NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

MỘT TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ CỦA VĂN NGHỆ

( 07-05-2014 - 03:10 PM ) - Lượt xem: 875

Thu đông 1953, khi cả nước dồn người, dồn của cho bộ đội ta tiến vào Tây Bắc, thì đội quân văn nghệ cũng đồng hành. Vậy là bắt đầu xuất hiện những bài thơ, bài ký, bài hát, bức ký họa, bức ảnh về cuộc tổng phản công dẫn tới trận quyết chiến cuối cùng ở Điện Biên Phủ

Thu đông 1953, khi cả nước dồn người, dồn của cho bộ đội ta tiến vào Tây Bắc, thì đội quân văn nghệ cũng đồng hành. Vậy là bắt đầu xuất hiện những bài thơ, bài ký, bài hát, bức ký họa, bức ảnh về cuộc tổng phản công dẫn tới trận quyết chiến cuối cùng ở Điện Biên Phủ. Bộ đội thì đánh giặc. Còn các văn nghệ sĩ thì chống lại cái cũ, cái quen quen. Thực tế mới lạ của Tây Bắc đã khiến cả đội ngũ như bừng tỉnh. Nếu trước thời điểm này, dù đã rất thấm nhuần tiêu chí “Dân tộc – Khoa học – Đại chúng” của Đề cương văn hóa, thì cái gọi là “Dân tộc” trong sáng tạo các loại hình nghệ thuật cũng chỉ dựa vào những tinh túy cổ truyền của người Kinh. Tây Bắc với những âm hưởng, màu sắc, đường nét của các dân tộc thiểu số mà chủ yếu là Thái và Mông độc đáo đã làm thay đổi mọi tư duy sáng tạo trước đó. Một trận Điện biên của Văn Nghệ đã được mở ra nhằm cắm cờ trên những đỉnh cao sáng tạo với chất liệu Tây Bắc. Cùng lúc ấy, trong miền Trung là Tây Nguyên.

          Về thơ, trước đây có lẽ chưa bao giờ thơ Việt Nam có lối tư duy như Cầm Biên trong “Ánh hồng Điện Biên”, “Nước Việt Nam cho ta tim sắt – Đất Việt Nam cho ta gan đồng” hay Nông Quốc Chấn trong “Điện Biên Phủ ngọn lửa hùng ca”: “Chúng ta – những lớp măng – Xé mặt đất vươn lên buồng mơ nở lá – Rừng người …”. Trần Dần trước khi viết tiểu thuyết “Người người lớp lớp” thì đã có những câu thơ trì tục như nhịp gõ tre nứa của người Mông: “Sầm sập mùa binh – miền miền Khua binh – Làng làng động binh – Vùng vùng nổi binh …”. Chính Hữu càng viết càng tối giản, càng thực tế đến rớm máu: “Khi bạn ta – lấy thân mình – đo bước – chiến hào đi – Ta mới hiểu – giá từng thước đất …”. Nguyễn Đình Thi hừng hực như lửa bếp nhà sàn người Thái trong “Bài ca Điện Biên Phủ”: “Đất trời mờ sắt thép – Chớp giật xé ngày đêm – Lửa ào ào bừng cuộn – lấp lánh đồi cháy đen …”. Nguyễn Hải Trừng mắng “Khẩu pháo 105 giặc” bằng cái giọng rất “đồng bào vùng cao”: “Mày đốt rừng, phá núi – Mày giập nát cửa nhà – Mày bắn trâu, giết ngựa – Mày sát trẻ, hại già …”. Đến Bạc Văn Ùi (chính là nhà thơ Cầm Giang) thì tứ thơ và câu thơ lạ hẳn đi, “Tây Bắc” hẳn đi: “Tôi nhớ vợ tôi lắm – Xin anh về hai ngày – Nhà tôi ở Mường Lay – Có con sông Nậm Rốn – Ngày kia tôi lại đến – Lại cầm súng được ngay – Tôi càng bắn trúng Tây – Vì tay có hơi vợ …”. Thực tế Tây Bắc đã khiến cho các nhà văn có những tác phẩm lớn như “Người người lớp lớp” của Trần Dần, “Cao điểm cuối cùng” của Hữu Mai, mấy năm sau là “Bốn năm sau” của Nguyễn Huy Tưởng, bài thơ “Lên Tây Bắc” của Văn Cao, “Giăng liềm của Nguyễn Tuân, “Chuyện Tây Bắc” của Tô Hoài…. Trận Điện Biên trong văn chương đã kéo dài suốt 60 năm qua và còn kéo dài mãi.

