hữu Mai nổi lên như người chép sử bằng văn chương. Đó là ý kiến của một sử gia nước ngoài,  đánh giá rất cao  về phương diện này. Ông ca ngợi Hữu Mai là người cung cấp nhiều tư liệu lịch sử bằng văn chương, qua văn chương. Nhà văn miêu tả chiến tranh chân thực về cả hai phía, hai chiến tuyến, có cả thắng lợi và tổn thất. Nói cách khác, đó là ngòi bút tuân thủ nghiêm ngặt bút pháp chân thật lịch sử.  Hữu Mai tôn trọng lịch sử tới mức tối đa. Đại tướng Hoàng Văn Thái đánh giá Cao điểm cuối cùng “mang giá trị một sử liệu”. Còn nhà sử học Mỹ Bernard Fall lại trích dẫn nhiều trang Cao điểm cuối cùng như minh chứng cho lịch sử. Đây là ký giả được mệnh danh người viết “chỉ có sự thật”trong cuốn ký sự lịch sử nổi tiếng Cuộc bao vây Điện Biên Phủ(The siege of DienBien Phu).

Kết cấu phong phú với nhiều dạng, chủ yếu là motip chiến dịch. Không gian chiến trường nổi bật với thời gian sự kiện – lịch sử (Cao điểm cuối cùng). Trong khi đó, thời gian thử thách – hy vọng lại hiện rõ ở Vùng trời:. “Niềm vui và hạnh phúc chúng ta là ở chỗ,chúng ta hiểu rằng ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay”

Cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ mang nhiều kịch tính lịch sử. Đó là cuộc đối đầu của hai thế lực hết sức chênh lệch về lực lượng quân sự: Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là người dân mặc áo lính, ban đầu với vũ khí thô sơ, rất ít ỏi, phải lớn mạnh vượt bậc, thần tốc để trở nên chính quy, hiện đại chống lại các đội quân thực dân, đế quốc xâm lược, viễn chinh siêu cường với vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân, hiện đại nhất trong thế kỷ.

  Các chiến dịch lớn nhỏ là những thời đoạn căng thẳng, quyết liệt nhất của cuộc đọ sức. Chiến dịch Điện Biên Phủ “56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non” (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu) là một màn kịch hết sức ác liệt của chiến trường. Đánh chiếm các cứ điểm, đặc biệt là đồi A1 là những cuộc quyết chiến phải trả bằng máu của cả hai bên. Nhà văn đã tập trung bút lực để miêu tả chiến trận. Không gian tập trung vào mục tiêu – khu đồi căn cứ. Thời gian cô đặc, được tính theo hàng ngày, hàng giờ, hàng phút. Hành động tiến công rất vũ bão.

Việc miêu tả một hiện thực dữ dội ở Cao điểm cuối cùng rất hiện đại mà khéo léo sử dụng một bút pháp có tính chất cổ điển: luật 3 duy nhất của kịch cổ điển – duy nhất thời gian, không gian và hành động – đánh lấn từng thước đất chiến hào và vây ép thắt chặt. Tiệm tiến – bộc phát. Dồn nén – bùng nổ. Phát súng lệnh.Kèn thúc.Ào ạt xung phong xốc tới…

Nét nổi bật nhất của Hữu Mai, cũng như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu là lối viết tiểu thuyết hiện đại, trong đó có sự tương tác thể loại, sự kết hợp giữa ghi chép và sáng tạo, ký sự và tiểu thuyết, truyện và kịch phim. Nhìn rộng hơn, là sự đa dạng hóa thể loại.

Thời sự và thời đại, thời sự mà thời đại trong biểu  hiện sự kiện chính là thể hiện tầm nhìn cao và xa của nhà văn. Cao điểm cuối cùng, Vùng trời không chỉ phản ánh như một trình độ chiến thuật mà là tầm  chiến lược trong quân sự hiện đại. Hơn thế nữa, đó còn là một đường lối của khoa học – nghệ thuật quân sự sáng tạo của chiến tranh nhân dân.

Vai trò trực tiếp của người lính là dựa trên tư thế lớn lao của nhân dân. Truyện về chiến tranh cách mạng có cái nền là sức mạnh nhân dân quần chúng. Âm hưởng của Cải cách ruộng đất còn hiện rõ trong Cao điểm cuối cùng qua khí thế mạnh mẽ của những người nông dân. Đó là những gương mặt của  đông đảo  đội ngũ cầm súng ở mặt trận Điện Biên: Khỏe, Quân, Cương, Chư, Ngọ,…

Hữu Mai là người vượt trội trong đội ngũ nhà văn quân đội bởi sự kết hợp hai phương diện quốc phòng và an ninh. Mặt trận âm vang tiếng súng và mặt trận thầm lặng như một sự phối hợp tuyệt đẹp trong cuộc chiến. Những chiến dịch quân sự lớn mang ý nghĩa thời đoạn, thời cuộc cũng là kết quả hỗ trợ của những nghiên cứu nắm bắt được tài liệu tình báo về bí mật quân sự của địch như sự thể hiện và miêu tả ở Ông cố vấn – hồ sơ một điệp viên.

