NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

M.SHOLOKHOV TRONG SỰ TIẾP NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ TRÍ THỨC MIỀN NAM 1954 - 1975

( 12-12-2016 - 12:57 PM ) - Lượt xem: 228

Giữa dòng văn học nước ngoài ở miền Nam, văn học Nga không phải là một trong những nền văn học chủ đạo, số lượng tác phẩm được giới thiệu cũng không phải là nhiều nhất, nhưng nó lại có một tính cách đặc biệt trong tiếp nhận vừa như một sự khám phá, vừa như một sự đối chiếu, đối thoại

PGS.TS PHẠM THỊ PHƯƠNG

A. Sự tiếp nhận văn học Nga tại đô thị miền Nam 1954 – 1975
Một điều hiển nhiên cho thấy, trong vòng non ¼ thế kỉ văn học Nga đã từng tồn tại và bắt đầu bén rễ trong lòng xã hội miền Nam. Đây là một hiện tượng phức tạp và không kém phần thú vị khi đi sâu hơn nghiên cứu.
Giữa dòng văn học nước ngoài ở miền Nam, văn học Nga không phải là một trong những nền văn học chủ đạo, số lượng tác phẩm được giới thiệu cũng không phải là nhiều nhất, nhưng nó lại có một tính cách đặc biệt trong tiếp nhận vừa như một sự khám phá, vừa như một sự đối chiếu, đối thoại: khám phá những bí ẩn của văn chương chữ nghĩa, đối chiếu giữa văn học ta và người (ta và người có khi là giữa Đông với Tây, có khi lại trong nghĩa phương Tây đối với Nga, không hiếm khi được hiểu là giữa hai miền Nam – Bắc Việt Nam), đối thoại giữa các bảng giá trị về văn hoá – chính trị – đạo đức… Đó quả là một “ca” tiếp nhận phức tạp và lí thú.
Với tính chất không thuần nhất, văn học đô thị miền Nam có những xu hướng khá đa dạng trong nhận định về văn học Nga. Sau đây là một vài xu hướng chính:
(1)Xu hướng tiếp nhận thiên về khía cạnh chính trị
Điểm qua nhiều bài báo, bài giới thiệu sách, ta dễ nhận thấy rằng các quan điểm về văn học Nga nhiều khi được nhìn bằng lăng kính Phương Tây. Các thông tin văn hoá – xã hội dùng phục vụ cho bài viết thường được dẫn từ nguồn tư liệu dồi dào của các tạp chí L’Express, Les Lettres Nouvelles, Le Monde,… các báo Paris Match, Le Figaro Littéraire,… Thành kiến bài Xô-viết và chống cộng khá rõ rệt, thể hiện trong cách đọc cả văn học cổ điển lẫn văn học hiện đại. Tiểu thuyết Lũ người quỷ ám được giới thiệu như một thứ “di chúc chính trị” của Dostoievski. Raskolnikov bị coi là “kẻ hư vô chủ nghĩa”, “một nhà cách mạng, một bậc tiền bối của chủ nghĩa Bolsevich”[1]. Trịnh Chuyết chuyển thẳng Raskolnikov vào địa chỉ của phe XHCN, coi nhân vật như một kẻ “hấp thụ tư tưởng XHCN của Karl Marx”[2].
Khuynh hướng tiếp nhận này thấy rõ nhất là trong việc khai thác có phần thái quá những hiện tượng khác lạ trong đời sống văn học Xô-viết như vụ Novy Mir, Moscou Littéraire, các trường hợp Solzhenitsyn, Tendriakov, Dudintsev… Khi quan tâm đặc biệt đến một số biểu hiện bất mãn trong xã hội Xô-viết, nhiều khi người ta tỏ ra thờ ơ trước những thành tựu đạt được của văn chương, cho rằng đó chỉ là một thứ văn nghệ chính trị, phục vụ chính trị, “không có thành tựu nào nổi bật”, vì “văn nghệ phẩm dưới chế độ ấy là món tuyên truyền”[3] và các văn nghệ sĩ của chế độ ấy là “những tay bồi bút, trong buổi đầu tuân lệnh các nhà độc tài để được yên thân, về sau tìm đón ý muốn của người có quyền thế để tán dương”[4]. Huê Châu, Nguyễn Nam Châu và nhất là Tràng Thiên (một bút hiệu của Võ Phiến) không giấu nổi sự thiếu khách quan khi viết về các tác gia này. Đúng là tự thân nhiều vấn đề các nhà văn đó đề cập có dấu hiệu phản kháng, nhưng điều cần thấy là nên khai thác nội dung gì và mức độ nào ở tác phẩm nghệ thuật.