          Về âm nhạc, sau những ca khúc, hành khúc viết về chiến thắng Tây Bắc có âm hưởng hào hùng hay trữ tình nhưng đều là âm hưởng dân ca người Kinh như “Đường lên Tây Bắc” (Văn An), “Qua miền Tây Bắc” (Nguyễn Thành), “Chiến sĩ Tây Bắc hành khúc” (Lưu Hữu Phước), “Tiến lên giải phóng Lào Cai” (Lưu Bách Thụ), “Đèo Pha Đin” (Trọng Lanh), “Em bé Mường La” (Trần Ngọc Xương), “Hành quân xa”, “ Trên đồi Him Lam” (Đỗ Nhuận), “Hò kéo pháo” (Hoàng Vân), “Tiếng hát người lái xe Điện Biên” (Mai Khanh) … thì ca khúc “Mừng chiến thắng Tây Bắc” của Đặng Đình Hưng (Lời: Đào Vũ – Thái Ly) là một ca khúc mang âm hưởng dân ca Thái uyển chuyển như một điệu Rondo, nhất là Đỗ Nhuận với nhạc cảnh “Anh Pan về bản” và sự kết hợp âm hưởng Tây Bắc với âm hưởng đồng bằng Bắc Bộ trong “Chiến thắng Điện Biên” thật tài tình. Với mỏ quặng dân ca này, Đỗ Nhuận còn làm ra cả một nhạc kịch “Cô Sao” sau khi học nhạc ở nhạc viện Tchaikovsky trở về. Với trận Điện Biên này, từ đây các nhạc sĩ nô nức đưa âm hưởng dân ca dân tộc thiểu số vào các tác phẩm của mình từ ca khúc tới giao hưởng âm hưởng Tây Bắc như “Con trâu sắt” (Trần Chương), “Mây trắng Phia Khao” (Hồng Đăng), “Tình ca Tây Bắc” (Bùi Đức Hạnh – thơ: Cầm Giang), “Chị Mai đi chợ” (Lê Lan), “Cô giáo vùng cao”, “Chiếc khăn rơi” (Doãn Nho), “Chiếc đàn môi” (Nguyên Nhung), “Bài ca trên núi” (Nguyễn Văn Thương – lời: Tô Hoài), “Nỗi băn khoăn của chị Lả” (Nguyễn Đức Toàn) … Âm hưởng Việt Bắc như “Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi” (Văn Ký), “Trước ngày hội bắn” (Trịnh Quý), “Tiếng sáo gọi người yêu” (Nguyễn Đình Tấn), “Mùa xuân gọi bạn” hay còn gọi là “Bài ca gửi nọong” (Nguyễn Tài Tuệ - thơ: Vương Hữu Văn)… Âm hưởng dân ca các dân tộc dọc Trường Sơn như “Rừng xanh vang tiếng Ta lư” (Phương Nam), “Cô gái PaKô”, “Tiếng đàn Ta Lư” (Huy Thục)… Âm hưởng dân ca Tây Nguyên như “Dấu chân trên rừng” (Vĩnh An), “Tiếng hát ban mai” (Thanh Anh) “Bóng cây Kơnia” (Phan Huỳnh Điểu – thơ: Ngọc Anh dịch dân ca Hơ Rê), “Chim lạc đàn”, “Chim Poongkle” (Nhật Lai), “Em là hoa PơLang”, (Đức Minh), “Đêm thao thức” (Kpapui), “Cánh chim báo tin vui” (Đàm Thanh), “Tháng Ba Tây Nguyên” (Văn Thắng – thơ: Thân Như Thơ), “Nhớ” (Lê Yên – thơ: Thanh Hải), “Em đẹp như sao băng”… Các nhạc sĩ viết giao hưởng như Đàm Linh, Trần Trọng Hùng, Đỗ Hồng Quân, Trần Mạnh Hùng, Đặng Hữu Phúc … đều sử dụng rất đắc địa dân cá các dân tộc thiểu số trong tác phẩm của mình và có tác phẩm đã biểu diễn ở nước ngoài như “Rhapsody Việt Nam” của Đỗ Hồng Quân, “Ngày hội” của Đặng Hữu Phúc … Trận Điện Biên của các nhạc sĩ vẫn còn tiếp tục cắm cờ trên các đỉnh cao hôm nay.

