NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

KHOẢNG TRỐNG CÓ THỰC.

( 06-12-2013 - 04:46 PM ) - Lượt xem: 888

Từ khi về làm biên tập thơ ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới, nhất là khi tham gia vào Hội đồng Thơ do ông làm chủ tịch, tôi mới được gần và hiểu Xuân Diệu nhiều hơn. Thực ra, Xuân Diệu là người rất ân cần, chi chút, hiền hậu.

1. Tôi được nghe Xuân Diệu nói chuyện lần đầu tiên tại lễ trao giải thưởng cho cuộc thi thơ do tuần báo Văn Nghệ tổ chức, năm 1969. Năm này, giải nhất thuộc về anh Phạm Tiến Duật nhưng anh Duật đang ở chiến trường, không về được. Giải nhì trao cho chị Phan Thị Thanh Nhàn và anh Bế Kiến Quốc. Giải ba thuộc về các anh Vũ Duy Thông, Mã Giang Lân. Tôi nhận giải khuyến khích cho một chùm thơ thiếu nhi. Nếu tôi nhớ chính xác thì anh Vũ Châu Phối cũng nhận giải đồng hạng với tôi.      

Lúc ấy tôi vừa tốt nghiệp đại học, đang làm việc tại Viện nghiên cứu Văn học. Mới chân ướt chân ráo bước vào các sinh hoạt của giới văn nghệ nên tôi khá hồi hộp.

Sau các phần thủ tục của buổi lễ, chúng tôi được nghe Xuân Diệu. Xuân Diệu có một vóc dáng, một khuôn mặt rất đặc biệt nên tôi nhận ra ông ngay khi vừa bước vào khán phòng. Xuân Diệu: “Thưa các vị tân khoa” nhưng  sau vài lời chào mừng các vị này, ông dành phần lớn thời gian để nghiêm khắc cảnh báo họ về con đường cực khổ, gian truân mà họ phải trải qua để có thể trở thành một nhà thơ. Ông nói to, giọng có phần gay gắt, áp đảo tinh thần những lính mới như tôi.

Lần tiếp theo tôi được nghe ông là tại Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ 2, được tổ chức vào tháng 6 năm 1972. Có một buổi tối chúng tôi được triệu tập đến trụ sở Hội nhà văn để nghe các nhà thơ nhà văn nói chuyện nghề nghiệp. Ngôi nhà 65 Nguyễn Du lúc ấy còn rất đẹp, thỉnh thoảng lại có các đoàn sinh viên kiến trúc đến tham quan, ghi chép về lối kiến trúc tao nhã, thanh thoát của người Pháp. Cuộc họp được tổ chức ở khoảnh sân bên trái của ngôi nhà. Khoảng sân khá rộng, có mấy cây ăn quả xum xuê cành lá. Hôm đó có nhiều diễn giả và họ đã nói rất nhiều về đường lối văn nghệ, về kinh nghiệm sáng tác, về cách thức đi thực tế…nhưng tôi nhớ nhất là cuộc “chạm trán” giữa Xuân Diệu và Chế Lan Viên. Chế Lan Viên bước lên bục, mỉm cười rồi mào đầu rằng ông mừng vì có bóng lá cây che bớt khuôn mặt để dễ nói chuyện. Ngay sau Chế Lan Viên là Xuân Diệu. Xuân diệu nói to: Tôi, thì tôi thích giơ cái mặt tôi ra trước mọi người. Ông nhấn mạnh chữ ”giơ” với giọng Bình Định pha Bắc. Có ai đó bảo tôi: Hai cụ không ưa nhau. Nhưng tôi không để ý đến điều đó lắm, chỉ cảm thấy tính cách của hai con người này thật khác nhau. Sau này, tôi có nhiều dịp trò chuyện với hai ông mà chưa lần nào nghe họ phàn nàn về nhau.