(2) Xu hướng tiếp nhận thiên về khía cạnh nghệ thuật
Không ít người tìm thấy trong nền văn học Nga những rung cảm nghệ thuật. Cái hay cái đẹp của văn chương đích thực vượt qua mọi thiên kiến và dụng ý, làm xao xuyến con tim, lay động tâm hồn con người. Những trường hợp như thế thường quan sát thấy nhiều hơn trong sự tiếp xúc của độc giả đối với L. Tolstoi, Dostoievski, Chekhov, Paustovski và cả M. Gorki nữa.
(3) Xu hướng tiếp nhận thiên về khía cạnh triết học
Một xu hướng nữa tìm đến văn học Nga là xuất phát từ những vấn đề mà xã hội và thời đại đang đặt ra. Xã hội miền Nam những năm 1954 – 1975 là một xã hội tao loạn, nhiều khúc mắc, trong đó nhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn. Nhận thức được tình trạng này, không ít độc giả đã day dứt suy nghĩ khi tiếp cận với những vấn đề triết lý và nhân sinh mà các tác phẩm nghiêm túc đặt ra. Văn học Nga không phải là món giải trí nhẹ nhàng. Nó là loại văn chương đầy trăn trở suy tư, như nhà văn Nhật Odzaki Koio từng gọi là “món bí tết rỉ máu” khi ngụ ý tính chất nghiền ngẫm dữ dội về cuộc đời mà tác phẩm đặt ra. Tính chất này bắt nguồn từ đặc điểm truyền thống: văn học Nga luôn gắn bó hữu cơ với đạo đức Nga, nên nó chính là hiện thân của lương tâm Nga, là sự nhận thức sâu xa về bản chất và giá trị con người. Những giá trị nhân bản của những hiện tượng văn học như thế luôn tìm được đường đến với những nền văn hoá khác của nhân loại, chinh phục trái tim chúng ta.
Cũng xin được lưu ý, ba xu hướng này không phải lúc nào cũng tách bạch một cách rành rọt trong cách đánh giá cụ thể từng trường hợp tác phẩm và nhà văn. Và tất nhiên, cũng không nên đồng nhất cách tiếp cận một trường hợp nào đó vào một xu hướng duy nhất.
Như vậy, nhận định chung về văn học Nga, người đọc thành thị miền Nam đi đến thống nhất đây là một nền văn học có giá trị, ảnh hưởng đến nhiều đến các khu vực văn hoá khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên khi xem xét từng vấn đề, cách tiếp cận nền văn học này có thể bị phân hoá thành nhiều khuynh hướng khác nhau.
B. Trường hợp M. Sholokhov
Văn học Nga cho đến thời điểm 1975 có 4 giải Nobel: năm 1933: I. Bunin (1870 – 1953), năm 1958: B. Pasternak (1890–1960), năm 1965: M. Sholokhov (1905 – 1984) và năm 1970: A. Solzhenitsyn (1918 – 2008). Trong số 4 giải này, chỉ có giải năm 1965 là không bị nhà nước Liên-xô phản ứng gay gắt và Sholokhov nhận giải như một sự vinh danh cho bộ phận văn học được coi là chủ lưu lúc đó là văn học Xô-viết. Miền Bắc chỉ giới thiệu giải Nobel này, còn miền Nam cùng thời đó thì giới thiệu cả 3 giải sau, và cũng như ở miền Bắc – không hề dịch cuốn sách nào của Bunin.[5]
Việc Bunin không xuất hiện ở cả hai miền Nam – Bắc có những lí do khác nhau. Ở miền Bắc không tiếp nhận ông vì Liên-xô thời đó không mặn mà với các đại diện của văn học kỉ nguyên Bạch kim (Серебрянный век), nhất là các nhà văn lưu vong. Miền Nam cũng không nhắc nhiều gì đến giải Nobel từ năm 1933 này vì trước hết nó không phải là hiện tượng nóng của thời sự văn học phương Tây những năm 60 – 70, và sau đó, vì những vấn đề nội dung cũng như nghệ thuật của Bunin hầu như không phải là xu hướng muốn tìm đến của văn nghệ Sài Gòn.
