NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

LAN KHAI – MỘT GƯƠNG MẶT CẤP TIẾN CỦA VĂN ĐÀN HIỆN ĐẠI

( 27-07-2017 - 09:24 PM ) - Lượt xem: 56

Sự nghiệp văn chương của Lan Khai thực ra chỉ gói trọn trong khoảng thời gian của nền văn học 15 năm trước Cách mạng – giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhưng phức tạp với các dòng văn học giao thoa và tương tác, đấu tranh với nhau.

1/ Nhà văn cấp tiến trên quan niệm hiện đại về văn chương nghệ thuật

Với lý luận văn nghệ mới mà ngày nay chúng ta đã xác định, quan niệm về văn chương, nghề viết và nhà văn ngày càng chính xác và hoàn chỉnh. Gần đây, trong buổi Hội thảo Nhà văn, Anh là ai? nhân tiểu luận của Ma Văn Kháng đã làm dấy lên những vấn đề và quan niệm có tính thời sự nhất.

Sự nghiệp văn chương của Lan Khai thực ra chỉ gói trọn trong khoảng thời gian của nền văn học 15 năm trước Cách mạng – giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhưng phức tạp với các dòng văn học giao thoa và tương tác, đấu tranh với nhau.

Bối cảnh lịch sử cũng thật đặc biệt về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá.

Thời kỳ lớn 1930 – 1945 được tạm chia làm 3 phân kỳ nhỏ: 1930 – 1935, 1936 – 1939, 1940 – 1945. Ba phân kỳ văn học này có sự tác động qua lại của các khuynh hướng văn học.

Có hiện tượng nhà văn không thuần nhất trong quá trình viết. Đã có nhận xét cho rằng, một số nhà văn lãng mạn chịu nhiều ảnh hưởng xã hội, chính trị trong Phong trào Mặt trận Dân chủ đã có tác phẩm mang khuynh hướng nghiêng về bút pháp hiện thực và đậm đà màu sắc dân tộc. Như Thạch Lam với Gió đầu mùa, Trần Tiêu với Con trâu, và Lan Khai với Lầm than. Đó là sự phân hoá của cây bút.

 

Riêng Lan Khai, vượt lên tất cả các biến động của thời cuộc xã hội và văn chương, nổi lên như là một nhà văn giữ vững quan niệm chính xác về chức năng văn học và thiên chức của nhà văn.

Mảng nghiên cứu, phê bình tiểu luận trong Lan Khai Tuyển tập (tập II) là minh chứng rõ nét cho những luận điểm tiến bộ rất đáng trân trọng, được các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao – Trần Mạnh Tiến, Phạm Quang Trung.

Người xưa đã nói nhiều về chức năng của văn chương. Có câu nói lưu truyền trong văn giới: “văn học là nhân học”.

Vào cái thời từng nổ ra tranh cãi nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, Lan Khai đã nói giản dị về văn chương: “(Văn chương) là sự phô diễn tâm linh và tư tưởng của loài người bằng văn tự”.

Về tố chất nghệ sĩ của nhà văn, Lan Khai đã có những sự đúc kết lý luận qua trải nghiệm đời viết dù còn ngắn ngủi của mình: “Văn sĩ là cái hạng, do tài năng, do từng trải và do học thức, đã được nhận là những tay thông ngôn cho sự cảm nghĩ của con người, lẩn sau cái tính riêng của từng dân tộc”. Hoặc như thiên chức lịch sử: “Cái thiên chức của chúng ta (nhà văn) là người truyền giáo dĩ vãng cho tương lai”.

Không thần thánh hoá, siêu nhiên hoá, cũng không tầm thường hoá là người chỉ viết kiếm cơm, áotrong xã hội khốn khó – “Văn chương Hạ giới rẻ như bèo”, Lan Khai xác định nhà văn chỉ là “con người”, “chỉ là một người với tất cả cái hay, cái dở của thằng người”. Đây là một quan niệm rất chính xác và mới mẻ so với những cây bút đương thời.

Nhà văn phân tích rõ hơn: “Người ta ở đời ai không có ít nhất một tật xấu khó chịu? Người ta chẳng phải là thần thánh, cũng không đến nỗi là quỷ sứ, người ta chỉ là người. Và chính người ta chỉ là người nên người ta mới đáng yêu”.