Chủ đề truyện, ký của Hữu Mai thường mang chiều sâu tư tưởng chính trị và triết lý. Trong sáng tác, nhà văn thường chú trọng thể hiện và phản ánh, đồng thời với phân tích, phán đoán và suy nghiệm.

Tiểu thuyết của Hữu Mai không chỉ phản ánh hiện thực mà còn giải thích, biện luận rõ về nguyên nhân của chiến thắng.

Trước hết là về đường lối chiến tranh và lý tưởng chiến đấu. Chính nghĩa thắng phi nghĩa; lý tưởng độc lập, tự do thắng chủ nghĩa đế quốc xâm lược, bạo tàn.

Việt Nam thắng Pháp, thắng Mỹ đã chứng minh chân lý lịch sử thời đại ấy.

Sức mạnh chiến thắng là sức mạnh tổng hợp, tổng lực của nhân dân ta.

Trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ và Điện Biên Phủ trên không là chiến thắng của ý chí chiến đấu cùng với trí tuệ quân sự.

So sánh tương quan thấy rõ sự chênh lệch lớn: Pháp có vũ khí hiện đại – ưu thế vượt trội về máy bay trong khi ta chỉ có vũ khí hạng nhẹ – pháo binh, súng cối, súng bộ binh,… Quân Pháp được tiếp tế vũ khí, lương thực, nhu yếu phẩm bằng máy bay; quân ta chỉ có cơm nắm, ống nước, bông băng… chuyển vận qua hầm hào lầy lội. Lực lượng Không quân non trẻ của ta phải đối chọi với Không lực khổng lồ Hoa Kỳ, kể cả pháo đài bay B52. Thêm vào đó, gần như có sự thay đổi chiến thuật qua từng trận đánh bom và không chiến. Vậy mà, Không quân Việt Nam đã linh hoạt ứng biến, để rồi MIG hạ gục được B52.

Tóm lại, qua các trận đánh, nổi lên trí tuệ và dũng khí tuyệt vời  Việt Nam. Cuộc đối chọi quyết liệt là đấu lực cùng đấu trí, mà có lúc trí lực phải đi trước hành lực quân sự. Xét cho cùng, đó là trí – dũng kết hòa tuyệt diệu: Vùng trời, cũng như Mặt trận trên cao (Nguyễn Đình Thi) đã thể hiện được tinh thần căn cốt ấy.

Một chủ đề lớn cũng thành công của tiểu thuyết Hữu Mai, cũng như của nhiều tiểu thuyết từ Nguyễn Huy Tưởng (Sống mãi với Thủ đô) đến Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,… là sự thử thách rèn luyện con người qua chiến tranh.

Qua chiến đấu ác liệt, con người bộc lộ rõ nhất nét bản chất, tính cách, yêu thương và căm thù, nhất là cao thượng và hèn kém, anh hùng và đốn mạt, trung thành và phản bội.

Người lính nên người, thành người qua cuộc chiến, tức qua quá trình thử thách  và rèn giũa, như sắt được tôi luyện thành thép qua lửa đỏ và nước lạnh. Con người được cải tạo qua hoàn cảnh và môi trường. Theo quan điểm của Marx, Engels là như vậy: “Con người tạo ra hoàn cảnh, hoàn cảnh cũng tạo ra con người”.

Vinh, Tuấn trong Cao điểm cuối cùng từ nguồn gốc tiểu tư sản thành con người của giai cấp cần lao. Tuấn xin rút khỏi đoàn văn công, sung vào đơn vị chiến đấu để khỏi mang tiếng là “lính giấy”. Mối tình của Quỳnh - phi công và Hảo- nữ kỹ sư thuỷ sản như gắn bó trời và biển trong Vùng trời vẫn lãng mạn, cao đẹp, lý tưởng và họ thực sự được rèn luyện và trưởng thành qua khói lửa.

Quân đội anh hùng. Nhân dân anh hùng. Tác phẩm của Hữu Mai thể hiện chủ nghĩa anh hùng Việt Nam sáng chói trong chiến tranh cách mạng. Trong số đó, có những người được vinh danh nhưng nhiều anh hùng vô danh cũng đã hy sinh trên nhiều trận tuyến  đấu tranh.

Nhân vật phong phú từ ngưới lính đến vị Tổng tư lệnh. Nhân vật chính của các truyện chiến đấu vẫn là nhân vật tập thể (tập thể chiến sĩ trong đơn vị ở Cao điểm cuối cùng và trong Đoàn Không quân Sao vàngVùng trời )nhưng con người đã đa diện, đa sắc hơn qua ngòi bút Hữu Mai. Có nhân vật tính cách, lý tưởng, nhưng ở họ đã có nét đa dạng, đời thường. Có nhân vật người lính anh hùng cũng có hình ảnh hèn nhát  của Tiểu đoàn trưởng Quỳ.

Hữu Mai đã mạnh dạn miêu tả nhân vật chính diện và cả phản diện, có cả ưu lẫn khuyết như tướng De Castries trong Cao điểm cuối cùng. Đó cũng là khuynh hướng miêu tả Xăm trong Hòn Đất (Anh Đức, 1966), Xâng trong Đất Quảng (Nguyễn Trung Thành, 1971) sau này.

