NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NHÌN LẠI “LẦM THAN”

( 27-07-2017 - 09:29 PM ) - Lượt xem: 61

Điều lưu giữ trong lòng những ai đã đọc Lầm than, trước hết đây là bức tranh chân thực về số phận bần cùng của người lao động. Tác giả của Lầm Than đã chứng minh được quá trình vô sản hoá người nông dân do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp dẫn tới họ bị bọn địa chủ cướp đoạt nhà cửa ruộng vườn nhiều nơi phải bán rẻ ruộng nương để làm đồn điền cho chủ, thêm vào đó là nạn sưu cao thuế nặng phu phen tạp dịch cùng với thiên tai đe doạ hàng năm

Gần bảy thập niên qua trong tâm trí nhiều thế hệ bạn đọc còn in đậm dấu ấn về bức tranh thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt được vẽ lên từ trong bóng đêm mịt mùng của cuộc sống lầm than nơi hầm mỏ của nghệ sĩ Lan Khai. Mặc dù giai cấp công nhân Việt nam ra đời cùng với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân pháp trên đất nước ta từ những năm đầu thế kỉ xx, nhưng hình bóng của họ mới chỉ thoáng qua trong những lời ca ai oán của người phu đồn điền và thợ mỏ:

                           “Cao su đi dễ khó về

                   Khi đi trai tráng khi về bủng beo

     Hay             “Thành ai đắp lầu ai xây

                  Tàu kia ai đóng than đây ai sàng”…

                             (Thơ ca yêu nước và cách mạng)

Cho đến khi Lầm than chính thức ra đời vào những năm ba mươi, chân dung người thợ mới thực sự hiện lên chân thực sống động dưới ngòi bút của Lan Khai. Đó là một sự kiện quan trọng trong đời sống tinh thần xã hội, Lầm Than lập tức nhận được sự chào đón nồng nhiệt của các nhà văn nhà báo, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng như Trần Huy Liệu, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan… và đông đảo độc giả trong cả nước.