Nhiều thập niên qua, văn chương nghệ thuật đã nhấn mạnh và đề cao cá tính sáng tạo của nghệ sĩ, đi sâu vào nghiên cứu và phát huy thi pháp và phong cách nghệ thuật.

Lan Khai đã sớm chỉ ra và đề cao cái riêng biệt làm nên gương mặt đặc sắc của một nhà văn tài năng, rõ nhất là qua nhận xét những chân dung bè bạn đương thời – Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng, Tản Đà.

Có một quan điểm chính thống về tính dân tộc lâu nay được tiến hành, nhất là vào thời hội nhập văn hoá toàn cầu – “hoà đồng mà không hoà nhập”. Thật khâm phục giữa thời ảnh hưởng Âu hoá mạnh đã có những lời cảnh báo tỉnh táo. “Bằng vào những điều vừa đọc ở trong các sách báo Âu châu, người ta đổ xô đi ca tụng những cái do Âu châu sản xuất mà chính Âu châu vị tất đã lấy làm vẻ vang. Người ta làm rầm lên những cái chưa từng có trên đất nước này”.

Mặt khác, nhà văn xác định khái niệm chính xác về cái mà nay ta gọi là bản sắc dân tộc: “Ai muốn nói gì thì nói, tâm hồn dân tộc bao giờ cũng có những giới mốc khó lòng vượt qua”, “Mỗi dân tộc có một tinh thần riêng. Sự thật này là một cái gì rất đáng trân trọng. Tính dân tộc sẽ làm nên bức tranh văn chương nghệ thuật như thế! Nó làm cho nhân loại có vẻ đẹp như bức tranh muôn màu”. Và từng người sẽ góp sức làm nên các gương mặt độc đáo cho dân tộc: “Trong địa hạt văn chương, mỗi người chúng ta cần phải giữ gìn và làm cho rạng rỡ cái tính riêng của mình. Làm như thế tức là làm giàu cho cái tính chung của cả giống người vậy”.

Về địa hạt phê bình, Lan Khai cũng nêu tiêu chí khoa học khách quan, nhất là sự chân thành, mạnh dạn: “Ở đời, cái đáng sợ mất đi nhất ấy là sự bình chính”. Giữ được sự bình tâm, chính trực là điều đáng trân trọng nhất. Với ai cũng vậy, khen chê chính xác và chân thực. Đây có những lời bình của Tản Đà về cái “thơ ngây” rất đáng yêu, rất thú vị của thi sĩ bậc thầy này, “thơ ngây” một đời: “cứ mơ mộng hoài, mơ mộng cho tận đến trước khi nhắm mắt”.

Đọc những ý kiến phát biểu của Lan Khai từ cách đây 70 – 80 năm, chúng ta càng thêm trân trọng những quan niệm thức thời đi trước thời đại – như những cuộc đối thoại rất thời sự của ngày hôm nay.

Phải chăng đó cũng là một điều hơn người, và đáng phát huy ở một nhà văn đang đi cùng thời đại chúng ta? Điều quan trọng là chính Lan Khai là người bằng sáng tác của mình, đã chứng minh một cách hùng hồn lý luận qua sáng tác của bản thân, và nhận xét sáng tác của các đồng nghiệp đương thời.

2/ Người viết tiểu thuyết lịch sử với quan niệm mới

Trong văn học, từ lâu, đã có nhiều tiểu thuyết lịch sử. Và cuộc tranh luận về quan niệm viết về lịch sử cũng đã nổ ra từ lâu và đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Lan Khai được cho là nhà văn có số lượng tiểu thuyết lịch sử lớn nhất ở thế kỷ XX (gần 30 quyển). Ông cũng được đánh giá là người mở đường cách tân cho loại hình và đề tài này.

Trước hết, có thể thấy thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử là rất đa dạng. Từ vương hầu tới quân thần, thái hậu và thị nữ, từ anh hùng các tầng lớp – kể cả quần chúng, bọn giặc cướp cũng như bán nước, tay sai. Câu chuyện ở trong nước, ngoài nước (Trung Quốc), có thời xưa phong kiến, có thời nay chống xâm lược... Đề tài cụ thể khá nhiều: đánh giặc cứu nước, tranh chấp quyền lực, mưu bá đồ vương, đan lồng những chuyện tình sử với quốc sự.