Tôi còn nhiều dịp nghe Xuân Diệu. Có lần, trong cuộc họp cộng tác viên của Ban Văn nghệ Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, Xuân Diệu đã nói rất thẳng thắn về sự yếu kém của một số chương trình. Tôi nhớ đại ý: Các anh đừng đưa cho chúng tôi bát cháo có bỏ thuốc độc. Chúng tôi còn có một cái quyền là quyền đưa tay tắt Ra-di-o. Rồi những cuộc họp về phát hành sách, về nâng cao chất lượng sáng tác, về tổ chức đi thực tế…Xuân Diệu thường vừa lắc lắc đầu vừa nói rất to và nhiều khi gay gắt, các ý kiến của mình. Có lẽ vì vậy mà, mặc dù hiểu các ý kiến của Xuân Diệu đúng và ông rất thành thực, rất có trách nhiệm, tôi vẫn có ý sợ ông.

2. Từ khi về làm biên tập thơ ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới, nhất là khi tham gia vào Hội đồng Thơ do ông làm chủ tịch, tôi mới được gần và hiểu Xuân Diệu nhiều hơn. Thực ra, Xuân Diệu là người rất ân cần, chi chút, hiền hậu.

Đi nước ngoài về, ông đạp xe đến nhà tôi ở khu Tập thể Nguyễn Công Trứ để cho quà, lúc là lọ nước hoa nhỏ, lúc là chiếc khăn mu- xoa rất đẹp. Có hôm, do không gặp được nhau vào ban ngày tại trụ sở Hội nhà văn, mà lại có việc cần bàn gấp nên  các thành viên Hội đồng Thơ kéo đến nhà Xuân Diệu vào buổi tối. Thật bất ngờ và cảm động khi Xuân Diệu tự tay làm món xào gan lợn với hành tây, cà chua, mời mọi người uống bia. Thấy tôi mang theo cháu Phong, lúc này lên 8, lên 9, ông mở tủ lấy cho cháu gói kẹo Hải Châu. Hồi đó, loại kẹo này phải có tiêu chuẩn B, C gì đó mới mua được mà số lượng cũng rất hạn chế. Trên bàn làm việc, các tập thơ dự tuyển được ông gói thành từng bó để phân loại, với những ghi chú, nhận xét chi tiết, cẩn thận. Những tác giả ông thích, ông nhớ kỹ từng bài, từng câu. Mặc dù bao giờ Xuân Diệu cũng để ý đến ý kiến của mọi người nhưng ý kiến của ông thường chi phối chúng tôi rất nhiều. Một phần, do các nhận xét của ông tinh tường, chuẩn xác. Phần khác, do tình cảm quý trọng của chúng tôi đối với ông, do cái uy của ông.

Có hôm, giữa chừng câu chuyện về thơ, về công việc, ông dặn dò tôi nhớ chăm lo bữa ăn hàng ngày cho gia đình. Ông bảo, mình nghèo, nên phải tính toán. Trong các thứ thịt thì thịt chó nhiều đạm, rẻ mà không cần tem phiếu. Ông dặn tôi nên đến mua thịt chó của một cô gầy gầy, tóc búi cao, ngồi sau chợ Hàng Da. Tôi không ăn thịt chó nhưng có dịp ngang qua chợ, tôi để ý thấy cô hàng và gánh thịt chó.

Lần khác, ông vừa lắc lắc đầu vừa khuyên: “Thỉnh thoảng Ý Nhi cũng nên lắc thử. Nghe có tiếng rào rạo là có vấn đề đấy. Bệnh không nguy hiểm nhưng rất khó chịu. Phải đến bác sĩ sớm xem sao.”

Vào năm 1983, nhà văn Nguyên Ngọc có tổ chức một chuyến đi thực tế về Quảng Nam. Trong đoàn có các nhà văn lớn tuổi như Mộng Sơn, Xuân Diệu, Đoàn Giỏi…Lúc ngồi chờ xe ở văn phòng Tỉnh ủy, thấy tôi sửa soạn ấm chén pha trà, Xuân Diệu hỏi tôi: có biết khi pha trà mà nước không được sôi thì làm thế nào không. Thấy tôi lúng túng, nhà văn Đoàn Giỏi bảo: “Cho trà vào ấm, chỉ đổ nước xâm xấp thôi. Đợi một lúc cho trà nở rồi mới cho thêm nước”. Xuân Diệu cười, xác nhận kinh nghiệm của Đoàn Giỏi. Tôi nghĩ, vì sống một mình nên Xuân Diệu phải để ý đến việc tự chăm sóc mình, trong đó có việc ăn uống. Mỗi khi đi đây đi đó nói chuyện, ông dặn kỹ chuyện ăn uống cũng vì lẽ đó. Nhưng ông còn kỹ tính trong nhiều việc khác nữa.