          Về sân khấu, ngay từ khi vào Tây Bắc đã có kịch nói “Tin chiến thắng Nghĩa Lộ” do tập thể sáng tác, Thế Lữ chấp bút. Rồi đến những “Luyện chắc tay súng” (Hoàng Tích Linh), “Địch hậu vùng lên” (Bửu Tiến), “Chị Hòa” (Học Phi)… Ngay trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã có vở chèo sáng tác tập thể “Trong đường hầm Điện Biên Phủ”, “Trưởng thành trong chiến đấu”… Đã khẳng định được một số diễn viên tiêu biểu như Song Kim, Thế Lữ, Lệ Thanh, Thúy Cẩm, Thùy Chi, Trúc Quỳnh, Tuệ Minh, Trần Hoạt, Đào Mộng Long, Kỳ Ngung, Long Ninh… Từ đó đến nay, trận Điện Biên trong sân khấu vẫn tiếp tục tạo ra những đỉnh cao vừa là đề tài Điện Biên hay Tây Bắc như “Bài ca Điện Biên” (Tất Đạt) được dàn dựng với quy mô chưa từng có khiến một nhà báo Séc đã phải thốt lên: “Thật không ngờ, ngay cả sân khấu nước tôi cũng không thể nào dàn dựng được một vở diễn về đề tài chiến tranh có tầm vóc hoành tráng và sức thuyết phục như “Bài ca Điện Biên”. Các tác giả với tinh thần Điện Biên đã tạo ra những kỳ tích cho sân khấu Việt Nam ở đủ các thể loại như kịch nói, chèo, tuồng, cải lương… mà trong đó tiêu biểu là những tác giả như Lưu Quang Vũ, Xuân Trình, Đào Hồng Cẩm, Tào Mạt, Ngô Y Linh … Các thế hệ diễn viên cũng ngày càng phát triển, ngày càng vươn lên tầm cỡ.

          Về hội họa, thì ám ảnh nhất khi vào Tây Bắc đã khiến cho các họa sĩ tiếp cận với màu sắc và đường nét của đồng bào các dân tộc thiểu số. Nổi tiếng nhất trong đợt sáng tác này là bức sơn dầu “Giặc đốt làng tôi” và “Kết nạp Đảng ở Điện Biên” của danh họa Nguyễn Sáng và loạt ký họa trước khi hy sinh của danh họa Tô Ngọc Vân vừa được triển lãm sau nhiều năm khuất lấp. Ấn tượng Tây Bắc còn lưu giữ qua nhiều năm sau để có những “Nhớ một chiều Tây Bắc” sơn mài của Phan Kế An, sơn dầu “Thanh niên vùng cao” của Văn Cao, sơn mài “Tổ đổi công miền núi” của Hoàng Tích Chu, Son mài “Bến Nậm Nà” của Nguyễn Văn Bình, sơn mài “Giáp trận” của Dương Hướng Minh, khắc gỗ “Gia đình Mông đi chợ” của Phạm Văn Đôn, lụa “Những phụ nữ Thái” của Nguyên Thị Kim, “Con nghé quả thực” sơn mài của Nguyễn Tư Nghiêm, những bức sơn dầu về phố cổ Hà Nội mà Văn Cao và Nguyễn Tuân gọi là “Phố Phái” của Bùi Xuân Phái: “Tôi gửi một lá thư về phố Phái – Người đưa thư sẽ đưa đến phố anh …”. Lụa “Cánh đồng xanh” của Quang Phòng, bột màu “Gặp nhau” của Mai Văn Hiến, “Nắng chiều trên chùa Phổ Minh” lụa của Trần Duy, “Chiều vàng” sơn dầu của Dương Bích Liên, sơn mài “Lò nồi thủ công” của Nguyễn Kim Đồng, Sơn mài “Qua bản cũ” của Lê Quốc Lộc … Đấy là sự lớn vượt của các họa sĩ trường Mỹ Thuật Đông Dương. Tiếp nối theo họ là những họa sĩ khóa kháng chiến học trò thay Tô Ngọc Vân như Mai Long, Trần Lưu Hậu, Trọng Kiệm, Lưu Công Nhân … với sơn dầu “Làn khói trắng”, bột màu “Chiều ở bản” … và đến thế hệ thay đổi hội họa từ Nguyễn Quân đến Đặng Xuân Hòa, Hà Trí Hiếu, Hoàng Hồng Cẩm, Lê Quảng Hà, Lê Thiết Cương, Đinh Quân… So với các nghệ thuật khác, hội họa đã tìm được đường hội nhập với thế giới sớm nhất, hiệu quả nhất. Trận Điện Biên của họ thật ròn rã, vẫn tiếp tục ròn rã.

