NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

KHÁI HƯNG TIỂU THUYẾT-TRUYỆN NGẮN

( 23-09-2014 - 05:24 AM ) - Lượt xem: 1225

Thời ấy thanh niên và thiếu nữ theo tân học say mê đọc Hồn Bướm Mơ Tiên, tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng như cơn gió mát đi vào tâm hồn tuổi trẻ đang tìm hiểu về tình yêu lãnh mạn

Nhạc sĩ NGUYỄN HIỀN

Trong bối cảnh nước nhà những năm thập niên 30, văn chương thi ca chữ Việt bắt đầu được một số nhà văn, nhà thơ sáng tác mạnh mẽ và khởi sắc. Họ đa số thuộc thành phần tân học, chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp trong phong trào lãng mạn Tây Phương thế kỷ 19. Thì đối với giới trẻ Việt nam hồi đó, nhất là các thiếu nữ chịu ảnh hưởng tân học thường ham mê đọc tiểu thuyết Khái Hưng và Nhất Linh cùng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn mà hai ông là những người trụ cột chính. Khái Hưng viết nhiều và viết đều đặn hơn cả trong số các bạn thuộc văn đoàn. “Hồn Bướm Mơ Tiên”, tác phẩm đầu tay của ông, cũng đồng thời là cuốn truyện dài đầu tiên của nhóm Tự Lực Văn Đoàn xuất bản năm 1933.

Các nhà văn thời đó thường nói tựa đề cuốn tiểu thuyết này là do điển tích từ thời vua Lê Thánh Tông khi ngài giáng lâm đến ngôi chùa ở thành Thăng Long. Đêm ấy vua nằm mộng gặp giáng tiên ra đề như sau:

“Gió thông đưa rộ tan niềm tục
Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời”

Từ đề đó, vua Lê Thánh Tông đã làm bài thơ với nhan đề:

“Tới đây một cảnh một thầy
Tuy vui đạo bụt chửa khuây lòng người
Gẫm sự trần duyên khéo nực cười
Tuy vui đạo bụt hãy lòng người
Chày kình một tiếng tan niềm tục
Hồn bướm ba canh lẫn sự đời
Bể khổ mấy tầm mong tát cạn
Sóng ân muôn trượng chớ khơi vơi
Nào nào cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây chín bội mười”

(trích trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Tuổi trẻ ở giữa thập niên 30 rất say sưa đọc “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khái Hưng bởi thấy được chuyện tình lý tưởng dưới mái tam quan ngôi chùa, phần phân tích tâm lý nhân vật mới lạ. Ảnh hưởng sâu đậm của phong tráo lãng mạn văn chương Pháp trong giới thanh niên tân học đã đưa đến cho họ trong ‘niềm đau thế kỷ’ (le mal du siècle), ‘tình yêu lí tưởng’ (amour platonique), hằng ấp ủ vào bối cảnh đó là phong trào ‘tài hoa son trẻ’ do nhà cầm quyền bảo hộ Pháp khởi xướng nhằm vào thanh niên nam nữ VN, sau cuộc nổi dậy bất thành của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930 dưới sự lãnh đạo của đảng trưởng Nguyễn Thái Học.

Thời ấy, Thống Sứ Bắc Kỳ Tholance sau đến Yves Châtel đều cho phép tổ chức các cuộc chợ phiên hàng năm ở Hà Nội, các cuộc thi rước xe hoa rầm rộ, qui tụ nữ học sinh thành phố tham gia diễn hành trên các đại lộ chính để thu hút người dân lãng quên mọi tư tưởng chống đối nhà cầm quyền Pháp.

Mẫu mực người “con gái tân thời” lúc ấy đang được đề cao do chủ trương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn nhằm kêu gọi giới phụ nữ trút bỏ y phục cổ xưa đi vào thời trang cải cách chiếc áo dài của họa sĩ Cát Tường bí danh Pháp Lemur. Phong trào cải cách y phục phụ nữ dâng lên mạnh mẽ, chị em thôn quê đi ra tỉnh thành đua nhau từ bỏ chiếc váy cổ xưa, chiếc áo cánh nâu để tập mặc quần sa tanh (satin), quần lĩnh hai ống và chiếc áo dài tân thời kiểu cổ tròn, cổ lá sen hay trái tim có đường viền màu sậm. Tiểu thuyết Khái Hưng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã đáp ứng thời điểm mọi người đang khao khát đi vào cải cách, rời bỏ những tư tưởng cổ hủ.