Trong lời tựa cho cuốn Lầm Than (1938), NXB Tân Dân đã đánh giá cao về thành tựu của Lan Khai: “Lầm Than là một tấn kịch não nùng trong các tấn kịch não nùng, hằng diễn ra trong bóng tối mịt mù của hầm mỏ”. Đó là bức tranh về cuộc sống bần cùng của người thợ dưới chế độ thực dân áp bức bóc lột. Cũng trong Lời nói đầu (12/6/1938) cho cuốn sách này ông Trần Huy Liệu, đã đánh giá cao ý nghĩa giác ngộ của Lầm Than đối với người lao động: “Các bạn đọc sách này khi đến chỗ Dương giảng giải cho Tép nghe cái nguyên nhân gây nên kẻ giầu người nghèo ở xã hội này, các bạn sẽ không còn tin vào số phận và biết cách giải quyết số phận ở trong chỗ tìm ra cái nguyên nhân”. Đồng thời ông cũng biểu dương thái độ tố cáo giai cấp bóc lột của nhà văn: “Các bạn đọc xong quyển truyện này, nếu thấy mình đầy lòng căm tức đối với bọn sống một cách sung sướng bằng mồ hôi nước mắt của kẻ khác và cũng đầy lòng đau xót đối với những người sống một cách khổ nhục, đem mồ hôi nước mắt nuôi sống kẻ khác thì tức là người viết ra nó đã đạt được ý nguyện của mình rồi”. Khi Lầm than chính thức ra mắt bạn đọc, trong bài “Lầm Than- một tác phẩm đầu tiên của nền văn học tả thực xã hội ở nước ta” (báo Dân Tiến số ra ngày 27/10/1938), Hải Triều đã đánh giá cao bước đột phá từ đề tài hiện thực đến tư tưởng và phương pháp sáng tác mới của Lan Khai. Theo ông Lầm Than đã đáp ứng nhu cầu của thời đại: “Một tác phẩm đã đem lại cho tôi vài ý nghĩ Về văn chương giữa một bầu không khí phảng phất mùi thuốc súng”. Một mặt phê phán những điểm yếu đuối uỷ mị của văn chương lãng mạn, mặt khác ông nhấn mạnh tới lương tâm trách nhiệm của người cầm bút đương thời và nhận định: “Đọc xong quyển Lầm Than tôi thấy tác giả của nó mạnh dạn tiến lên con đường sáng sủa mà đầy cả chông gai, con đường bênh vực cho giai cấp cần lao, con đường của chủ nghĩa xã hội. Điều đó là một điều đáng ghi nhớ trong văn học của xứ này”; là tác phẩm khám phá đề tài mới và phản ánh chân thực cuộc sống: “Với một ngòi bút sáng suốt, giản dị, tác giả Lầm than đã miêu tả tất cả cuộc đời khốn khổ, cay chua ghê gớm, của hạng người mà sự sống đã hầu hoá ra một đàn súc vật, chịu đựng tất cả những sự bóc lột đê hèn của giai cấp sản chủ một cách tàn nhẫn vô cùng.” Không những vậy nhà văn còn tìm thấy tiềm năng phản kháng của giai cấp công nhân: “Những tinh thần ấy, những cảm tình đã chất chứa lâu ngày ấy, chỉ thừa một cơ hội là phát tiết ra ngoài một cách mãnh liệt vô cùng.” Theo ông, Lan Khai là nhà văn hiểu tự do sáng tác và sáng tác hoàn toàn tự do: “Tác giả của nó từ đầu đến cuối tự do viết một thôi, theo sự quan sát và cảm tình của mình, không theo một cái định lệ nào cả, không bó buộc ở trong một khuôn khổ nào cả.” Đây cũng là nhà văn mở đường cho một phương pháp sáng tác mới: “Lầm Than như thế là đã vạch một khuynh hướng trong văn học giới, cái khuynh hướng tả thực xã hội chủ nghĩa (Réalisme Sosialiste) vậy.” Hải Triều đồng thời cũng nêu tấm gương sáng tạo của Lan Khai: “Tả thực xã hội chủ nghĩa là một trào lưu văn nghệ của xã hội sau này. Hiện tại Lan Khai đã phất lá cờ tiên phong trên mảnh đất này. Tôi mong rằng các bạn làng văn sẽ tiếp chân bước tới”. Đương thời Lầm Than được các nhà báo, nhà văn cộng sản đánh giá cao về nội dung và hình thức, tiên tiến về phương pháp sáng tác. Tiếp đó, trong bộ sách “Nhà văn hiện đại” (Tập IV, quyển thượng, 1942) với cách nhìn khách quan của một nhà nghiên cứu, Vũ Ngọc Phan cũng đánh giá cao thành tựu của tiểu thuyết Lầm Than ở nhiều bình diện. Về phương diện đề tài “Lầm Than của Lan Khai là cuộc đời đau khổ và thê thảm của phu mỏ, một hạng lao động đã cạn rất nhiều mực của các nhà văn trong thế giới”. Về khả năng phản ánh chân thực: “Chỉ đọc lần lượt những việc nặng nhọc của phu mỏ trong quyển Lầm Than người ta sẽ thấy đời họ tóm tắt cả ở câu này “vào chỗ chết để giữ lấy sự sống”. Cái ý tưởng ấy đã diễn ra ở mọi việc một cách tự nhiên vô cùng”. Theo ông: “ Lan Khai là một nhà văn đã biết ghi những cái đáng ghi ở trên đời và đã hiểu được tâm lý người lao động”; đây đồng thời cũng là nhà văn biết phát huy tính chân thực nghệ thuật một cách năng động : “ Lầm Than của Lan Khai tuy là một tập tiểu thuyết, nhưng mọi việc đều thiết thực không khác gì trong một thiên phóng sự”. Năm 1965 trong công trình “Việt Nam văn học sử giản ước Tân Biên” (tập 3 xuất bản tại Sài Gòn), mặc dù trong vùng chiếm đóng của Mỹ nguỵ, nhưng tác giả Phạm Thế Ngũ vẫn tán đồng về cơ bản những đánh giá của nhà văn Mác xít Hải Triều 27 năm về trước về giá trị của tác phẩm Lầm Than. Từ năm 1965 trở đi lần lượt xuất hiện một số cuốn sách như: “Mấy vấn đề lý luận và phê bình văn học” (NXB Văn Học, 1965) của tác giả Hồng Chương; “ Mấy vấn đề về văn học hiện thực phê phán Việt Nam” (NXB Khoa học xã hội, 1968) của tác giả Nguyễn  Đức Đàn; cuốn “ Lược truyện các tác gia Việt Nam” (tập 2, NXB khoa học xã hội 1972) của nhiều tác giả do Trần Văn Giáp chủ biên; cuốn “Chuyện Làng Văn – Việt Nam và thế giới” (NXB giáo dục, 1987) của nhiều tác giả, cùng đề cập tới tác phẩm Lầm Than của Lan Khai. Các cuốn sách trên đều gần gũi nhau về quan điểm cho: Tiểu thuyết Lầm Than ra đời là kết quả của sự hình thành “mặt trận dân chủ” và đây là “hiện tượng nhất thời” của cây bút Lan Khai. Tiếp đến tập “Từ điển văn học Việt Nam” (tập1, NXB khoa học xã hội, 1988) và cuốn “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (NXB khoa học xã hội và nhân văn, 1992), đã nêu vắn tắt về tên tuổi của Lan Khai đối với nền văn học Việt Nam hiện đại. Năm 2001 trong cuốn “Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến 1945” (NXB Văn Học), tác giả Phan Diễm Phương đã giới thiệu lại vắn tắt tác phẩm Lầm Than và cũng cho rằng tác phẩm ra đời do có “Phong trào mặt trận dân chủ”đương thời. Cùng năm này, trong cuốn sách “Chân dung văn học” (Nhà xuất bản Hội nhà văn), tác giả Hoài Anh đã cho thấy “Hải Triều đã không lầm” (tr710) khi đánh giá tác phẩm Lầm Than. Như vậy hơn sáu thập niên qua trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, cách nhìn nhận về Lầm Than vẫn chưa nhất quán. Phải chăng chính hoàn cảnh lịch sử và tự thân văn bản nghệ thuật, cùng nhân tố nhà văn với các nguồn tài liệu liên quan sẽ giúp chúng ta có cách nhìn nhận khách quan với mỗi hiện văn học.