          Về múa thì ngay từ khi vào Tây Bắc, điệu múa sạp đơn sơ và múa nón mộc mạc của người Thái đã lọt tầm ngắm các nghệ sĩ múa như Thái Ly, Trọng Lanh … Một điệu múa sạp hoàn chỉnh đã được chuyên nghiệp hóa với phần âm nhạc của nhạc sĩ Mai Sao. Múa sạp đã cùng các tác phẩm âm nhạc đi ra nước ngoài trong các dịp Festival thanh niên từ rất sớm. Từ đó, sự phát triển của mú Việt Nam cũng hình thành một trận Điện Biên cho tới nay vẫn chưa hề ngưng nghỉ. Một vở kịch múa “Xô viết Nghệ Tĩnh” đã được công diễn dịp kỷ niệm cách mạng tháng tám và quốc khánh năm 1960 cùng vở kịch múa “Tấm Cám” do nhóm biên đạo của nhà hát như Minh Hiên, Phùng Nhạn, Thanh Hùng, Danh Thân. Kết hợp với giáo sư Kim Tế Hoàng. Mùa thu 1968 lại công diễn kịch múa “Phá Lao” với kịch bản và đạo diễn của Nguyễn Việt. Ngành múa Việt Nam sau giải phóng lại ngoặt theo một lối đi khác qua việc trình diễn các vũ kịch trích đoạn vào năm 1982 như “Sự cẩn thận vô ích”, “cô gái mù bán hoa”, “Cô tiểu thư và chàng trai du đãng”… Việt Nam hoàn toàn tự tin có thể dàn dựng biểu diễn các vở vũ kịch kinh điển lớn của thế giới. Cụ thể năm 1983 là vở “Spartaquete”, năm 1984 là “Hồ Thiên Nga”. Đến thời kỳ đổi mới là những “Qua miền đất lạ” của Cheryl Stock (1992), “Qua mắt phượng hoàng” của Cheryl Stock (1993), “Em – người phụ nữ Việt nam” của Cheryl Stock (1994). Sang thế kỷ mới là “Ngọc trai đỏ” và “Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga” (âm nhạc Ca Lê Thuần) do các nghệ sĩ vũ kịch Thành Phố Hồ Chí Minh biểu diễn tại Hà Nội và “Hồng Hoang” của Bằng Thịnh – Hà Nội (Âm nhạc của Đỗ Hồng Quân). Tháng 8 – 2001 liên hoan các tác phẩm kịch múa Việt Nam lần thứ nhất rồi “Liên hoan những tác phẩm múa về đề tài Hà Nội”. Năm 2004 là vũ kịch “Trương Chi” của Công Nhạc (âm nhạc Nguyễn Thiện Đạo), “Chàng Y Đăm”, “Kẹp hạt dẻ”, “Cuộc sống con người và vũ trụ” của Anh Phương. Năm 2006 là những đêm kịch múa chào mừng Đại Hội Đảng X … Càng theo thời gian, ngành Múa Việt Nam càng phát triển với tinh thần Điện Biên.