Pasternak liên tục là ứng cử viên của giải Nobel Văn học suốt từ năm 1946 trở đi. Khi Bác sĩ Zhivago lần đầu tiên được phát hành ở ngoài Liên-xô bằng các thứ tiếng Ý, Pháp, Anh, lập tức dư luận quốc tế xôn xao, cảm nhận “một thông điệp phục sinh phát ra từ thế giới Nga Xô-viết”[6].Ngày 23/10/1958 Hàn Lâm Viện Thuỵ Điển quyết định trao giải Nobel cho Pasternak vì “đóng góp thành tựu lớn trong thi ca đương đại cũng như kế tục xuất sắc truyền thống văn chương mang tính sử thi của Nga”. Ở Sài Gòn, tạp chí Bách khoa số 46/1958, tạp chí Phổ thông số 2 lập tức có bài nóng hổi về nhà văn mới đạt giải Nobel. Cũng trong năm đó hai thi phẩm của Pasternak được dịch từ nguyên tác Nga ngữ trình làng trên số 5 Phổ thông. Sang các năm kế, bài viết về Pasternak và tác phẩm của ông tiếp tục xuất hiện trên các tờ Bách khoa, Văn, Văn hoá Á châu, Quê hương. Giải Nobel 1958 được công bố vào tháng 10 thì sang năm sau, năm 1959, ở Sài Gòn đã có ngay bản dịch toàn văn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago.
Khi Pasternak đoạt giải Nobel, tên tuổi của một ứng cử viên người Nga nữa cũng được báo chí Sài Gòn nhắc đến: Sholokhov. Hồi đó Nhà nước Liên-xô bày tỏ sự không hài lòng vì giải Nobel Văn học không được trao cho tác giả Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang mà lại trao cho một tác phẩm có ý hướng “chống Xô-viết”. Bài viết Pasternak và Sholokhov hai chứng nhân một thế giới đăng trên các số 19, 20 Văn hoá Á châu năm 1959 đã dành toàn bộ phần thứ nhất để bàn về Sholokhov, chứng minh rằng nhà văn này là đối cực của Pasternak trong việc quan niệm về sứ mệnh của nhà nghệ sĩ, là kẻ biện hộ cho “chính sách dã man, chống lại sự sống, phẩm giá và tình thương của nhân loại”, nghĩa là không xứng đáng là “một chứng nhân đứng về phe nhân loại”[7] thì không thể nào được trao giải Nobel.