 Đi từ những dòng đời của nhà văn cho thấy, Lan Khai sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, vốn là một học sinh bị buộc thôi học ở Trường Bưởi (1926) do “dính lứu vào quốc sự” vì tham gia vào biểu tình và bãi khoá của học sinh, sinh viên đòi tự do dân chủ, rồi lại là một thành viên trong Đảng  Quốc Dân của Nguyễn Thái Học (từ 11/1928)và bị bắt giam ở Hoả Lò Hà Nội, lại có quãng đời 20 năm sống cùng gia đình trong khu mỏ than Tuyên Quang, nơi thực dân Pháp sớm tiến hành cuộc khai thác tài nguyên khoáng sản từ 1905. Tư tưởng bài trừ thực dân phong kiến không chỉ là những hoạt động chính trị nhất thời mà còn xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của ông như Tài Hoa...Cái luỵ ngàn đời (báo Đông Phương ngày 5/12/1934); cuốn bút ký Lãng Mạn“8023”(1934) đăng trên báo LOA năm 1935, những bài chính luận trên Tạp Chí Tao Đàn (1939) và nhiều trang tiểu thuyết khác...Ở tuổi 23, khi quyết định từ giã cái y nghiệp của tổ tiên, là ước vọng của mẹ cha từ trước, để “làm một nhà tiểu thuyết”, Lan Khai đã nói lên tâm nguyện của mình trước khi khai bút thiên tiểu thuyết Lầm Than:...“Thuốc đắng giã tật, lẽ phải muôn đời của tông nghiệp, nhưng không có vị thuốc nào chữa khỏi nỗi đau nô lệ, hoạ chăng chỉ có cây bút mới thức tỉnh các linh hồn nơi địa ngục trần gian này!”1[1]. Điều đó đã nói lên ý thức của một cây bút sớm hướng tới nỗi đau nô lệ nỗi nhục lầm than của đồng bào. Tại ngôi nhà lá gồi xóm gốc Nhội khu mỏ than Xuân Hoà bên bờ Sông Lô từng trang sách đã ra đời, cho thấy nhà văn này đã gắn mình với cuộc đời những người phu mỏ. Lầm than với cái tên ban đầu là Địa Ngục đã nói lên rất nhiều những suy tư sâu lắng của một nhà văn về số phận con người. Tác phẩm được hình thành trong thời gian nhà văn vừa dạy học vừa viết văn ở tỉnh lị Tuyên Quang từ 1929 đến 1933 trước khi ông dời gia đình riêng từ Tuyên Quang về Hà Nội sống theo nghiệp văn chương.