          Về điện ảnh, khi vào Tây Bắc, ngành điện ảnh non trẻ của ta mới chỉ có rất ít người. Nhưng đã bắt đầu có những nghệ sĩ quay phim tham gia chiến dịch. Sau khi chiến thắng, các nghệ sĩ ta phối hợp cùng đoàn làm phim của nghệ sĩ Nga Carmen, dàn dựng lại lịch sử và làm thành phim “Việt Nam trên đường thắng lợi”. Từ đó, điện ảnh Việt Nam, với khi thế Điện Biên đã trưởng thành nhanh chóng. Từ phim truyện đầu tiên “Chung một dòng sông” của đạo diễn Phạm Văn Khoa, đến nay, điện ảnh Việt Nam đã có những phim đi dự thi nhiều cuộc liên hoan quốc tế như “Chuyện của Pao” của đạo diễn Ngô Quang Hải, “Đừng đốt” của đạo diễn Đặng Nhật Minh, “Chơi vơi” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên … ngay từ thời trước đổi mới đã có những phim đoạt giải thưởng quốc tế như “Cánh đồng hoang” của Nguyễn Hồng Sến … Trong sự phát triển của mình, nhiều lần các nhà làm phim lại quay trở về với đề tài Điện Biên Phủ như “Hoa ban đỏ” của đạo diễn Bạch Diệp, phối hợp với các nhà làm phim Pháp làm phim “Điện Biên Phủ” vào năm 1994. Năm 2004, tôi cũng đã kết hợp cùng công ty Thăng Long làm phim tài liệu nghệ thuật “Ngoạn mục Điện Biên” với nhân vật chính là cô gái Pháp đi tìm lại ký ức của người ông vốn là lính viễn chinh ở Điện Biên Phủ và có một cây sáo Mông kỷ niệm.

          Về nhiếp ảnh, ngay từ khi vào Tây Bắc các nghệ sĩ đã chĩa ống kinh vào ngờm ngợp thực tế mới lạ của vùng rừng núi huyền thoại này. Tuy nhiên, điều chính yếu vẫn là để phục vụ cho cuộc chiến đấu. Những bức ảnh về kéo pháo, về xe thồ, về gồng gánh, về hành quân thật sinh động. Đến khi quân ta đánh Điện Biên lại là những bức ảnh về sinh hoạt của bộ đội ở chiến hào, những lá cờ chiến thắng tung bay. Tất cả những bức ảnh đó đã được đưa vào cuốn “Hình ảnh Việt Nam” mà tôi được xem sau ngày Hải Phòng giải phóng 13.5.1955. Xem từ đó mà ấn tượng mãi đến bây giờ. Đặc điểm của nhiếp ảnh là khoảnh khắc bấm máy. Có cú bấm máy ghi lại một thời điểm đặc biệt của đời sống. Có cú bấm máy được ghi lại một thời điểm đặc biệt của ánh sáng. Trưởng thành từ trận chiến Điện Biên là những tác giả gạo cội như Đinh Đăng Định, Trần Hồng … sau này là những Đoàn Công Tính, Lương Đức Dũng … Giữa những tay săn ảnh mặt trận là những tay săn ảnh nghệ thuật mà cụ tiên chỉ phải kể đến Võ An Ninh với những bức ảnh mê hồn về Sa Pa. Vẫn còn một trận chiến thắng thật vinh quang như Điện Biên đang chờ các nhà nhiếp ảnh ở phía trước.

          Chiến thắng Điện Biên đã khép lại 60 năm qua. Nhưng trận Điện Biên của Văn Nghệ thì chưa có hồi kết thúc, Mặc dù các ngành nghệ thuật đều đã qua trận Him Lam mở đầu. Nhưng sự bừng tỉnh trong tư duy sáng tạo từ khi vào Tây Bắc, mãi mãi là một tiền đề có tính chiến lược để các ngành nghệ thuật tiếp tục đào thêm những thước hào vây lấn để rồi một ngày sẽ phất cờ trên đỉnh cao nghệ thuật thế giới. Chúng ta vẫn chờ đợi ngày đó.

NGUYỄN THUỴ KHA

Các Bài viết khác