NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

LA QUÁN TRUNG VÀ TAM QUỐC DIỄN NGHĨA

( 14-11-2016 - 09:48 AM ) - Lượt xem: 312

Tam quốc chí diễn nghĩa là tác phẩm có vị trí và ảnh hưởng nhất định trong lịch sử văn học ở Trung Quốc, cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Tác phẩm xuất hiện và lưu hành hàng trăm năm qua ấn phẩm, sách dịch và nhiều sản phẩm sân khấu, điện ảnh.

Truyện Tàu Tam quốc diễn nghĩa(Tam quốc chí diễn nghĩa) vốn lưu hành ở Việt Nam đã từ lâu – vào đầu thế kỷ XX với sự phát triển của chữ Quốc ngữ, qua nhiều thế hệ bạn đọc.
Đã có rất nhiều bản dịch từ trước và sau năm 1945. Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là cuốn sách từ năm 1909 của Phan Kế Bính dịch, do Bùi Kỷ hiệu đính (Phổ thông, 1959), in lại theo bản 13 tập (Văn học, 2007).
Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của văn học cổ Trung Quốc. Tác phẩm được xếp vào hàng Tứ sử (Sử ký – Hán thư – Hậu Hán thư,Tam quốc chí), Tứ đại danh tác (Tam quốc diễn nghĩa – Thuỷ hử - Tây du ký), Tứ đại kỳ thư (Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Tây du ký, Kim Bình Mai)...
Khi vào Việt Nam, Tam quốc diễn nghĩa còn làm xuất hiện hàng loạt ấn phẩm khác, bình luận về nhân vật, sự kiện liên quan, hoặc khảo cứu về bản thân tác phẩm, tạo ra những cách cảm thụ, những cách nhìn đa chiều về chính tác phẩm bất hủ này. Đó là những nhận xét, bình giải, nghiên cứu của không chỉ các tác giả Việt Nam, mà còn có cả các tác giả ngoại quốc trong những khoảng thời gian khác nhau trong suốt hơn thế kỷ qua.
I/ VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
Tác giả tập sách là La Bân (1330? – 1400?), tự Quán Trung, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.
Ông sinh vào thời Nguyên, mất vào đầu thời Minh. Đó là thời đại mà mâu thuẫn dân tộc, và mâu thuẫn giai cấp diễn biến cực kỳ phức tạp. Xã hội đầy rẫy nhiễu nhương, hỗn loạn, chiến tranh liên miên, vô cùng tàn khốc. Các tập đoàn phong kiến tranh nhau giành quyền lực, bộc lộ tham vọng chiếm quyền thống trị.
La Quán Trung đã dùng con mắt sắc sảo về thể hiện và phân tích để nhìn hiện thực lịch sử. Tác giả mang bút hiệu là Hồ Hải tản nhân, từng bôn tẩu ngược xuôi khắp chốn đông tây, nam bắc, là bậc thi nhân mặc khách sành sỏi về sáng tác, thưởng thức văn chương, cũng là một loại chính khách mang hoài bão chính trị lớn lao. Tuy nhiên, nhân thân và tung tích của ông vẫn còn nhiều bí ẩn và mơ hồ.
Ngoài Tam quốc chí diễn nghĩa, ông còn viết Tàn Đường lưỡng triều chí truyện, Tàn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện và tạp kịch Tống Thái Tổ long hổ phong vân hội.
Tác giả là người viết mang tư tưởng chính thống phong kiến, chịu ảnh hưởng của Nho giáo sâu sắc. Tuy nhiên, tư tưởng chính trị và xã hội của ông có nhiều tiến bộ của một người trí thức ưu thời mẫn thế cuối triều Nguyên.
Thể hiện rõ nhất là xây dựng và ca ngợi Lưu Bị trong Tam quốc chí diễn nghĩa là bậc chúa phong kiến, bình sinh không làm việc gì để lợi mình, hại người. Hoặc như Triệu Khuông Dẫn trong Tống Thái Tổ long hổ phong vân hội là một hoàng đế “suốt đêm không ngủ tìm phương kế”, quan tâm thường xuyên tới nỗi khổ của trăm họ. Đó là tư tưởng tôn sùng minh quân một thời.
Lại thấy rất rõ là thái độ ca ngợi trung quân nghĩa khí, và lên án gian thần xảo trá, phân minh thiện – ác. Nhất là ông miêu tả được xã hội “dân đen chết nơi thôn xóm, anh tài mai một trong rừng sâu, trung lương chết oan dưới gươm giáo”, thể hiện tư tưởng cao hơn hẳn những phần tử trí thức phong kiến đương thời.