Sự đổi mới của Lan Khai chính là dựa vào lối viết tiểu thuyết, tức thiên về hư cấu, tưởng tượng. Trong khi đó, văn đàn  vẫn tồn tại khuynh hướng lệ thuộc vào lịch sử, bám sát lịch sử khi tái hiện sự kiện và nhân vật, đặc biệt là những nguyên mẫu nhân vật lịch sử.

Viết về lịch sử, dĩ nhiên nhà văn phải có con mắt, cái nhìn và bộ óc, tức tư duy của nhà lịch sử. Nhưng Lan Khai có quan niệm, và chỉ ra sự khác biệt của văn chương và lịch sử. Hai quan niệm sáng tác khác nhau sẽ tạo ra hai thế giới nghệ thuật khác nhau.

Lan Khai dựng tiểu thuyết lịch sử từ hai nguồn chính – lịch triều và dã sử. Từ đó, ông tái hiện sự kiện và nhân vật qua những bức tranh riêng, về số phận con người.

Lan Khai đã viết lịch sử với cảm hứng và tâm thức chủ đạo của con người dân tộc.

Ông có quan niệm nghệ thuật về con người cùng ý thức dân tộc đồng thời khi cầm bút.

Minh triết “con người là con người” sẽ hướng dẫn miêu tả và thể hiện nhân vật như vốn là nó mà không trùng khít với chính nó. Các bậc đế vương, anh hùng không phải siêu nhân, họ cũng là người, họ biết yêu đương.

Trong Cái hột mận, Lý Công Uẩn là một vị tướng tài ba, thao lược, nhưng cũng là một khách tình si trước nhan sắc. Như vua bà Lý Chiêu Hoàng (Chiếc ngai vàng) trong sáng, ngây thơ yêu Trần Cảnh, rồi chân thành làm vợ, khát khao hạnh phúc. Đỗ Quyên đem lòng yêu người anh hùng Nguyễn Huệ (Treo bức chiến bào). Những nhân vật ở vị trí cao vời không chỉ mang nét kỳ ảo mà còn hoà lẫn với nét thông tục.

Dòng máu yêu nước tạo nên hồn cốt con người dân tộc. Có một câu nói mang ý nghĩa sâu sắc khi Thục Nương (Gái thời loạn) vĩnh biệt người đã yêu mình: “Em yêu chàng lắm, em thương chàng lắm! Nhưng mà trời ơi! Trước hết em còn phải là một người con gái của mẹ, một người dân của nước Nam”.

Theo Lan Khai, tính cách con người phải là tính cách Việt Nam – tức tính cách mang bản sắc dân tộc.

Một cách tân quan trọng của Lan Khai là nhà văn đã viết trực diện về lịch sử cận và hiện đại.

Cuốn Việt Nam: Người là ai? rất đồ sộ. Có bức tranh xâm lược  về giặc phương Bắc và thực dân Pháp. Có hình ảnh người anh hùng quần chúng và chúnh nhân quân tử yêu nước chiến đấu. Đó là những mảng sáng, vầng sáng trong bóng tối lịch sử. Đó cũng là sự kết hợp có mức độ giữa chính sự và thế sự. Trong nghệ thuật là sự kết hoà các yếu tố sử thi thế sự đời tư, kỳ ảo, lạ hoá như người tiên phong đã thể nghiệm thành công trong sáng tác.

3/ Nhà văn đầu tiên viết về những người thợ mỏ

Khi Lầm than xuất hiện, Hải Triều đã đánh giá đó là “tác phẩm đầu tiên của nền văn tả thực xã hội nước ta”. Dĩ nhiên, Lan Khai nằm vào tầm ngắm của nghệ thuật vị nhân sinh của nhà phê bình sắc sảo.

Thực ra, với Lan Khai, quan niệm nhân sinh gắn kết với quan niệm nghệ thuật.