Điều lưu giữ trong lòng những ai đã đọc Lầm than, trước hết đây là bức tranh chân thực về số phận bần cùng của người lao động. Tác giả của Lầm Than đã chứng minh được quá trình vô sản hoá người nông dân do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp dẫn tới họ bị bọn địa chủ cướp đoạt nhà cửa ruộng vườn nhiều nơi phải bán rẻ ruộng nương để làm đồn điền cho chủ, thêm vào đó là nạn sưu cao thuế nặng phu phen tạp dịch cùng với thiên tai đe doạ hàng năm. Nhiều nông dân phải từ bỏ quê hương, tha phương cầu thực tìm tới nơi hầm mỏ, bán sức lao động cho cai thầu và chủ. Họ phải lao động cực nhọc nguy hiểm, cái chết luôn kề bên như nạn sập lò, nạn ngạt khí độc, nạn chết đuối trong hầm hoặc sơ xẩy bị xe goòng đè nát vv… Đó còn chưa kể cảnh tượng chết vì đói rét, bệnh tật và đòn roi của chủ… Cuộc sống của họ “hầu hoá như một đàn súc vật” chui rúc trong những ngôi nhà ổ chuột; sống không có tương lai, bế tắc họ sa vào rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện, mặc cảm với thân phận và có những hành vi thô tục...Đã vậy họ còn bị tê liệt về tinh thần, không dám đấu tranh và tin vào số phận. Đó là những con người “vào chỗ chết để giành lại sự sống”. Đi đôi với chính sách cướp bóc tài nguyên là bộ máy áp bức bóc lột người bản địa của bọn thực dân. Trong hầm mỏ bọn chủ tư bản Pháp dựa vào bọn cai thầu người Việt làm tay sai để trực tiếp mua rẻ nhân công, điều hành sản xuất và đáp ứng mọi dục vọng của chúng. Trong Lầm Than hình tượng chủ Tây là hiện thân của kẻ có quyền lực, ích kỉ, coi rẻ mạng người lao động, là con quỷ dâm dục phá hoại hạnh phúc của con người. Vì tính khát dục của chủ Tây mà dẫn tới cảnh gia đình người thợ phải vợ lìa chồng, con lìa cha, người lương thiện rơi vào cảnh tù đày oan ức. Trong Lầm Than Cai Tứ hiện lên là điển hình một tên tay sai cho bọn tư bản Pháp, là kẻ có bề dày về thủ đoạn bóc lột đồng loại như mộ phu vào lúc lụt lội mất mùa, bớt xén công, giãn công giãn thợ, thêm vào đó là ngón nghề “dắt gái cho Tây” triết lý sống của y là tiền trên tất cả, cho nên y không từ một thủ đoạn nào miễn là kiếm được tiền dù là phải làm hại những người lương thiện. Hãy nghe những lời “đường mật” của Cai Tứ đang “rót’ vào tai anh phu Thuật: ...“Ở đời này không gì bằng đồng tiền...Anh xem như tôi... tha hồ ăn tiêu lại tậu được vô số vườn ruộng ở nhà quê, lấy hai ba vợ...Người ta cứ hễ có tiền thì thối như cứt cũng có đứa lạy, mà nếu đã kiết thì vợ nó còn khinh đấy, chẳng nói ai xa nữa!...Bây giờ tôi không tin sự gì nữa mà chỉ tin độc một đồng tiền. Ông Tây ông ấy bỏ quê hương, sang nước mình để làm gì? Cũng chỉ để kiếm tiền. Mình sống ở đời chỉ nên làm cho ra tiền để bắt trăm nghìn kẻ khác phải cúi đầu chắp tay trước mắt mình, thế là sướng. Cho nên dù có phải vứt bỏ hết tất cả những cái gì yêu quý nhất để được đồng tiền tôi cũng không từ chối. Vì mất cái ấy tôi đã có tiền để mua cái khác. Mà cái khác có lẽ lại còn tốt đẹp hơn...”(ch.15) Trong Lầm Than pháp luật, cảnh sát, quan toà và trại giam, thực chất là bình phong che đậy cho tội ác xấu xa và bỉ ổi của bọn thực dân và lũ tay sai. Cảnh tượng Thuật bị bắt tại nhà riêng và ra hầu toà đã nói lên điều đó: “Cẩm Tây vẻ mặt rất dữ tợn”, “hai người phu lít vồ lấy anh như chộp một con thú dữ”, “quan toà vẻ mặt thản nhiên”rồi ký giấy tống giam người thợ mỏ vv...Từ những bức tranh đen tối ngột ngạt nối tiếp nhau cho thấy Lầm Than là bức tranh khái quát về địa ngục trần gian của người dân nô lệ.

Sự ra đời của “Lầm Than” là một thành tựu lớn của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc chân dung người thợ mỏ hiện lên chân thực sống động. Đó là những con người đủ lứa tuổi: già trẻ, trai gái, mỗi người một tính cách và cảnh ngộ riêng, nhưng đều gặp nhau ở một điểm chung là “vào chỗ chết để giành lại sự sống”. Đó là lão cu Tỵ cả đời vắt kiệt sức cho việc đào than, sống nghèo khổ, bế tắc tàn tạ cho đến lúc chết. Đó là ông già Mẫn, mất hết ruộng vườn phải tha phương cầu thực rồi bán trọn đời mình cho mỏ. Đó là những người thợ lành nghề nhưng cơ cực gắn bó lại với nhau như Nhỡ, Thông, Lộc. Mỗi người một vẻ: Nhỡ thì lầm lũi, ưu tư; Thông có tính khôi hài; Lộc thì hồn nhiên, rắn rỏi; Dương là người từng trải đời, trải nghề, đi từ chốn địa ngục này sang chốn lầm than khác, là người có khả năng phán xét cuộc đời, anh có vai trò như nguồn ánh sáng nơi hầm tối. Anh đã đem đến cho những người thợ mỏ những hiểu biết sơ khai về chủ nghĩa cộng sản, về tự do và hạnh phúc, cũng như nguyên nhân của mọi sự đói nghèo và áp bức, bóc lột, bất công. Song nổi bật trong thế giới nhân vật của Lầm Than là hình tượng đôi thanh niên Thuật và Tép. Thuật là người thợ mỏ xuất thân từ nông dân, cần cù lao động, yêu thương người cùng cảnh, sớm hiểu nỗi khổ đau của con người và không tin vào số mệnh, luôn tin tuởng vào lẽ phải một cách hồn nhiên, thật thà ngay thẳng. Yêu Tép, người phụ nữ bất hạnh, Thuật bỏ qua mọi thành kiến và hủ tục, cùng nhau xây dựng một mái ấm. Anh biết gìn giữ hạnh phúc gia đình, không bị tiền tài cám dỗ, dũng cảm chống lại cái xấu, cái ác: Đánh lại cai thầu và chủ mỏ - một hành động phi thường trong xã hội thuộc địa. Bên cạnh Thuật, hình ảnh Tép – một người phụ nữ có nhan sắc và đời sống nội tâm phong phú xuất thân từ nông dân, cần cù lao động, giàu tinh thần phản kháng và có tấm lòng hiếu thảo. Thương mẹ ốm đi vay tiền chữa bệnh cho mẹ bị cai Tứ nhử vào tròng cho chủ Tây cưỡng hiếp, từ đó Tép bị bao thành kiến bủa vây. Yêu Thuật, cô vượt qua mọi rào cản dư luận và cập bến bờ hạnh phúc, Tép trở thành người vợ rồi được làm mẹ, sống yên vui, đầm ấm bên chồng. Nhưng chủ Tây vẫn không nguôi nỗi khát thèm, dùng Cai Tứ mua chuộc Thuật để biến cô thành thú vui cho hắn; do chống lại bọn mặt người dạ thú, Thuật bị tù đày. Tép đau đớn đang sống trong cô đơn, buồn tủi, tên cáo già Cai Tứ lại tiếp tục giở trò bỉ ổi, Tép đã dũng cảm chống lại y để bảo vệ nhân phẩm của mình. Hãy xem cuộc đụng độ của Tép và Cai Tứ:

Cai Tứ khẩn khoản:

- Thế nào?...Chị thuận chứ? Tôi về nói với ông chủ nhé? Đây, chị hãy cầm tạm chục bạc này mà tiêu.

Tép bỗng hoạt động hẳn lên, dữ dội một cách phi thường.

Chị giật phăng lấy tập giấy bạc và ném vào mặt Cai Tứ.

- Mẹ anh, chị anh, em gái hay vợ nhớn vợ bé anh, anh để làm gì ! Bước ngay đi, đồ chó!...

  Hành động đó ngời lên tiềm năng phản kháng và phẩm giá của người lao động trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Sau này chúng ta có dịp gặp lại tinh thần đó ở chị Dậu trong tác phẩm “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố với tên lại già bỉ ổi. Đó là những phụ nữ Việt Nam “bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Nghèo khó chẳng đổi thay, sức mạnh không khiếp sợ). Bên cạnh Tép còn có hình ảnh những người mẹ, người vợ của những người phu mỏ như mẹ Thuật cả đời lầm lũi đắng cay chịu đựng mọi nỗi nhục do người chồng “giận cá chém thớt” từ cuộc đời than bụi đổ xuống đầu mình; là người mẹ luôn chăm lo hạnh phúc cho con, nghèo khó nhưng không mang thành kiến và hủ tục. Bà mẹ của Tép goá bụa, chồng chết vì sập lò, bản thân bệnh tật yếu đau nhưng sống có tình làng nghĩa xóm. Đó còn là hình ảnh người vợ của anh phu mỏ Nhỡ, vì nhà nghèo nên lúc bụng mang dạ chửa, sắp đến ngày sinh vẫn phải xuống hầm lò lao động, không may bị xe goòng nghiến nát, cướp đi mạng sống của hai mẹ con trong giây lát. Trong thế giới của những người thợ mỏ phải kể đến hình tượng những nhân vật quần chúng lao động nơi xóm thợ, tuy cuộc sống trong than bụi nghèo nàn nhưng họ vẫn sẵn sàng tập họp lại bên nhau để bênh vực cho lẽ phải, phản đối cường quyền áp bức.

Sau khi Quốc dân đảng bị thực dân Pháp đàn áp và tan rã,  nhiều chiến sĩ yêu nước phải lên đoạn đầu đài. Mặc dù là thành viên của tổ chức đó, nhưng nhà văn đã sớm nhận ra sứ mệnh của những người cộng sản trước vận mệnh dân tộc. Điều bất ngờ với bạn đọc đương thời, trong bức tranh ảm đạm nơi hầm mỏ lại xuất hiện những người chiến sĩ đi gieo mầm cách mạng. Qua lời kể của Dương, một người thợ từng trải, người cộng sản hiện lên đẹp đẽ từ chân dung đến tư tưởng và hành động như luồng ánh sáng mới soi vào địa ngục: “Họ nom cũng có vẻ sáng sủa, thông minh lắm. Chính họ đã giảng giải cho chúng tôi nghe. Chính họ đã đưa ngầm những sách vở cho chúng tôi đọc. Câu chuyện của họ thoạt đầu chúng tôi không hiểu và còn chưa thiết nghe. Sau chúng tôi cứ rạng dần, rạng dần…”(chương 12). Hình tượng người cộng sản đã đem đến niềm tin và hi vọng đổi đời cho những con người đang sống trong bóng đêm mịt mùng đó. Họ là hiện thân trí tuệ và lòng dũng cảm đi tuyên truyền cách mạng trong giai cấp công nhân giữa thời kỳ bão táp sục sôi của cách mạng đang dâng lên mạnh mẽ. Qua hình thức đối thoại của những người thợ đã gợi lên ý nghĩa ban đầu về chủ nghĩa cộng sản:

        “  - Thế ra cộng sản là một Đảng của bọn nghèo?