Như vậy, tên tuổi của Sholokhov đã được văn học miền Nam nhắc đến từ trước khi ông đoạt giải Nobel. Tác phẩm Đất vỡ hoang của ông được dịch từ 1963, tái bản 1964 và 1967. Ngày 15/10/1965 Hàn Lâm Viện Thuỵ Điển công bố giải Nobel Văn chương thuộc về Sholokhov, thì ngày 17/10 năm ấy, tạp chí Văn số 45 đã loan tin trong mục Tin văn vắn (dài 5 trang), với nhận định rằng đây là một trường hợp hiếm có trong văn giới Nga Xô-viết, không giống như vụ Pasternak, khi làm hài lòng “cả hai khối Đông và khối Tây”, “vừa được các nhà phê bình thuộc khối Tây khen ngợi, vừa được lòng cả những ông ngự sử của Điện Kremlin”[8]. Đồng thời, hai số sau, số chuyên đề về Sholokhov, Văn bày tỏ sự “kinh ngạc” và “lấy làm tiếc” vì giải Nobel đáng ra nên trao cho Ehrenbourg, “người dẫn đầu phong trào băng rã”, “mà sự nghiệp đã lẫy lừng khắp hoàn vũ, và còn lớn lao hơn M. Sholokhov biết bao nhiêu”[9]. Có thể thấy giải thưởng Nobel của Sholokhov đã bị đánh giá bằng thiên kiến chính trị. Khi ông còn trong danh sách ứng cử viên cũng như khi ông đã đoạt giải, nhiều người vẫn thấy ông luôn không xứng đáng. Các bài viết trong nước về sự kiện giải Nobel 1965 có phần không sôi nổi bằng hồi Pasternak nhận giải, chủ yếu đăng ở Văn là tạp chí vừa bước sang năm thứ hai hoạt động của mình. Về tác phẩm, ngoài tiểu thuyết Đất vỡ hoang in trước đó, lúc này có thêm 2 truyện ngắn trong Văn số 47, sau đó là tiểu thuyết Họ chiến đấu vì tổ quốc và hai tập truyện ngắn. Thật ra, muốn giới thiệu thêm tác phẩm của Sholokhov cũng khó bởi ông sáng tác không nhiều. Chỉ lạ một điều là Sông Đông êm đềm – tác phẩm đoạt giải Nobel của nhà văn – không hề có bản dịch nào; trong khi đó loại tác phẩm này ở Pasternak và Solzhenitsyn lại có nhiều bản dịch.
Chủ trương giữ một thái độ khách quan đối với những vấn đề nghệ thuật, phê phán “cái nhìn lệch lạc bởi thành kiến chánh trị thiển cận”của “một số độc giả thiếu tài liệu chính xác”, nhất là chưa trực tiếp xúc trực tiếp với văn bản, Trần Thiện Đạo đề nghị có một cách nhìn nhận “cái hiện thực” được phản ánh trong tác phẩm Đất vỡ hoang của Sholokhov – đó là “cái hiện thực” của ngòi bút trực cảm chứ không chỉ là ngòi bút lí trí “biện hộ chính sách”. Ông chỉ ra rằng tác phẩm này viết ra để “phục vụ kịp thời chánh sách tập thể hoá ruộng đất”, cho nên nó là “bức tranh minh hoạ đầy đủ thời gian 1932 – 1960 của công cuộc tập thể hoá ruộng đất ở Liên-xô”, nhưng thái độ của Sholokhov không phải là của một nhà văn chính trị, mà là của một nghệ sĩ. Nhà văn không chỉ một mực nhìn thấy sự tất yếu phải thực hiện chính sách “Tân kinh tế” (НЭП) mà còn thấy những bất cập của nó đã động chạm đến đời sống tinh thần ở tầng sâu nhất của người nông dân. Chính vì vậy “tác phẩm vẫn tiềm tàng thái độ cởi mở” của nhà văn – Đảng viên Đảng Cộng sản: “người đọc nhận thấy rõ ràng tình cảm của ông đối với thành phần nông dân thà chết chớ không chịu chấp nhận chánh sách tập thể hoá ruộng đất của chánh phủ”[10]. Trần Phong Giao cũng khẳng định điều đó khi viết: “Ngay từ dưới thời Staline khắc nghiệt, Sholokhov cũng đã tỏ ra là một nhà văn độc lập, cương trực hiếm có trong những nhà văn Nga của thế hệ hiện đại”[11].