Cần nhớ rằng Lan Khai là người viết có tiềm lực và khả năng sung mãn. Ông mang tư cách nghệ sĩ, và cả nhà hoạt động xã hội.

Tham gia nghệ thuật nghiệp dư trên sàn diễn với tư cách diễn viên, là nhà diễn thuyết khá thường xuyên cho Hội Truyền bá Quốc ngữ của Ngô Tất Tố. Ta cũng biết rằng, Lan Khai là một nhà hoạt động chính trị trẻ tuổi, tham gia Quốc dân Đảng với Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu từ thời kỳ đầu.

Viết Lầm than, rõ ràng là một ý thức chính trị tuy nhà văn chưa có quan điểm giai cấp như một người giác ngộ sâu sắc. Tác phẩm này thiên về cảm hứng nhân sinh, nhà văn nặng về chia sẻ và cảm thông chủ yếu với thân phận cùng khổ của phu mỏ. Đó là kết quả từ việc sinh sống và gắn bó tự nhiên với thế giới nhân vật, kết hợp với sự khám phá những tâm hồn cao đẹp của thế giới thợ thuyền, phu phen bần cùng.

Lầm than trước hết thể hiện một bức tranh toàn cảnh chân thực về một vùng mỏ, nhất là đời sống thân phận của thế giới cần lao trong tăm tối.

Trần Huy Liệu trong đề tựa cuối sách đã đánh giá cao giá trị hiện thực của tác phẩm: “Những tình cảnh, những phong tục cho đến những tâm lý của đám dân nghèo – mà tác giả mô tả là rất đúng”. Trong khi Hải Triều thì nhấn mạnh và đề cao  khuynh hướng tả thực xã hội chủ nghĩa.

Thế giới nhân vật chia làm hai phe đối lập rõ rệt: chủ và thợ. Tác phẩm có giá trị như tiếng nói tố cáo, phản kháng, phẫn nộ với áp bức, bóc lột và lòng thương cảm sâu sắc với những phận người bần cùng, khốn khó.

Thuật là nhân vật trung tâm. Bố anh cũng là thợ mỏ, nhưng tiêu biểu cho lớp người nhẫn nhục, tha hoá, sa vào nghiện ngập, rượu chè, cờ bạc. Những người thợ mỏ sống lầm lì, u uất trong cảnh bị bóc lột thậm tệ. Tép là cô gái xinh đẹp, vì mẹ ốm phải đến vay tiền cai Tứ, bị hắn ép, lập mưu cho chủ mỏ hãm hiếp. Sau tai hoạ ê chề, đau đớn của Tép, Thuật thông cảm, đem lòng yêu mến và lấy cô trong cảnh cưới chạy tang.

Tai nạn sập lò, nhiều người bị nạn, trong đó có bè bạn thân thiết. Đau đớn, Thuật quẫn trí, lao vào rượu chè. Cai Tứ mời Thuật đến nhà, chiêu đãi rượu, thuốc phiện và gạ Thuật đem vợ hiến cho chủ Tây. Quá giận, Thuật xông vào đánh cai Tứ và cả tên chủ, với ý nghĩ: “Một mất, một còn”.

Hôm sau, bọn chủ Tây, cai Tây, cai Tứ và cảnh sát đã bắt Thuật lôi đi, vu cho án tích ăn cướp nhà cai Tứ và hành hung người bề trên. Tép kêu khóc, bà con xúm lại căm phẫn nhưng không dám manh động. Thuật bị đưa ra toà, xử 18 tháng tù giam. Trong đau khổ của Tép, Cai Tứ lại mang tiền đến dụ dỗ chị lên với chủ. Tép phẫn uất, ném đống giấy bạc vào mặt hắn và quát: “Biến ngay đi, đồ chó!”.

Thế giới thợ mỏ là những người cần lao, lam lũ, chịu khó, chịu khổ, nhưng giàu tình yêu thương giai cấp và sẵn cóý chí đấu tranh chống đối. Tép đã có lần nằm mơ thấy anh em công nhân đình công rầm rộ dữ dội như sóng dồn để tự bảo vệ và xông vào cai Tứ. Đó chỉ là niềm tin và khát vọng chân thành của con người bị đè nén dưới đáy sâu vực thẳm.