Ở Trung Quốc, từ lâu, đã lưu truyền Tam quốc trong dân gian, hoặc nghệ nhân dân gian kể chuyện Tam quốc. Đời Nguyên có bộ Tam quốc chí bình thoại được in khắc vào khoảng từ 1321 – 1323. Có cả tạp kịch diễn xướng Tam quốc, và nhiều thơ ca vịnh chuyện Tam quốc.
Khi biên soạn Tam quốc chí diễn nghĩa, La Quán Trung đã tham khảo tất cả, từ lịch sử đến truyện lịch sử, và cả truyền thuyết, văn học dân gian. Tuy nhiên, với thể loại tiểu thuyết, dù là cổ điển, cũng cho phép có phần tưởng tượng của người viết. Ở đây, chúng ta thấy được bình luận theo tỷ lệ 7 + 3 (7 phần thật, 3 phần hư cấu).
Và nhất là tác phẩm thể hiện khuynh hướng, tư tưởng chính trị, và luân lý, đạo đức rất rõ của tác giả.
Tam quốc chí diễn nghĩa hiện được dịch và in ra suốt mấy trăm năm. Đã có một số thay đổi, sắp xếp về kết cấu. Lưu hành rộng rãi nhất là bản 120 hồi do cha con Mao Tôn Cương sửa chữa, và bình luận vào đầu đời Thanh

II/ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA
Tam quốc chí diễn nghĩa là một tiểu thuyết vô cùng hoành tráng về nội dung, cốt truyện và nhân vật.
Truyện lấy bối cảnh thời suy vi của nhà Hán. Triều chính bê tha, kinh tế suy sụp, an ninh bất ổn. Cuộc đấu tranh giành quyền lực của các phe phái diễn ra trong ngót một thế kỷ: từ Trung Bình năm thứ nhất đời Linh đế (Lưu Hoàng) Đông Hán (184) đến Thái Khang năm thứ nhất đời Vũ đế (Tư Mã Viêm) Tây Tấn (280). Cuộc chiến tranh loạn lạc giữa mười quân phiệt kéo dài từ năm 190 – 200. Trải qua Tiền Xích Bích (200 – 208), Hậu Xích Bích (208 – 220) là ba nước cùng xưng đế tranh chấp trong thế Tam quốc. Thời đại Tam quốc cuối cùng cũng chấm dứt sau gần một thế kỷ xung đột.
Truyện Tam quốc là chuyện chiến tranh gần một trăm năm của ba thế lực, nhưng thực chất chỉ là cuộc đối đầu giữa hai nước lớn là Thục Hán và Tào Nguỵ, còn Tôn Ngô chỉ là lực lượng trung gian. Khuynh hướng của truyền thuyết vốn có là “ủng Lưu, phản Tào” được lưu hành trong dân gian.
Tư tưởng chủ đạo nổi bật của Tam quốc chí diễn nghĩa chính là ca ngợi Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi, Gia Cát Lượng, và lên án bọn Đổng Trác, Tào Tháo,... Tác phẩm cũng nói lên được lòng bất mãn với hiện thực xấu xa của xã hội, và lý tưởng về chính trị, xã hội và luân lý có khuynh hướng tiến bộ của tác giả.
Tam quốc chí diễn nghĩa thể hiện rõ rệt những mâu thuẫn và các cuộc đấu tranh quyết liệt hết sức phức tạp của các tập đoàn chính trị, tập đoàn quân sự trong nội bộ các thế lực giai cấp thống trị phong kiến, mà chủ yếu là giữa hai nước Thục Hán và Tào Nguỵ. Tác phẩm, vì vậy, miêu tả chủ yếu về đời sống quân sự và chính trị của vương hầu tướng lĩnh: từ những mưu toan đoạt quyền, chèn ép, đàn áp về chính trị, những cuộc binh đao liên miên, cảnh xã hội ly tán, tình trạng nhân dân vô cùng cực khổ.
Tất cả tạo thành nội dung chính yếu của bộ tiểu thuyết chương hồi đồ sộ. Tác giả đã tái hiện được sự thực lịch sử thông qua sự kiện, cảnh tượng và hệ thống nhân vật rất sinh động.
Khuynh hướng tư tưởng , thái độ khen chê rất minh bạch.
Do phản đối Tào Tháo, tác giả dồn hết mọi sự xấu xa, bỉ ổi, tàn ác vào chính nhân vật lịch sử này.