Cũng như hai nhà văn giải Nobel văn chương khác là Solzhenitsyn, Pasternak, Sholokhov hấp dẫn độc giả trí thức miền Nam không chỉ ở vai trò “chứng nhân”, trong việc “tố cáo”, mà còn cả ở phương diện nghệ thuật. Trong số những ý kiến bàn về tài năng nghệ thuật, lời ngợi ca đối với Sholokhov có phần hiếm hoi hơn và có vẻ cầm chừng hơn so với hai tác giả kia. Trong số chuyên đề về Sholokhov, BBT tạp chí Văn viết: “Giới thiệu nhà văn Sholokhov không phải chúng tôi có ý muốn đề cao nhà văn này, mà chỉ muốn giới thiệu cùng bạn đọc một vài đoản văn tác của nhà văn vừa được tặng giải thưởng Nobel về văn chương 1965”. Cách giới thiệu này có vẻ miễn cưỡng, giống như chỉ vì Sholokhov đoạt giải Nobel, “một giải thưởng dẫu sao cũng có một tầm ảnh hưởng quốc tế rộng lớn”, nhưng xem ra không biết lần này nó có “được trao tặng một cách chính đáng không”. Cái mà người đọc Sài Gòn khó chịu ở Sholokhov là vì ông “là nhà văn chánh thức của chính quyền Xô-viết, lúc nào cũng cập kè bên thủ lĩnh Khrushov”[12]. Việc tác phẩm Sông Đông êm đềm không được dịch và nhất là sự thờ ơ hoặc vẻ cầm chừng khi nhận xét về nó của cả một giới đọc sách làm ta không thể không nghĩ rằng tác động của định kiến chính trị nhiều khi đã ngăn cấm tiếp nhận khách quan, khiến người ta không chịu công nhận rằng Sông Đông êm đềm là một thiên Iliad rực rỡ của thế kỉ XX, toàn bích về cả nội dung lẫn nghệ thuật.
Tràng Thiên công nhận ở Sholokhov “một khí lực phi thường” trong việc diễn tả những bức tranh sử thi rộng lớn nhưng lí giải sự thành công đó là do cảm quan tái hiện xuất sắc “hiện thực màu hồng” như “một khuynh hướng chung ở Nga Xô”. Chính vì vậy Tràng Thiên đã nhìn Sông Đông êm đềm như là một “tác phẩm có tính cách lí tưởng”, “dùng chất liệu thực để gợi ra một giấc mơ”,“kỹ thuật thì tả chân mà nội dung lại mang chất lí tưởng”[13]. Theo ông, ban tuyển trạch giải Nobel 1965 đã bỏ phiếu cho tác phẩm Sông Đông êm đềm chỉ vì lí do đó. Với một giọng pha chút giễu cợt, Tràng Thiên bình luận về cách phản ánh “hiện thực màu hồng”, “tính cách lí tưởng” của Sholokhov:
“Những quân nhân như Nicolas Streltsov, như Lappakhine, v.v. trong Họ chiến đấu vì tổ quốc (Ils ont combattu pour la patrie) đều hung dữ như cọp, trong lòng lúc nào cũng sùng sục mối thù với quân Đức, lăm lăm chực đánh nhau chết thôi, ngoài ra không còn thiết đến chuyện gì khác. Thỉnh thoảng có kẻ nào vớ vẩn nhắc đến chuyện vợ con ở hậu tuyến thì liền bị bọn đồng đội chế giễu gạt đi. […] Những con người rắn rỏi đó lại cứ thấy máy bay Nga bị máy bay Đức bắn rơi là khóc lên như đàn bà. Lính tráng đã trung thành gan dạ, sĩ quan càng anh dũng hơn, hễ cứ cấp chỉ huy càng cao thì chí khí anh hùng càng lớn thêm một mức”[14].