Ông cùng nhiều nhà văn đi tham quan nhà máy chế biến hoa quả. Lúc về, ông làm một bài thơ dài ca ngợi lao động của công nhân nhà máy. Bài thơ không thành công. Có ai đó nói với Xuân Diệu, ông bảo: Phải trả nợ chứ. Họ mời mình đến, tiếp đãi mình chu đáo là để mình làm thơ mà. Trong bài “ Câu chuyện nhỏ trước các bạn viết trẻ”*, Xuân Diệu kể: “Cách đây mấy năm, khi báo Thủ đô Hà Nội và Thời Mới sát nhập vào làm một, thành tờ Hà Nội Mới, tòa báo đã mời  một bữa cơm thân mật nhưng rất hậu hĩ, tôi có được dự vào trong cảm tình nồng nhiệt đó. Và, tôi cứ áy náy mãi: mình cộng tác bài vở gì để đền đáp cái tình cảm này? Một năm, hai năm qua…Tôi không yên được trong lòng, không phải chỉ tại ở bữa cơm, mà tại ở thực chất tình cảm mình nhận được mà chưa trả! Mãi đến vừa qua, bầu cử Quốc hội khóa 4 tại Thủ đô, tôi viết được một hồi ký về Tổng tuyển cử năm 1946 ở Hà Nội cho báo Hà Nội Mới, tôi mới nhẹ được trong lòng…”. Nghĩ cho cùng, Xuân Diểu quả có cái lý của mình. Ông là người lao động, lao động nghiêm túc, lao động cật lực, nên ông quý trọng lao động của người khác. Và, ông không muốn mắc nợ.

Xuân Diệu là người không có âm mưu, không có thủ đoạn. Có lẽ vì vậy mà ông không giữ bất cứ trọng trách nào ở Hội nhà văn, ngoài cái chân ủy viên Ban chấp hành hết khóa này đến khóa khác.

Thỉnh thoảng, trong những lần gặp gỡ, ông hỏi thăm ba tôi: “Hoàng Châu Ký rất say mê Hát Bội. Ý Nhi có thích xem Hát Bội không”. Tôi đáp: “Dạ có, cả nhà em ai cũng mê Hát Bội”. Rồi ông khoe vừa gặp ba tôi tại hội nghị về Đào Tấn ở Bình Định. Ông khen thơ trong tuồng Đào Tấn hay, ông ngâm nga: “Thế sự đoản như xuân mộng/ Nhân tình bạc tựa thu vân/ Nghiến răng cười, cười cũng khó khăn/ Ôm lòng chịu, chịu càng vui sướng”. Ông nhắc tôi phải học, phải đọc hàng ngày (Điều này thì ông hoàn toàn giống Chế Lan Viên). Có lần, ông cười bảo: “Đáng lẽ Ý Nhi phải gọi mình bằng chú. Bạn của ba mà. Nhưng gọi anh cũng được. Cho thân mật”.