Hình ảnh “Tào thừa tướng gạt vua dối trên” được tô đậm: cảnh giết hoàng hậu, bức vua hết sức hung ác. Triết lý sống, và hành động của Tào Tháo thể hiện rõ bản chất ích kỷ, độc ác của giai cấp thống trị: “Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta”, hoặc “Người không vì mình thì trời chu đất diệt”.Gia đình riêng cũng rất tăm tối: Tào hậu chửi Hán đế, tính toán ích kỷ; anh em Tào Phi, Tào Thực thì nồi da nấu thịt.
Bản thân Tào Tháo bộc lộ rõ tham vọng quyền thế ghê gớm, và bất chấp tất cả để đạt được mục đích bằng các thủ đoạn cướp đoạt, đàn áp, giết chóc tàn ác. Vì có tính đa nghi, nên y “lấy oán báo ân”, như giết cả nhà Lã Bá Xa, thị oai kẻ thù “mượn đầu thị chúng” với thuộc hạ Vương Hậu, rồi tàn sát thường dân vô tội ở Từ Châu... Tuy nhiên, tác giả cũng không phủ nhận tài thao lược, hành vi xử phạt công minh của Tào Tháo.
Ngược lại, tác giả lại tả Lưu Bị là người trung hậu, nhân ái. Tư tưởng đáng khen lớn nhất của ông chính là “thân dân”: “muốn làm việc lớn phải lấy dân làm gốc”. Hành động rõ nhất là bị Tào Tháo đánh bại ở Tân Dã đã đem theo hàng vạn dân đi tị nạn, và phái Quan Vũ đi bảo vệ nạn dân. Mưu đồ chính trị của Lưu Bị, trong chừng mực nào đó phù hợp với yêu cầu của dân như ý thức trung nghĩa với nhà Hán.
Lưu Bị còn nổi bật là người tín nghĩa trong kết giao với các thành viên trong nước Thục của mình. Hình ảnh “Vườn đào kết nghĩa” là tượng trưng cho sự gắn bó keo sơn ruột thịt của Lưu – Quan – Trương (Lưu Bị – Quan Vũ – Trương Phi), mang ý nghĩa đạo lý nhân sinh thật lớn lao, được truyền tụng mãi.
So với Tào Tháo, thì Lưu Bị là người trọng hiền tài thực sự. Tích “Tam cố thảo lư” chính là sự việc tiêu biểu cho thái độ nhún mình, cầu hiền của người chủ tướng nước Thục. Trong mọi quan hệ, Lưu Bị luôn nổi bật là con người đạo đức, là đại diện cho trung nghĩa và tín nghĩa. Ông từng nói: “Mối thù đối với giặc nhà Hán là việc công, mối thù của anh em là việc tư, mong lấy thiên hạ làm trọng”. Vậy là công, tư phân minh: “tư” là tín nghĩa bạn bè cá nhân, “công” là trung nghĩa bảo vệ nhà Hán. Lấy thiên hạ làm trọng là điều tối thượng vì lợi ích chung của nhà nước phong kiến.
Quan điểm đạo đức của tác giả, dĩ nhiên, nằm trong khuôn khổ tư tưởng phong kiến, nhưng có mặt tiến bộ là như vậy. Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân – mỗi người một vẻ, nhưng về cơ bản thì đều có cùng tư tưởng đạo đức với Lưu Bị.
La Quán Trung cũng là người đề cao trí tuệ. Tác giả đề cao lòng dũng cảm bằng sự kết hợp với mưu quyền, tài chiến trận phải xuất phát từ vẻ kinh luân tế thế. Trí và dũng kết hợp thì mới đủ khả năng ứng phó mọi tình thế.
Nhân vật được hết lời ca ngợi – Khổng Minh Gia Cát Lượng chính là người túc trí đa mưu. Ông là người biết kết hợp khôn khéo, hiệu quả giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự. Vì nắm vững, biết phân tích sắc sảo các tình tiết, sự kiện nên có dự đoán, tiên liệu chính xác, do đó ông thường có được kết quả như mong muốn. Nói Gia Cát Lượngliệu việc như thần chính là biểu dương đức tính thông tuệ tuyệt vời, nắm vững quy luật phát triển, quy luật đấu tranh của vị quân sư tài ba.
Thành công chủ yếu của nhà tiên tri này chính là sự đấu trí. Đấu trí và đấu lực, thường đấu trí phải đi trước. Thắng lợi cuối cùng chính là chiến thắng của việc đấu trí.