*

Kinh nghiệm tiếp nhận văn học Nga của đô thị miền Nam 1954 – 1975 nói chung, trường hợp M. Sholokhov nói riêng đã để lại những bài học thiết thực cho cuộc giao lưu trong nhu cầu và xu thế hội nhập với thế giới của chúng ta. Nhìn lại một vài trường hợp tiêu biểu như trên, ta thấy văn nghệ miền Nam có nhiều xu hướng đa dạng và phức tạp trong việc tiếp cận với văn học Nga – như một nền văn học lớn, có giá trị của thế giới và một hiện tượng văn hoá mang trong mình những tiềm năng khơi dậy những vấn đề lớn lao và phức tạp của thời đại. Nhìn cận cảnh, ta sẽ bàn xét được nhiều điều thú vị: sự chi phối của tầm đón nhận đối với ý nghĩa của tác phẩm, tính đa trị của văn học, cách đọc khách quan và cách đọc định kiến,... Trong hoàn cảnh lịch sử – xã hội cụ thể, người đọc có xu hướng lĩnh hội sáng tác của nhà văn theo nhu cầu tinh thần thời đại mình, thổi sức sống thời đại mình vào tác phẩm, khám phá và khai thác những khía cạnh phù hợp. Vượt qua cách tiếp cận đơn tuyến đối với văn học của đại đa số trí thức miền Bắc cùng thời, giới trí thức miền Nam, với cách tiếp cận năng động, đa chiều, đã tiệm cận hơn với chân giá trị của văn học vốn đa trị. Bên cạnh cách tiếp cận đầy hiệu năng ấy đối với văn học Nga, có thể quan sát thấy tính chủ quan, thiên kiến trong cách nhìn nhận một số giá trị, làm cho cách phê bình, định giá có vẻ cảm tính và thiếu chất học thuật. Không ít trường hợp, những định kiến chính trị có khi chi phối không chỉ đến cách đọc mà còn đến cả cách dịch (mà thực ra cũng là một cách “đọc” đặc biệt), định hướng sai tiếp tục đến người tiếp thu văn bản dịch, gây ngộ nhận lan truyền. Điều này cho thấy tính nghiêm túc của dịch thuật đòi hỏi trước hết sự hiểu biết thấu đáo đối tượng tiếp nhận và một tinh thần khách quan, độc lập tự chủ trước mọi thiên hướng chính trị và nghệ thuật.
Qua sự tiếp nhận văn học Nga – Xô-viết tại miền Nam 1954 – 1975 nói chung, trường hợp M. Sholokhov nói riêng, có thể tái hiện lại hình ảnh của lớp công chúng trí thức một giai đoạn văn học đặc biệt của nước ta: đó là loại độc giả có học vấn và không thuần nhất trong cách tiếp cận văn chương. Thẩm định cách đánh giá của nền văn nghệ này đòi hỏi chúng ta một thái độ khách quan, khoa học và cẩn trọng.
P.T.P.
________________________________________
[1]Nguyễn Hữu Hiệu, “Lời giới thiệu” trong cuốn Tội ác và hình phạt, Nxb Nguồn Sáng, S., 1973, tr. XI.
[2]Trịnh Chuyết, Từ điển danh nhân, Sài Gòn, 1964, tr. 137.
[3]Tràng Thiên, Văn học Nga sô hiện đại, S., 1965, tr.5,
[4] Nguyễn Hữu Dung, “Văn nghệ với chính trị tại Liên Xô”, Bách khoa số 159, 1963, tr.57.
[5] Mãi đến thập niên 80 trở đi các tác phẩm của Bunin mới được chính thức dịch ở Việt Nam, bắt đầu bằng cuốn Tuyển truyện Bunin, Hà Ngọc dịch, Nxb Văn học, H. 1987.
[6]Tạp chí La Civiltà Cattolica, 18/Janvier/1958.
[7]Nguyễn Nam Châu, “Pasternak và Sholokhov hai chứng nhân, một thế giới”, Văn hoá Á châu, số 19, 1959, tr. 73.
[8]Trần Phong Giao, Tin văn vắn “Mikhail Cholokhov giải Nobel về Văn chương 1965”, Văn số 45/1965.
[9]Lời nói đầu của tạp chí Văn số 47/1965.
[10]Trần Thiện Đạo, “Mikhail Cholokhov”, Văn số 45/1965.
[11]Trần Phong Giao, “Mikhail Cholokhov và giải Nobel về văn chương 1965”, Văn số 45/1965, trong mục Tin văn vắn.
[12]Lời nói đầu trong số chuyên đề về Sholokhov của tạp chí Văn số 47 năm 1965, tr. 1.
[13]Tràng Thiên, “Mikhail Cholokhov giải Nobel về văn chương 1965”, Bách khoa số 180 năm 1965.
[14]Tràng Thiên, “Mikhail Cholokhov giải Nobel về văn chương năm 1965”, Bách khoa số 180 năm 1965.

Các Bài viết khác