NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NHẮC LẠI MỘT VÀI DỮ LIỆU VỀ NHÀ VĂN TÔ HOÀI

( 11-08-2015 - 02:05 PM ) - Lượt xem: 644

chính Tô Hoài không phải sinh ở quê cha mà lại sinh ra tại quê mẹ, − làng Nghè, và lớn lên trong ngôi nhà ông bà ngoại, một gia đình thuộc dòng họ Lại ở làng Nghè.

1/ Người con trai của bà mẹ họ Lại làng Nghè

Sự gắn bó của Tô Hoài với làng Nghè (tên nôm làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay thuộc quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội) là điều hiển nhiên. Tuy vậy, vẫn có một số nhà báo, một số trang tư liệu, kể cả trang Wikipedia tiếng Việt, ghi rằng Tô Hoài sinh tại quê nội ở thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ. Đây là một lầm lẫn đáng tiếc, có lẽ do người ta hiểu ý niệm “quê nội” (quê cha) cũng có nghĩa là nơi sinh! Không đúng. Địa danh trên chỉ là quê gốc của người cha, còn chính Tô Hoài lại sinh ra tại quê mẹ, − làng Nghè, và lớn lên trong ngôi nhà ông bà ngoại, một gia đình thuộc dòng họ Lại ở làng Nghè.

Tôi biết chuyện này một cách tự nhiên, mặc dù tôi không phải quê quán ở đây, nhưng họ Lại làng Nghè, tức là thôn Trung Nha, làng Nghĩa Đô, là cùng một họ với tôi. Từ khoảng năm 1958, ba tôi, – một người thích tìm hiểu để biên khảo phả hệ họ mình, – đã tìm đến Nghĩa Đô, tìm đến gia đình người trưởng họ tại đây là cụ Lại Phú Be và con trai cụ là Lại Phú Bàn (nghệ nhân nghề giấy sắc, đã mất năm 2005); qua đối chiếu nguồn gia phả chi phái mình với nguồn gia phả họ Lại nơi đây, cả hai bên đã nhận ra cư dân họ Lại làng tôi (ở Phù Đạm, Kim Bảng, Hà Nam) và cư dân họ Lại làng Nghè (Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Đông, sau thuộc Hà Nội) đều là hậu duệ của mấy anh em ruột thuộc đời thứ 9 của dòng họ Lại có xuất xứ ở đất Hà Trung (Thanh Hóa) đã “Bắc tiến” từ thời nhà Lê.

Những người quê làng Nghĩa Đô đều biết Tô Hoài sinh ra và lớn lên tại làng này, tại nhà ông bà ngoại là cụ Trương Thuận (Lại Phú Thuận). Cụ ông Lại Phú Thuận từng làm chức trương tuần hay đấy chỉ một hư vị mà sống theo thời thì phải mua lấy để đừng bị gọi bằng những danh xưng khinh mạn, – điều này không ai biết chắc. Chỉ nhớ nhà cụ chính là ngôi nhà hầu như duy nhất xây bằng gạch vồ ở làng Nghè còn lại tới ngày nay, dù đã thuộc chủ khác. Hồi tiền khởi nghĩa 1944, Tô Hoài và Nam Cao từng đưa những Trần Huyền Trân, Như Phong, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Quốc Hương… về ngôi nhà này họp hội nghị Văn hóa Cứu quốc, nghe Trần Độ phổ biến ‘Đề cương về văn hóa Việt Nam’, 1943, của Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương và ‘Chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa’, 1944, của Tổng bộ Việt Minh. (Tô Hoài: ‘Những năm 1943-45’,  trong sách ‘Những gương mặt’, H.: Nxb. Hội nhà văn, 1995, tr. 276-301).

Cụ Lại Phú Thuận có tới 6 người con, nhưng lại sinh con một bề, tất cả đều là gái; trong số các con cụ Thuận có bà Lại Thị Lại là mẹ Tô Hoài. Bà không phải con đầu lòng, cũng không phải con út. Không ai còn nhớ bà đi làm dâu quê chồng rồi mới cùng chồng trở về ở nhà cha mẹ đẻ hay chồng bà đến ở rể ngay từ đầu. Dân làng không ai còn nhớ tên bà, chỉ gọi bà theo tên con trai: bà Sen (họ tên thật của Tô Hoài là Nguyễn Sen); người ta biết rõ Tô Hoài sinh ra và lớn lên chính tại làng Nghè, tại chính ngôi nhà của ông bà ngoại, và vì là đứa cháu trai duy nhất có mặt trong nhà nên rất được yêu quý. Tô Hoài có một cô em gái, đã mất vì bệnh lao, trước hay sau 1945 (như ông thoáng cho biết trong bài hồi ký kể trên).

Một trong nghề thủ công chính của cư dân làng Nghè cũng như cư dân vùng tây nam Hồ Tây (3 làng Yên Thái, Đông Xã, Hồ Khẩu thuộc tổng Bưởi) là làm giấy. Riêng họ Lại làng Nghè từ thời Lê đã được độc quyền làm giấy sắc, chủ yếu là để bán cho triều đình. Theo truyền tụng trong dòng họ, vị thế tổ sinh ra chi họ ở đây là rể của Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1623-57). Có thể chính mối quan hệ thông gia với họ nhà chúa (chúa Trịnh) đã giúp chi họ Lại ở đây được kế tiếp nhau (từ Lê Trịnh qua Tây Sơn đến đầu Nguyễn) giữ chức Ngự dụng giám Kim tiên cục, đặc trách chế biến và cung cấp giấy sắc cho triều đình.