Đúng như Hải Triều đã viết: “Đọc xong Lầm than, tôi thấy tác giả của nó mạnh dạn tiến lên trên con đường sáng sủa mà đầy cả chông gai, con đường bênh vực cho giai cấp cần lao, con đường của chủ nghĩa xã hội. Điều ấy là một điều đáng ghi nhớ trong lịch sử và văn học của xứ này”. Quả nhiên, tác giả Lầm than đã bị bắt tù. Nhà văn ấy đáng được vinh danh trong lịch sử văn chương, nhưng trước hết đáng tôn vinh trong lịch sử như một người yêu nước dũng cảm trong công cuộc đấu tranh với kẻ thù thực dân thời kỳ đó.

Lan Khai từng vào tù – nhà tù đế quốc đến trại giam phát xít – vì tội viết sách “tuyên truyền cho cộng sản” chống chế độ và lưu hành báo chí của Việt Minh thời kỳ tham gia Văn hoá cứu quốc bí mật. Án tich ấy chính là chiến tích của một nhà văn tiên phong trên đường đến với cách mạng. Lầm than lấp lánh như một tấm huân chương chiến công!

4/ Người mở cánh cửa cho truyện đường rừng

Truyện đường rừng có thời là một loại truyện khá ăn khách như trình bày những bông hoa lạ của một vùng miền mới. Người ta dễ tìm ở đó những khung cảnh kỳ bí của thiên nhiên nơi “rừng thiêng, nước độc”. Lại có thể thấy được những phong tục lạ lẫm của thế giới tâm linh. Đặc biệt là bạn đọc thấy được những mẫu người lạ trong một thế giới lạ - vừa hiện thực vừa huyền ảo pha chút màu sắc ma mị, kỳ quái.

Những nhà văn cao tay nghề và có kinh lịch qua các vùng sâu, vùng xa cũng đi khá sâu vào địa hạt văn chương này.

Bạn văn của Lan Khai là Lê Văn Trương cũng có không ít sáng tác khá hấp dẫn viết và viết từ sự trải nghiệm và khám phá của bản thân. Trong miền Nam, có Lý Văn Sâm cũng nổi tiếng như một nhà văn của truyện đường rừng.

Lan Khai vốn sinh trưởng ở vùng rừng núi Tuyên Quang. Lớn lên, khi đã có đủ điều kiện, trong nhiều năm, ông còn đi ngao du kết hợp với khảo sát các vùng miền núi tới tận Tây Nguyên. Nhờ việc thâm nhập vào sinh hoạt, và cả lễ hội, phong tục tập quán của các vùng miền, nhà văn đã tích luỹ thêm nhiều kiến thức để viết nên những bộ truyện đường rừng đầy trải nghiệm cá nhân rõ rệt.

Đó là cách viết của người trong vùng miền, người trong cuộc – một chứng nhân lịch sử hơn  hẳn nhiều nhà văn khác

Như nhiều người viết cùng đề tài, trước hết Lan Khai vén màn bí mật chốn sớn lâm để giới thiệu những cảnh quan khác lạ. Có nhiều truyện ngắn và cả tiểu thuyết mang yếu tố kỳ ảo.

Tác phẩm đầu tay – Rừng khuya (1935) là sự trình làng buổi đầu đã mang dấu ấn của tiểu thuyết đặc sắc. Tất cả 6 truyện đường rừng của Lan Khai làm phân biệt ông với Thế Lữ, Đái Đức Tuấn, và cả Nhất Linh, Khái Hưng, Lưu Trọng Lư.

Cần lưu ý rằng, Lan Khai viết văn còn với tư cách người làm thơ và biết hội hoạ. Vì vậy, ông đúng là mang tư chất nghệ sĩ trong nghệ thuật văn chương.

Trên báo Loa(1935), Trương Tửu đã có bài viết – “Lan Khai – Nghệ sĩ của rừng núi”. Truyện đường rừng của Lan Khai bao gồm cả truyện ngắn và truyện dài (tiểu thuyết). Thế giới nghệ thuật truyện, như vậy, là rất phong phú.