Rồi tôi cũng dần quen thân với ông, trò chuyện cùng ông đủ thứ chuyện đời, chuyện nghề. Ông rất ân cần, bình đẳng. Một hôm, nhân câu chuyện về các nhà thơ trẻ, ông nhắc đến tên một nhà thơ. Tôi thưa: “Tay này chán lắm anh ạ”. Xuân Diệu nghĩ ngợi một lúc rồi bảo tôi: “Nhưng mà hắn còn biết đỏ mặt Ý Nhi ạ. Còn đỏ mặt là còn biết xấu hổ, mà còn biết xấu hổ là còn tốt, còn chơi được”. Nghe tôi than phiền việc đi học chính trị, ông bảo: “Ăn thua gì với chỉnh huấn hồi trước. Ý Nhi không hiểu được đâu”. Lần khác, tôi được cùng tham gia Ban giám khảo với ông trong cuộc thi thơ do tuần báo Văn Nghệ tổ chức. Không hiểu sao dịp đó ông cứ bực bội với một chùm thơ dự thi của Lê Thị Mây. Mà tính ông, hễ bực là nói nhiều, nói cho hả. Thấy vậy, tôi bèn chen vào có ý lảng sang chuyện khác: “Mây đảm đang lắm đó anh”. Ông quay lại nhìn tôi, vẻ vẫn còn tức tối: “Cô này mà đảm đang hả”. Thế nhưng khi Mây ra Hà Nội, tôi đưa Mây đến thăm, ông lại rất vui vẻ trò chuyện. Ông tiễn chúng tôi ra tận cửa, dặn lúc nào rỗi ghé lại chơi. Xuân Diệu là vậy. Bộc trực, nóng nảy nhưng không để bụng, không giận ai lâu.

Năm 1987 tôi vào làm việc tại chi nhánh miền Nam của nhà xuất bản Tác Phẩm Mới ở Sài Gòn. Tôi may mắn được gặp Tịnh Hà, em ruột Xuân Diệu. Khi vừa được giới thiệu, tôi nhận thấy ngay sự giống nhau của hai anh em, mặc dù Tịnh Hà gầy, đen, vẻ khắc khổ. Tịnh Hà kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Xuân Diệu. Tịnh Hà bảo lúc nhỏ, vì chán cảnh gia đình nên bỏ đi hoang. Xuân Diệu rất thương em, lén cha mẹ cho em từng nắm cơm, từng chiếc áo, từng đồng bạc…Sau 1975, anh em gặp nhau mừng lắm. Xuân  Diệu hỏi em cần gì thì tính toán rồi báo cho ông. Biết tính anh, Tịnh Hà ghi rõ từng món chi phí cho việc quét vôi, cho việc sửa nhà, mở một tiệm tạp hóa nhỏ. Xuân Diệu hứa sẽ gửi tiền cho em nhưng chưa kịp gửi thì đã ra đi. Tịnh Hà còn bảo, không biết có linh tính hay sao mà Xuân Diệu dặn ông: Anh đi nước ngoài nhiều. Sau mỗi chuyến đi đều có dư ít ngoại tệ. Anh cất tất cả trong chiếc gối. Sau  khi Xuân Diệu mất, Tịnh Hà ra Hà Nội dự lễ tang, có ý tìm chiếc gối nhưng tang gia bối rối, nó đã thất lạc đâu đó.

Khi Tịnh Hà mất, tôi đại diện nhà xuất bản mang vòng hoa tới viếng. Năm 1992, chúng tôi in lại hai tập thơ Gửi hương cho gióThơ Thơ của Xuân Diệu (trong bộ sách 12 tập của Phong trào Thơ mới). Huy Cận có ý dùng nhuận bút 2 tập thơ để sửa mộ cho Xuân Diệu nhưng tôi viết thư cho ông, xin phép được gửi số tiền đó cho gia đình Tịnh Hà. Tôi nghĩ, nơi chín suối, hẳn Xuân Diệu vui lòng vì ông rất yêu thương em và gia đình em.

3. Từ đầu tháng 12/ 1985 tôi cùng mọi người lo chuẩn bị cho hội nghị nhà văn Trẻ lần thứ 3.

Nghe tin Xuân Diệu bị cảm lạnh, phải nhập viện, tôi nghĩ chắc ông ốm nhẹ và sẽ kịp về để đọc bài phát biểu của mình tại hội nghị. Vậy mà Xuân Diệu đột ngột ra đi. Hoàng Trung Thông là người trực tiếp báo tin dữ cho tôi. Giữa chỗ đông người mà tôi không sao cầm được nước mắt. Hoàng Trung Thông cũng đau đớn, bàng hoàng. Tôi biết Xuân Diệu rất thân với Hoàng Trung Thông. Ông gọi Hoàng Trung Thông là Thông và xưng Diệu khi họ trò chuyện. Tết nào vợ chồng Hoàng Trung Thông cũng đem bánh chưng biếu Xuân Diệu. Có chút gì ngon Xuân Diệu cũng mang đến tặng gia đình Hoàng Trung Thông. Ông thuộc tên, quen biết tất cả con cái, dâu rể của Hoàng Trung Thông.