           - Chính thế! Chủ nghĩa cộng sản là cái chủ nghĩa của bọn cùng dân như chúng ta.

          - Thế chủ nghĩa cộng sản để làm gì?

          - Là để chia đều của cải cho mọi người”. (ch 12)

Đó thực chất là ứơc mơ của nhân loại muốn xoá bỏ bóc lột bất công đòi quyền sống và bình đẳng cho người lao động. Để có tương lai người cộng sản phải đi đầu trong cuộc đấu tranh giai cấp gay go và quyết liệt, như câu nói của nhân vật Dương: “Phải có hàng ngàn mạng chết đi mới mong làm sống lại ức triệu người chết dở...”(ch 12). Đó là một thực tế lịch sử như Mác từng khảng định: Hạnh phúc là đấu tranh. Như vậy, giác ngộ về sự sống khổ cực của con người, thức tỉnh về lẽ phải và tinh thần đấu tranh là sức mạnh của những luồng tư tưởng mới từ những người đi gieo mầm cách mạng, được khơi dậy linh hoạt qua cây bút của một nhà văn biết đau nỗi đau của con người và hiểu rõ khát vọng lớn lao của dân tộc. Đó có thể xem là những lời thách thức của một cây bút đầy dũng khí với thế lực thực dân tàn bạo. Như vậy càng cho thấy những nhận định của các nhà văn nổi tiếng đương thời về tác giả của Lầm Than thực quả là sáng suốt.

Có được bức tranh hiện thực sống động về những kiếp người nô lệ tối tăm bởi trái tim người nghệ sĩ ấy đã sống hết mình với nỗi nhục lầm than của những người lao động, đồng thời với ngòi bút sắc bén của một nhà tiểu thuyết đã làm cho nhiều trang viết vừa giàu chất phóng sự lại vừa giàu kịch tính. Trong Lầm Than, có trang viết như những thước phim thời sự ghi lại những cảnh sống và lao động nhọc nhằn của người thợ mỏ gợi ra những cảm giác rùng rợn, ghê sợ như cảnh ngột ngạt, bẩn thỉu trong hầm lò, cảnh người chết vì sập lò “như một đàn lợn bị chết trong đám cháy nhà”…Cảnh đối thoại giữa Cai Tứ và Thuật (chương 13, 15); Thuật bị bắt ở nhà riêng (chương 16), Thuật ra hầu toà (chương 18) đều có thể chuyển thành những vở diễn giàu kịch tính và những bộ phim mang tính hiện thực cao. Mỗi màn kịch là một bức tranh tương phản giữa hai thái cực: Giữa chủ và thợ; kẻ có quyền và người bị áp bức; một bên là gian ngoan xảo quyệt, một bên là lòng thẳng dạ ngay…Là một nhà văn vốn đề cao tả thực, quan niệm nghệ thuật của Lan Khai đã chi phối nhiều hình tượng trong tác phẩm của ông. Trong bài viết “Bàn qua về nghệ thuật”, Lan Khai viết: “Diễn tả cho đúng hệt con người, nghệ thuật văn chương đã đạt được mục đích và, do đấy, có thể trở nên thứ nghệ thuật văn chương muôn đời vậy”[2]1. Lầm Than ra đời trong bão táp nhưng đã xây dựng thành công những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình sống động. Chủ Tây đại diện cho bộ mặt kẻ thống trị thuộc địa. Cai Tứ là hiện thân cho bộ mặt của bọn tay sai bán nước hại dân. Già Tỵ, Già Mẫn, Thuật và Tép, Thông, Lộc, Dương là những chân dung sống động về cuộc đời thợ mỏ. Sau Lầm Than trở đi chúng ta mới lần lượt gặp gỡ hình tượng người thợ trong các tác phẩm: Sáng chị phu mỏ của Nguyễn Công Hoan, Vùng Mỏ của Võ Huy Tâm, Xi Măng của Huy Phương vv...Là một cây bút sớm có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng nói dân tộc, nên ra đời đã gần bảy thập niên qua, lời văn của Lầm Than vẫn hoà đồng với ngôn ngữ của chúng ta hôm nay. Trong Lầm Than, người đọc nhận thấy sự kết hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ miêu tả và kể chuyện, giữa đối thoại và độc thoại, giữa ngôn ngữ nhà văn và ngôn ngữ nhân vật xen vào nhau trong nhiều tình huống. Đây là một nhà văn bộc lộ nhiều sở trường nghệ thuật về thể hiện nhân vật. Chẳng hạn như đoạn văn mô tả cảm giác của Tép trước con mắt khát dục của chủ Tây: “Cô cảm thấy như nó xoáy vào thân thể cô chẳng khác những cái đanh ốc xoáy vào gỗ...Tép đã có cái cảm tưởng như mình bị lột truồng ra ở trước mặt mọi người...” (ch.18). Sự phân chia các chương, phần trong tác phẩm linh hoạt tạo nên diện mạo mới của một cuốn tiểu thuyết hiện đại.