Truyện ngắn mang nhan đề truyện ngắn trưyền kỳ: Người lạ, Con thuồng luồng nhà họ Ma, Đôi vịt con, Con bò dưới thuỷ tề, Tiền mất lực, Khảm khắc, Dưới miệng hùm. Tiểu thuyết cũng gồm 6 cuốn: Rừng khuya, Tiếng gọi của rừng thẳm, Dấu ngựa trên sương, Suối Đàn, Chiếc nỏ cánh dâu, Hồng Thần. Tổng cộng là 13 tác phẩm.

Lan Khai sáng tạo truyện đường rừng, cũng là con đường chuyển giao từ chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực như khuynh hướng sáng tác chính của văn nghiệp. Các nhà văn đều mang đến cho bạn đọc một cái nhìn toàn cảnh về đời sống, tâm lý, phong tục tập quán của con người nơi núi cao rừng thẳm, nhưng còn nhiều kỳ bí và thiên nhiên đầy bất trắc hiểm nguy.

Lan Khai đã góp phần tái hiện bức tranh miền núi hiện thực hơn cả về người và cảnh.

Thế giới đường rừng của Lan Khai, trước hết, là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, đầy thơ mộng. Cảnh vật rừng núi được bố cục hài hoà như bức tranh vẽ, khác với cảnh u tịch, bí ẩn, rùng rợn, kinh hãi của nhiều tác giả viết cùng đề tài. Ngày thường tươi sáng, trong khi đêm, trái lại, lại có chút trầm mặc, hoang sơ, linh thiêng  và có phần nào ma quái trong những âm mưu tàn ác.

Tuy nhiên, thiên nhiên rừng núi truyện Lan Khai nổi bật ở đặc điểm gắn bó với con người và đời sống mang màu sắc bản địa với những phong tục, tập quán, có phần khác lạ của xứ lạ gợi nhiều dư vị. Như trang phục của từng dân tộc, tục bắt chồng của người Dao,... có ý nghĩa dưới con mắt nhìn của một nhà khảo cứu dân tộc.

Không – thời gian truyện thường khép kín, nổi bật là tâm trạng. Lan Khai đã xây dựng được không gian mơ ước yêu thương phù hợp với trai gái vùng cao.

Chất thơ hoà lẫn với tự sự là một đặc điểm trong những trang viết truyện đường rừng của Lan Khai.

Thế giới nhân vật truyện đường rừng của Lan Khai cũng rất phong phú và linh hoạt.

Đã có trai gái, trẻ già với những hình dáng, tính cách khác nhau của hai thế giới thiện và ác.

Có những hình tượng nhân vật xấu xí, độc ác thuộc tầng lớp thống trị chốn rừng xanh, núi đỏ: Lão Chánh Tsi Nèng (Rừng khuya), Tô Chố (Dấu ngựa trên sương), Mat Nar  (Chiếc nỏ cánh dâu).

Người thiện chiếm số đông. Đó là những người lương thiện, tài năng, mưu trí, nhưng bất hạnh trong khốn khó, khổ cực. Đó là Ghình Gúng và cô con gái Tsi Na, là người đàn bà họ Ma, là Cang Ngườn, là Phù, là Mai Khâm,...

Nổi bật là những hình tượng cô gái xinh đẹp mang cá tính mạnh mẽ. Như Dua Phăn trong Rừng khuya, Peng Lang trong Tiếng gọi của rừng thẳm, Én trong Suối Đàn, Lô Hli trong Tiền mất lực, Pengai Lâng trong Chiến nỏ cánh dâu, phụ nữ Dao trong Hồng Thầu. Mỗi người xinh đẹp một vẻ - tâm hồn trắng trong, tâm tính dịu dàng như những bông hoa rừng đầy hương sắc.

Tuy nhiên, khi cần, họ rất mạnh mẽ, quyết liệt, sẵn sàng dâng hiến, dám hy sinh. Hầu hết họ đều có số phận đáng thương, là những nạn nhân khổ đau của xã hội miền núi vẫn còn nhiều lạc hậu, với những áp chế của cường quyền, những hủ tục và sự ích kỷ tàn độc của con người.