Gia Cát Lượng là người có trí, nhưng cũng có dũng. Dũng cảm sẽ tôn trí tuệ, làm nên một giá trị tinh thần thật đẹp. Đây chính là hình tượng hoá thân trí tuệ trong lòng độc giả. Kiểu nhân vật này cũng là hoá thân của lý tưởng tác giả. Sách lược quân sự, chính trị là do tư tưởng quân sự và chính trị chỉ đạo: Gia Cát Lượng là nhân vật lý tưởng trong Tam quốc chí diễn nghĩa.
III/ ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA
Có nhận xét cho rằng,Tam quốc chí diễn nghĩa là một bộ tiểu thuyết mang phong thái sử thi. Hiển nhiên, đây chính là tiểu thuyết về lịch sử, dựng lại không khí của cả một thời đại trong gần một thế kỷ. Hiện thực lịch sử thật lớn lao, bao quát tất cả mọi tình thế chính trị, xã hội. Vấn đề chiến tranh qua tranh giành quyền lực các tập đoàn, các vương triều phong kiến là bao trùm toàn cục.
Bộ tiểu thuyết đề cập tới vấn đề đời sống chính trị, và cả đời sống nhân sinh trong xã hội cổ đại. Vì vậy, ta cần hiểu theo nghĩa rộng là - Tam quốc chí diễn nghĩa có tính chất sử thi, sử thi của thời cổ đại ở Trung Quốc.
Dễ thấy rằng, nổi bật của toàn bộ tác phẩm là một kết cấu hoành tráng của tiểu thuyết chương hồi.
Thực chất, đây là một tiểu thuyết lịch sử về chiến tranh. Đó là một cuộc chiến có quy mô rất lớn, kéo dài khoảng trăm năm trong toàn lãnh thổ của Trung Hoa cổ đại.
Tài năng có sức thuyết phục của bộ tiểu thuyết là đã thể hiện được một cuộc chiến tranh phong phú, đa dạng hiếm có, mà thực chất là bao gồm những cuộc chiến tranh nhỏ lẻ đan xen giữa các tập đoàn trong phạm vi ba nước – các quốc gia tự xưng: Nguỵ – Thục – Ngô.
Cái tài của tác giả là ở chỗ tuy miêu tả chiến trận nhưng vẫn tôn trọng lịch sử, miêu tả cuộc chiến với sức hấp dẫn đầy tính nghệ thuật. Đây là một mẫu mực thành công của bút pháp miêu tả. Các chiến lược, sách lược được thể hiện biến hoá với nhiều màu sắc: Có trận đánh lớn, có trận đánh nhỏ, nhưng không chỉ đơn giản là bài binh bố trận, tiến công của hai bên, kết cục thắng hay bại. Cho dù đây chỉ là cuộc chiến thời cổ đại, vũ khí, quân trang còn thô sơ, thực chất chỉ là cuộc chém giết.
La Quán Trung đã phác thảo trên nét lớn, bình diện bao quát nhưng hiệu quả nghệ thuật không kém phần miêu tả tinh vi. Thuật chuyện được sử dụng nhiều hơn miêu tả.Kẻ chuyện rất linh hoạt, sinh động, biến báo. Đó cũng là nét đặc sắc của một tác phẩm bề thế, đồ sộ.
Toàn tả chiến trận, chuyện “đánh nhau” mà thiên biến vạn hoá. Cảnh lớn, cảnh nhỏ nhờ “mở ra hết”; cảnh này tiếp cảnh khác, thậm chí “kinh hồn bạt vía”, “ hồn siêu phách lạc”!
Có khung cảnh bao la, bát ngát của trận hoả công khí thế ngút trời như Xích Bích. Lại có cảnh ung dung, khoan thai như Gia Cát Lượng gảy đàn trong trận “ kế bỏ không thành”. Hay như Bàng Sĩ Nguyên khêu đèn đọc sách trong trận Xích Bích. Có nét căng thẳng, kịch liệt, hiểm nguy, nhưng cũng có vẻ đượm sử thi hào hùng. Trong động có tĩnh, trong tĩnh có động, đó là nét bút thần tạo ra vô vàn dư vị.
Về mặt xây dựng nhân vật, Tam quốc chí diễn nghĩa đã có thành tựu đặc sắc, đáng làm ta kinh ngạc.
Trên nền của hơn 400 nhân vật, vẫn có những cụm nhân vật, và những hình tượng nhân vật điển hình đặc sắc.
Cùng là thủ lĩnh của các tập đoàn, tuy nhiên Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền mỗi người mỗi vẻ. Ai cũng có tính cách và phong cách mang đặc điểm riêng. Các chiến tướng Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung, Hạ Hầu Đôn, Triệu Vân, Trương Liêu, Chu Du, Lục Tốn,... đều được phân biệt rõ về tính cách, phong thái. Các mưu sĩ như Gia Cát Lượng, Tuân Húc, Lỗ Túc cũng có những cá tính riêng biệt. Các nhân vật chính đều rất sinh động, rõ nét.