Cái tên nôm của làng Nghè dường như cũng mô tả một trong những công đoạn nhiều người tham gia nhất trong việc làm giấy sắc: nghè giấy, – giải thích đơn giản là dùng búa nện đều lên mặt giấy để tăng độ kết dính bền chắc cho những tờ giấy sẽ dùng làm văn bằng của triều đình trong việc ban khen cho những thần dân xứng đáng trên những hoạt động nào đó. Đến thời Nguyễn, nhất là từ khi Pháp đô hộ (1858), chức vụ nói trên bị phế bỏ để thay bằng các nhà thầu; tuy vậy riêng giấy sắc thì nhà thầu vẫn phải mua của họ Lại ở Nghĩa Đô. Thời điểm rầm rộ nhất là dịp vua Khải Định làm tứ tuần đại khánh (1924), ban sắc cho bách quan bách thần cả nước nên cần tới trên 10.000 tờ giấy sắc các loại, cả chi họ làm liên miên suốt mấy tháng ròng. Gia đình ông Lại Viện còn làm giấy sắc cho đến năm 1944; hãng của ông cũng làm các loại giấy khác, kể cả giấy in. Ngày nay ai xem kỹ những cuốn sách in trước 1945, sẽ gặp một số cuốn mà ở trang signet (xi-nhê) cuối sách còn ghi rõ: sách được in bằng “giấy Lại Viện”, kèm mấy chữ Pháp “papier royal” (= giấy hoàng gia!), – cho thấy nhà sản xuất muốn lưu vào đấy cái oai thừa của tiền nhân.

Thời Tô Hoài mới bước vào nghề văn, quanh vùng Bưởi cũng có không ít người thử tài thử vận may trong nghề văn (Vũ Trọng Can, Nguyễn Xuân Huy, v.v.), nhưng rốt cuộc thì Tô Hoài thành công nhất, điều ấy đã quá rõ.

2/ Xác định tác phẩm đầu tay

Trong một vài thiên hồi ký, Tô Hoài đã từng viết rằng tác phẩm đầu tay của ông là truyện ngắn “Nước lên” gửi lai cảo đến tuần báo “Hà Nội tân văn” và may mắn được chủ bút báo này là Vũ Ngọc Phan đăng cho, lại còn cho hưởng nhuận bút, mặc dù thông lệ thời ấy là các báo không trả tiền cho các bài lai cảo.

   

Tôi đã xem lại sưu tập “Hà Nội tân văn” và nhận ra rằng trong số gần một chục truyện ngắn Tô Hoài đăng ở đấy thì sớm nhất là “Dưới gậm cầu” (s. 23, ngày 18 Juin 1940), rồi đến “Câu chuyện vợ chồng hằng ngày” (s. 28, ngày 23 Juillet 1940), và “Bụi ô-tô” (s. 30, ngày 6 Août 1940), rồi mới đến “Nước lên” (s. 32, ngày 20 Août 1940); sau đó vẫn còn những “Một đêm sáng giăng suông” (s. 37, ngày 24 Septembre 1940), “Đàn bà” (s. 42, ngày 29 Octobre 1940), “Tâm sự cô hàng xén” (s. 47, ngày 3 Décembre 1940), “Ba bố con” (s. 49, ngày 17 Décembre 1940).  

Chưa hết!

Xem lại một vài bộ sưu tập báo chí khác, tôi lại thấy Tô Hoài có tác phẩm đăng còn sớm hơn nữa.

Chẳng hạn, trên tuần san “Tiểu thuyết thứ Năm” do Lê Tràng Kiều làm chủ bút, Tô Hoài đã có một số tác phẩm đăng ở đây như các truyện ngắn: “Người đi” (s. 14, ngày 05 Janvier 1939), “Đan áo” (s. 16, ngày 19 Janvier 1939), “Người tình thứ nhất” (s. 23, ngày 23 Mars 1939). Nên nhớ là tờ “Tiểu thuyết thứ Năm” này là nơi thường xuyên đăng thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, đăng tiểu thuyết “Ngậm miệng” cũng của Nguyễn Bính, bên cạnh những tiểu thuyết của Vũ Trọng Can, Phạm Huy Thái, v.v. Rất có thể, Tô Hoài đã làm quen với Nguyễn Bính từ hồi 1939, khi cũng có bài đăng “Tiểu thuyết thứ Năm”.

Trở lại câu chuyện xác định tác phẩm đầu tay của Tô Hoài. Dĩ nhiên đó không phải là truyện ngắn “Nước lên” như trong hồi ức tác giả. Nhưng liệu 3 truyện (hoặc thiên đoản văn) đăng “Tiểu thuyết thứ Năm” ngay đầu năm 1939 đã là tác phẩm công bố sớm nhất của nhà văn Tô Hoài chưa?

Tôi nghĩ là nên tìm hiểu thêm, trước khi khẳng định.      

LẠI NGUYÊN ÂN

6/2015

Các Bài viết khác