Là một tài năng lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại, dường như đây là “một con người sinh ra để làm tiểu thuyết”, bên cạnh những Truyện đường rừng nổi tiếng và những tiểu thuyết lịch sử phong phú cùng với những tác phẩm nghiên cứu lý luận và phê bình văn học có giá trị cao, Lan Khai còn có nhiều thành tựu xuất sắc ở mảng đề tài tâm lý - xã hội từ nông thôn đến thành thị và hầm mỏ như “Cô Dung”, “Mực mài nước mắt” (1941) “Tội nhân hay nạn nhân” (1942); “Tội và thương” (1942), Mưa Xuân (1942-1943)vv...Trong đó Lầm Than (1929-1934, xuất bản 1938) là một thành tựu lớn của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Ngay từ khi tác phẩm còn là bản thảo nó đã được truyền tay nhiều người và  từng đến với người thợ mỏ, vượt qua lưới kiểm duyệt của bọn thực dân, đến khi chính thức phát hành thì tác giả của nó cũng đồng thời bị bọn thực dân hạ ngục vì tội “tuyên truyền cộng sản”và Lầm Than cũng được chúng quy là “truyền đơn cộng sản” giữa lúc cao trào đấu tranh vì dân sinh dân chủ đang dâng lên mạnh mẽ trong cả nước. Đọc Lầm Than chúng ta cùng trở lại những trang hồi ức từ người “trợ bút” đương thời cho cuốn sách trên: “Sau khi cuốn Lầm Than vừa mới in ra, Lan Khai bị sở Cẩm gọi đến điều trần ba bốn bận về chủ đích của sách này. Mấy tháng sau mọi việc đã tạm yên. Ai ngờ sau khi anh phụng mất, Tạp chí Tao Đàn cũng mất theo; sở mật thám lệnh cho nhiều nhà sách thu hồi cuốn Lầm Than. Tây đến toà báo hàng ngày kiểm duyệt gay gắt lắm. Nhà thì cạn tiền đong gạo, mà mấy truyện như Mồ hôi máu viết về phu lục lộ và cuốn Nước độc gồm nhiều truyện ngắn viết về phu thuyền bè, phu khuân vác và thợ sơn tràng ở các cảng sông Lô có nhiều trang thê thảm và rùng rợn, chưa được chút vốn nào thì đã bị sở Cẩm thu ngay từ bản thảo...Cuối năm Kỷ Mão sang đầu năm Canh Thìn nhiều văn sĩ trong báo giới bị Tây bắt đi tù, có cả chú Nguyên Hồng nữa. Nhà tôi bị đưa vào sở Cẩm để hỏi cung nhiều lần, rồi bị giam trong nhà tối. Chúng tôi phải tốn nhiều công sức mới đưa được thuốc men vào cho anh. Cũng năm này, ngoài đường thấy nhiều tốp quân Nhật qua lại đeo súng và gươm dài sệt đất. Nghe nói ai trái ý nó chém ngay, chứ không đem bỏ tù như Pháp. Sau này ra khỏi nhà pha, Lan Khai kể lại: Chánh mật thám quy cho cuốn Lầm Than là tập truyền đơn cộng sản chống nhà nước bảo hộ. Anh đã phải tự bào chữa (bằng tiếng Pháp) về những điều mình viết...Lần lấy cung cuối cùng, ông ta hỏi Lan Khai: “Tại sao mày lại viết truyền đơn xúi bẩy phu than làm loạn chống nhà nước? Anh đã trả lời rằng: “Ở bên nước Pháp, ông Vichto Huy Gô viết “Những kẻ khốn nạn”, thì ở Việt Nam tôi cũng chỉ viết về những kẻ lầm than mà thôi! Tôi chỉ ghi chép những gì tai nghe mắt thấy, chứ đâu phải viết truyền đơn”! Sau hôm đó, chánh sở mật thám cho đổi phòng giam và bắt Lan Khai phải viết cuốn Lầm Than sang tiếng Pháp, qua mấy ngày viết xong anh được trở về với vợ con. Sau vụ rắc rối này, Nguyễn Tuân nói với bạn bè: “Ông Mán này to gan lớn mật, thích sờ vó ngựa và trêu ong bò vẽ”!1[3].. Xung quanh truyện Lầm Than còn bao điều hấp dẫn, khi ta trở lại với những nhân chứng trong  thời kỳ tăm tối.