Có những hình tượng rất sinh động, như Trương Phi chẳng hạn . Ông được miêu tả là con người trung thực, thẳng thắn, nhưng nóng nảy, lỗ mãng và dễ cực đoan. Chu Du được khắc hoạ là nhân vật trẻ tuổi, thông minh, đầy hào khí, nhưng hiếu thắng và hay đố kỵ, dễ bị kích động (như chuyện “Tam khí Chu Du”).
Xưa nay, trong dư luận văn học, việc xây dựng điển hình trong Tam quốc chí diễn nghĩa là có “tam tuyệt”: Tào Tháo gian tuyệt, Quan Võ nghĩa tuyệt và Khổng Minh trí tuyệt... Đó là nghệ thuật điển hình hoá. Tính cách được miêu tả toàn vẹn, nhưng nổi bật những nét đặc trưng nhất.
Có thể coi Tào Tháo, Trương Phi, Gia Cát Lượng là những nhân vật điển hình thành công nhất của bộ tiểu thuyết Tam quốc chí diễn nghĩa.
Tuy nhiên, hỗ trợ cho tưởng tượng, hư cấu, pha trộn truyền thuyết, tác giả bộ tiểu thuyết còn sử dụng thủ pháp cường điệu, phóng đại để phụ trợ, làm nổi bật tính cách điển hình của nhân vật.
Nhân vật lịch sử và nhân vật văn chương có sự biến báo, nhưng vẫn bảo đảm tính chân thật lịch sử: Hình tượng không đến nỗi hoàn toàn cách xa, mà vẫn có thể dễ dàng nhận ra được là con người thật lịch sử. Có một câu nói lưu truyền ở Trung Quốc: “Truyện Tam quốc là thật, truyện Phong thần là giả” để nói lên đặc điểm sáng tác của bộ tiểu thuyết La Quán Trung.
Phong cách ngôn ngữ kết hợp bạch thoại và văn ngôn.
Đó cũng là một nét đặc sắc của ngòi bút tiểu thuyết của tác giả Tam quốc chí diễn nghĩa. Đan xen kiểu văn hàn lâm với văn bình dân, làm nên một tiểu thuyết bình dân gần gũi với quần chúng, được lưu truyền rộng rãi là một thành công đáng kể của tác giả.
La Quán Trung đã tiếp nối được truyền thống “Bình thoại” từ thời trước. Tiểu thuyết có quy mô dài hơi, dùng khẩu ngữ, phương ngôn để kể lại sự tích về các vị anh hùng trong lịch sử, có khuynh hướng ca ngợi hay chỉ trích, lấy xưa răn nay.

Tam quốc chí diễn nghĩa là tác phẩm có vị trí và ảnh hưởng nhất định trong lịch sử văn học ở Trung Quốc, cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Tác phẩm xuất hiện và lưu hành hàng trăm năm qua ấn phẩm, sách dịch và nhiều sản phẩm sân khấu, điện ảnh.
Do những quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức, xã hội, văn hoá khác nhau, mà có những đánh giá đa dạng về toàn cục, toàn bộ tác phẩm, cũng như về nhân vật, sự kiện... trong tác phẩm. Xưa nay, đã có những bình luận, khen chê khác biệt của những nhà văn, chính khách,học giả, giới nghệ thuật ở ngay chính quốc (Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Mao Trạch Đông,...).
Tất nhiên, những bình luận khen chê ấy đều có mục đích, động cơ cá nhân, có khi ngược hẳn với chính sử [2].
Ở Việt Nam cũng vậy. Đã có nhiều giấy mực về đánh giá tác phẩm. Ý kiến đề cao giá trị chân chính của tiểu thuyết cổ điển là dư luận chính thống, thể hiện qua sách báo, giáo trình, các công trình nghiên cứu.
Tuy nhiên, với quan điểm lịch sử – cụ thể mỗi thời, với ánh sáng của lý tưởng thời đại mới, sự khen chê, bình luận, cần khoa học, tỉnh táo, khách quan hơn để sát với giá trị đích thực của tác phẩm, dù là nổi tiếng trong lịch sử văn học.

PGS ĐOÀN TRỌNG HUY
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nhiều tác giả (1997), Lịch sử Văn học Trung Quốc, Sở Nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc.

Các Bài viết khác