Về quy mô tác phẩm, cùng với Trần Dần (Người người lớp lớp), Hữu Mai đã là người thể nghiệm sớm nhất tiểu thuyết dài hơi – nhiều tập dung lượng lớn qua các tác phẩm tiêu biểu nhất: Vùng trời (3 tập), Ông cố vấn:hồ sơ một điệp viên(3tập sau gom lại 2 tập-2000).Ông cố vấn - kịch phim truyền hình chuyển thể từ tiểu thuyết  (20 tập)

Phong thái sử thi thể hiện từ kết cấu, tạo không gian – thời gian nghệ thuật.Tiểu thuyết  sử thi Cao điểm cuối cùng  được miêu tả theo nguyên tắc  “ba duy nhất” tương tự trong Illiade có thể được coi như  một Illiade hiện đại của Việt Nam.Ngôn ngữ được thể hiện như một nét riêng khá rõ trong khuynh hướng sử thi một thời.

***

Hơn 80 tuổi đời, trên  60 năm cầm bút, Hữu Mai thật xứng đáng là một nhà văn chân chính: lao động kiên trì, mẫn cán không mệt mỏi. Hơn thế, ông còn thuộc thế hệ đầu tiên của những nhà khai sáng văn chương hiện đại.Là Sáng lập viên tạp chí Văn nghệ Quân đội (1957), ông cũng thuộc lớp đầu tiên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Hữu Mai từng tâm sự với bạn văn: “Nghề văn là một nghề đặc biệt, không có vốn sống thì không viết được. Vốn sống là tiên quyết rồi mới đến lao động sáng tạo…”. Bản thân Hữu Mai đã từng lăn lộn với thực tế quân sự để viết về bộ đội, viết về chiến tranh: Từ các đơn vị tiền tiêu, từ chiến trường Quảng Trị ác liệt đến chiến dịch Điện Biên Phủ - nơi diễn ra trận quyết chiến về chiến lược quân sự.

Hữu Mai là người có may mắn, gần gũi làm việc và ghi chép, viết giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ vốn sống thực tế chiến trận phong phú cùng những tài liệu đồ sộ về chiến tranh, Hữu Mai là người hiện thực hóa được những tư tưởng chiến lược và cả chiến thuật quân sự. Trong những người cùng thời, ông là người chuyển tải được tinh thần lịch sử một cách đặc sắc nhất qua thực tế sáng tác. Đó là những vấn đề mà các thế hệ hôm nay còn biết ơn nhà văn qua sáng tạo nghệ thuật: những người anh hùng cách mạng – từ người lính chiến đấu, đội viên đến vị tướng Tổng Tư lệnh, số phận đổi thay của con người và tầm cao dân tộc trong thời đại.

Hữu Mai là nhà văn có nhiều đặc điểm: lớp nhà viết tiểu thuyết kháng chiến đầu tiên với quy mô và phong thái sử thi. Là nhà văn tư liệu hàng đầu (rõ nhất  là viết Ông cố vấn:hồ sơ một điệp viên  chỉ qua hồ sơ, tư liệu mà không hề gặp nhau) và nhà văn chuyển thể truyện phim năng động tài hoa bậc nhất.

Đời văn có thăng trầm  là điều dễ hiểu. Đôi khi suýt gặp “tai nạn nghề nghiệp” do tính mạnh mẽ, bạo dạn nhưng chưa đúng mức và hợp thời khi viết về sai lầm Cải cách ruộng đất và trúng thương  “viên đạn bọc đường” (Những ngày bão táp, Mất hết). Những chùm  tác phẩm của nhà văn thật xum xuê nhưng không tránh khỏi có trái non lép cũng là chuyện thường tình.

Tuy nhiên, đã có lúc dư luận dường như chóng lãng quên nhà văn và một số người xuất sắc khác. Như một thi sĩ Cuba từng viết về Che Guevara: “Người đã khuất không còn cần chỗ nữa”. Nhiệm vụ của các thế hệ độc giả chính là phải luôn tưởng nhớ, biết ơn nhà văn xứng đáng có chỗ đứng trong lịch sử văn học.

Nên chăng, các Hội nghề nghiệp văn nghệ tăng cường cho các Hội thảo tôn vinh xứng đáng một “thế hệ vàng” nhà văn giai đoạn 1945 – 1975. Trong đó có lớp nhà văn quân đội như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi, Hữu Mai,… còn gần gũi hôm nay và là những ngọn cờ có sức vẫy gọi mạnh mẽ các thế hệ cầm bút vì tương lai.

                   Ngày 30/4/2015

 PGS.TS  ĐOÀN TRỌNG HUY

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phạm Ngọc Hiền (2012)Tiểu thuyết Việt Nam 1945-1975 (2)-Văn học.

[2] Nhiều tác giả (2002,2010)-Lịch sử văn học Việt Nam (tập III)-Đại học Sưphạm,Hà Nội

Các Bài viết khác