Hôm ấy, tại hội trường, mọi người lắng nghe bài viết cuối cùng của Xuân Diệu cho các nhà văn trẻ. Nhiều người bật khóc. Rồi tất cả cùng nhau về 51 Trần Hưng Đạo để tiễn đưa ông. Hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chật quãng đường từ Bà Triệu đến Phố Huế để vĩnh biệt nhà thơ.

Chỉ đến khi Xuân Diệu đã thực sự đi xa, tôi mới thấu hiểu nỗi cô đơn của ông trong những ngày ông còn sống. Chính trong bài viết cuối cùng cho các nhà văn trẻ, ông đã nhắc đến sự cô đơn, chính vì cô đơn mà: “có ý thức đi tìm bè bạn trong thơ xưa nay rồi trở nên đông vui giàu có”. Chính vì cô đơn mà ông rất chăm chút cho Huy Cận, một bài thơ của Huy Cận in trên nhật báo cũng khiến ông vui sướng. Chính vì cô đơn mà ông nhận rất nhiều em kết nghĩa để chăm nom, giúp đỡ họ chuyện đời, chuyện nghề.

Và rồi, mỗi câu chuyện, mỗi hình ảnh về ông dường như đều thấm đượm nỗi cô đơn ấy. Tôi nhớ buổi chiều tôi đến thăm ông. Lúc ấy Xuân Diệu đang chơi đùa với cháu nội của Huy Cận. Cháu mới chập chững biết đi. Cháu tinh nghịch đem hết bút của ông Diệu cho vào cái chân bàn làm bằng ống trúc rỗng rồi bắt ông dốc ngược bàn để đổ bút ra sàn. Cháu cứ làm đi làm lại như vậy, ông vui vẻ chiều cháu, nét mặt dịu dàng, trìu mến. Không hiểu sao cái cảnh tượng đầm ấm ấy lại gợi cho tôi nỗi buồn. Tôi nhớ buổi xế trưa ở Duy Xuyên năm 1983. Khoảng 1 giờ trưa, Nguyên Ngọc nhờ tôi qua phòng đón Xuân Diệu ra xe để đến một địa điểm khác. Xuân Diệu vừa đi nói chuyện cho các giáo viên trong huyện về. Mọi người đến rất đông để được nghe, được nhìn thấy nhà thơ lớn. Xuân Diệu chắc còn mệt, ông bảo tôi: “Cho mình nghỉ một tí” rồi ông để nguyên quần áo, nằm xuống, quay mặt vào tường. Ông quài tay ra túi sau, rút một chiếc phong bì rồi lúi húi kiểm tiền. Không hiểu sao cái cử chỉ bình thường đó của ông lại khiến tôi bùi ngùi thương xót.

Có lần, khi nói chuyện với bạn bè về Xuân Diệu, tôi đã nói rằng: Nếu không có Xuân Diệu, nền văn học Việt Nam sẽ có một khoảng trống lớn. Nhưng giờ đây tôi mới hiểu, cái ý nghĩ về một khoảng trống khác xa với một khoảng trống có thực. Khi đưa tiễn Bùi Xuân Phái tôi đã viết: “Rồi sẽ chẳng có gì bù đắp nổi/ Một phần Hà Nội đã ra đi”. Sau này, khi đưa tiễn Hoàng Trung Thông tôi lại viết: “Hà Nội đưa tiễn nhà thơ/ Đưa tiễn một phần mình/ Như đã từng đưa tiễn Dương Bích Liên/ đưa tiễn Bùi Xuân Phái/ đưa tiễn Nguyễn Minh Châu/ Đưa tiễn Xuân Quỳnh”.

Mỗi người trong số họ ra đi, đã để lại một khoảng trống vĩnh viễn.

-----------------

* Công việc làm thơ, NXB Văn học, 1984.

NHÀ THƠ Ý NHI

Các Bài viết khác