 Đương thời cũng hiếm thấy nghệ sĩ nào dám cầm bút trực diện tấn công mạnh mẽ vào kẻ thù của dân tộc và công khai ca ngợi vẻ đẹp, sức mạnh và tinh thần dũng cảm bất khuất của những người cộng sản để thức tỉnh đồng bào như tác giả của Lầm Than để rồi nhận lấy xiềng xích về mình trong thời kỳ  lịch sử mà những người yêu nước phải đối mặt với “Gươm kề tận cổ súng kề tai”. Người nghệ sĩ ấy đã hiến trọn thân mình cho nghệ thuật, để Lầm Than thành một ngọn lửa hồng giữa  đêm đông giá lạnh. Sự thai nghén Lầm Than bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống tối tăm của người thợ mỏ dưới chế độ thực dân, nơi nhà văn từng lớn lên từ thuở thiếu thời cho đến khi cầm bút bước vào nghề tiểu thuyết, và chắc chắn tầm mắt của ông không chỉ dừng lại trong bức tranh phu mỏ xứ Tuyên mà còn hướng tới thế giới những người thợ ở mọi miền đất nước. Tác giả của Lầm Than đã nhìn thấy tiềm năng cách mạng của những người cùng khổ trước cơn lốc đổi đời. Đọc Lầm Than gợi cho ta liên tưởng tới hình tượng người công nhân trong tác phẩm Người Mẹ của Gorky. Vì vậy có ý kiến cho rằng: Phải chăng viết Lầm Than, Lan Khai có “phỏng thuật” Gorky (?). Từ nội dung của hai tác phẩm cho thấy, cả hai đều viết về người thợ. Nhưng thực chất đây là hai bức tranh hiện thực khác hẳn nhau về cảm hứng và quá trình sáng tạo cũng như thế giới nhân vật và kết cấu. Người Mẹ là bức tranh về quá trình giác ngộ và trưởng thành trong đấu tranh cách mạng của người phụ nữ Nga. Lầm than là bức tranh đen tối, bần cùng của cuộc đời phu mỏ dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp và cái tia sáng ban đầu của người chiến sĩ cộng sản đi gieo mầm cách mạng ở Việt Nam.

Trong hoàn cảnh lịch sử hết sức ngặt nghèo đó, nếu ở người nghệ sỹ không biết đau nỗi đau của con người, không hiểu thấu nỗi nhục của người dân nô lệ, không biết khao khát tự do cho dân tộc, thiếu tài năng, không đủ dũng khí cầm bút giữa vòng vây của súng gươm xiềng xích, thì làm sao có được một bức tranh nghệ thuật chân chính để dâng hiến cho đời? Tác phẩm nghệ thuật thực sự trở thành niềm tin và hy vọng, khi nó vẽ lên một cách chân thực chân dung cuộc sống và hướng về mục tiêu giải thoát con người khỏi tối tăm nô lệ đi về hướng tương lai. Lầm Than có thể xem là một trong những bản án đanh thép tố cáo chế độ thực dân xâm lược Pháp trên đất nước ta ở thế kỷ XX. Và như vậy, Lầm Than tự nó trở thành một tượng đài kỷ niệm về cuộc đời người thợ mỏ trong thời kỳ lịch sử “khổ nhục nhưng vĩ đại” của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Nhìn lại Lầm Than là trở lại với bức tranh thấm đẫm mồ hôi, xương máu và nước mắt của cha ông trong thời kỳ nô lệ, được vẽ lên bằng tất cả cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ.

                     Gốc Nhội Xuân Hoà Tuyên Quang 24/6/2003

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoài Anh. Chân dung văn học. Tiểu luận phê bình. NXB Hội nhà Văn. 2001

2. Nguyễn Đức Đàn. Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam. NXB khoa học xã hội 1968

3. Lan Khai. Lầm than. Những tác phẩm hay – Tiểu thuyết thứ Bẩy xuất bản. NXB Tân Dân. 1938

4. Phạm Thế Ngũ. Việt Nam văn học sử giản ước Tân biên. Tập III. In tại Anh Phương ấn quán Sài Gòn.1965

5. Nhiều tác giả.  Chuyện làng văn Việt Nam và thế giới. NXB Giáo dục, tập II. H.1987.

6. Nhiều tác giả. Từ điển văn học Việt Nam. tập I- NXB khoa học xã hội, 1988.

7. Nhiều tác giả. Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến 1945. NXB Văn học. 2001

8. Vũ Ngọc Phan. Nhà văn hiện đại. NXB Thăng Long (Sài Gòn tái bản).1960

9. Trần Văn Giáp (chủ biên). Lược truyện các tác gia Việt Nam. NXB Khoa học Xã hội. 1972

10. Hải Triều. Báo Dân Tiến. Số ra ngày 27.10.1938



[1] . Lan Khai- Lầm Than. NXB. Văn Hoá Thông Tin.  H. 2002. tr 28

[2]. Lan Khai – Tác phẩm nghiên cứu Lý luận và Phê bình Văn Học. NXB Văn Hoá Thông Tin. 2002. tr 110

[3] . Lầm Than ...Sdd  tr 265-266

PGS.TS TRẦN MẠNH TIẾN

Các Bài viết khác