Vượt lên tất cả những câu chuyện, những tình cảnh nơi đường rừng là một thông điệp về sự kêu gọi lòng thương yêu, sự thân thiện giữa những con người. Cũng có thể hiểu là lời cổ vũ cho sự gắn bó thân thiết giữa những con người bộ tộc, và quyền sống và hạnh phúc của công dân.

Cái nhìn nhân văn với thiên nhiên con người miền núi là đặc điểm nổi trội của Lan Khai.

Trương Tửu chỉ nhận xét, nhấn mạnh Lan Khai với đề tài kỳ thú: “đã mở lối cho nghệ thuật bước vào một thế giới lạ lùng, đầy rẫy những hình trạng nhiệm màu, đột thú”. Tuy nhiên, Tiếng gọi của rừng thẳm chính là tiếng gọi của hồn người, tình người.

Đây chính là cửa mở để đi vào thế giới đường rừng của Lan Khai. Từ đây cũng là gợi mở cho hứng thú đi sâu vào phát huy những giá trị văn hoá của các vùng dân tộc.

Lan Khai là người có công định hướng chính xác cho đề tài so với tương quan đồng đại và cả lịch đại: hơn nhiều nhà văn đương thời, và đi trước nhiều nhà văn hiện đại danh tiếng sau này.

õõõ

Do nhiều lý do lịch sử, Lan Khai là một nhà văn tài năng bị lãng quên và đánh giá chưa đầy đủ sự công bằng của giới nghiên cứu văn chương và nghệ thuật.

Ngày 27/6/2006, đã có Hội thảo “Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn.

Trong tình hình đổi mới văn học, đã có nhiều đánh giá mới về văn nghiệp và vai trò của Lan Khai. Hữu Thỉnh, đương kim Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã đánh giá: “Lan Khai là một tài năng xuất sắc trong văn học hiện đại nước nhà”.

Đánh giá của PGS. TS Nguyễn Văn Long – trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cho rằng: “Tiểu thuyết Lầm than của Lan Khai mở đầu trào lưu hiện thực.  Nếu đặt cạnh tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố sẽ thấy những điểm tích cực hơn”. Thiếu tá Hoàng Mai – Bộ Công an, còn đề cao tác giả hơn nữa, và nhận định: “Lan Khai là người có công với nước”.

Một nhận định có tính tổng quát, chính xác, góp phần tôn vinh Lan Khai trong sự nghiệp văn học, văn hoá được PGS. TS Trần Mạnh Tiến – Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên gia hàng đầu về Lan Khai đưa ra:

“Tư tưởng bao trùm trong sáng tác của ông là tinh thần độc lập, tự do chống áp bức, bóc lột, tình yêu thương con người, tinh thần đoàn kết cộng đồng các dân tộc, vấn đề bảo vệ môi trường thiên nhiên, vấn đề giải phóng con người khỏi tối tăm, nô lệ, không ngừng đấu tranh cho cái đẹp và cái thiện, vấn đề bảo vệ và phát huy cái tinh hoa nòi giống tổ tiên, vấn đề xây dựng một tân văn hoá cho tương lai dân tộc”.

Tất cả hình thành ý thức tiên phong trong hoạt động, nghệ thuật của Lan Khai.

Lan Khai đang được là chính ông, nguyên vẹn như ông từng sống và viết.

Các thế hệ độc giả hôm nay đã nhìn nhận ông với một tầm vóc mới, ít nhất là ngang hàng với các tác giả tên tuổi một thời và trong lịch sử văn học của dân tộc./.

CHÚ THÍCH

 (*) Những trích dẫn về phê bình tiểu luận của Lan Khai đều lấy từ Lan Khai Tuyển tập (tập II)

(**) Những trích dẫn về nhận định với Lan Khai đều lấy từ Lan Khai – Nhà văn hiện thực xuất sắc.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lan Khai (2004), Truyện đường rừng (tác phẩm và chuyên luận), Văn hoá thông tin.

[2] Lan Khai (2006), Lan Khai – Nhà văn hiện thực xuất sắc, Hội Nhà văn.

[ 3]  Lan Khai (2010),  Tuyển tập I – II, Văn học.

[4] Nhiều tác giả (1999), Văn học Việt Nam 1900 – 1945, Giáo dục.

PGS.TS ĐOÀN TRỌNG HUY

Các Bài viết khác