Quảng cáo tác phẩm "Hồn bướm mơ tiên" trên báo Phong hóa

Thanh niên và thiếu nữ theo tân học say mê đọc Hồn Bướm Mơ Tiên, tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng như cơn gió mát đi vào tâm hồn tuổi trẻ đang tìm hiểu về tình yêu lãnh mạn. Một năm sau đó (1934), Khái Hưng đưa ra cuốn tiểu thuyết “Nửa Chừng Xuân” cũng ca ngợi một tình yêu lý tưởng đi ra ngoài vòng xum họp bình thường giữa đôi trai gái. Tác phẩm này được cải soạn thành vở kịch trình diễn khắp nơi. Cùng năm 1934 xuất hiện tiểu thuyết “Gánh Hàng Hoa” do Khái Hưng viết chung với Nhất Linh. Năm 1935, Khái Hưng viết xong cuốn “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” trong thời kỳ toàn thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng (1929-1933) khiến ảnh hưởng nặng nề đến các xứ thuộc địa Pháp hải ngoại. Đồng tiền càng ngày càng khó kiếm, sinh hoạt trở nên đắt đỏ và người dân căm ghét chế độ thực dân thống trị. “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” với nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, tả cảnh, tả tình một cách duyên dáng gọn gàng, mượn bối cảnh lịch sử đượm nhiều màu sắc dân tộc đậm đà để nói lên lý tưởng tranh đấu của những người trai dấn thân cho đại nghĩa. Cùng năm 1935, Khái Hưng đã viết chung với Nhất Linh cuốn “Đời Mưa Gió” không ngoài mục đích khích động giới trẻ tân học đi theo con đường phụng sự đất nước do nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương dưới dạng văn học để che mắt sở kiểm duyệt của người Pháp. Trong cuốn “Gia Đình” (1936), Khái Hưng đã khai thác trở lại một đề tài quen thuộc của nhóm Tự Lực Văn Đoàn về mâu thuẫn giữa cá nhân và gia đình còn mang những khuôn phép cũ ràng buộc về lễ nghi, tình yêu và hôn nhân. Phân tích miêu tả về sự chán chường của ông, những thanh niên tân học bị vướng mắc vào những tập tục, thành kiến của đại gia đình gồm cha mẹ, ông bà áp đặt từ nhiều thế hệ tiếp nối đến nay. Cũng như các cuốn “Thừa Tự”, “Đẹp”, “Thoát Ly”, Khái Hưng đã nhìn gia đình hiện thực qua con mắt một người thanh niên có đầu óc tiến bộ, chủ yếu trong việc phân tích tâm lý phụ nữ rất sâu sắc. Một nhà phê bình văn học đương thời đã viết về Khái Hưng như sau: “Tôi chưa từng thấy trong văn học VN một nhà văn kể cả Nhất Linh, đã tả người đàn bà một cách xác đáng như Khái Hưng”. Ông là nhà văn sáng trội không những trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn và còn của toàn thể dân văn VN. Khái Hưng cho thấy ông là người có thái độ chính trị xứng đáng trong một hoàn cảnh nước nhà cực kỳ nhiễu nhương về chính trị, để rồi trở thành nạn nhân của hoàn cảnh đó. Nói về con người, Khái Hưng là một nhà văn, một nghệ sĩ đích thực, hơn là một nhà cách mạng như Nhất Linh. Ông chấp nhận chủ trương canh tân văn hóa của Tự Lực Văn Đoàn mà ông là thành viên sáng lập, nhưng trên thực tế không trực tiếp tham gia hay tích cực đấu tranh cho lập trường đó. Với bản chất tự do phóng khoáng do ảnh hưởng văn hóa Tây Phương. Khái Hưng nhìn quá khứ cũng như hiện tại bằng con mắt của nhà hiền triết khoan dung, của người nghệ sĩ không mang chút thiển kiến. Mọi cái hay, cái đẹp bất luận từ đâu đến cũng được ông ngợi ca.

Riêng trên lãnh vực tiểu thuyết, Khái Hưng là nhà văn tiểu thuyết của nhiều thời đại văn học VN với khả năng quan sát tinh tế và tâm lý cũng như cảnh ngộ của những nhân vật do ông sáng tạo. Tiểu thuyết Khái Hưng mang số lượng khá nhiều và chia ra nhiều loại khác nhau.

+ LOẠI PHONG TỤC: như “Gia Đình”, “Thừa Tự”, theo đó trọng tâm là sinh hoạt của giai cấp quan liêu, trưởng giả và tiểu tư sản cần đả phá để xây dựng một mô hình gia đình và xã hội canh tân.

+ LOẠI LÝ TƯỞNG: như “Hồn Bướm Mơ Tiên” lấy chủ đề cũ để rồi kết thúc một cách lý tưởng thích hợp với thời đại mới. Hoặc như cuốn “Trống Mái” ông lấy chủ đề lãng mạn Tây Phương để kết thúc bằng một thực tại buồn với sự lãng quên của người con gái trưởng giả và nỗi sầu khổ đến chết của người con trai thuộc giai cấp chài lưới. Đây là một thứ chủ đề của Trương Chi-Mỵ Nương được cải biến, một tình yêu lãng mạn thiên về vẻ đẹp thể xác của người con trai, khác với tích truyện Mỵ Nương hướng cái đẹp, cái hay của tiếng hát anh lái đò xưa.

+ LOẠI LỊCH SỬ: như cuốn “Tiêu Sơn Tráng Sĩ”, tích truyện rút ra từ trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, được Khái Hưng giàn dựng các nhân vật dũng cảm có bản lĩnh, tài thao lược lấy hành động để đóng góp cho đời.

+ LOẠI TÍCH TRUYỆN CŨ SOẠN LẠI HAY KỂ LẠI: như “Ông Đồ Bể”, “Cây Tre Trăm Đốt” ít nhiều dựa váo các chuyện cổ tích đại chúng có mục đích giáo dục theo luân lý cũ đã được Khái Hưng viết qua lối hành văn trong sáng mang nhiều chất thơ khi tả cảnh, tả tình, tả người và tả việc.

Ông đã xếp đặt tình tiết theo quy tắc của khoa thuật sự mới mẻ, khiến lôi cuốn sự chú ý theo dõi của người đọc, biến câu chuyện tầm thường thành hay và hấp dẫn hơn nhiều. Nghệ thuật kể chuyện của Khái Hưng cho chúng ta liên tưởng đến nhà văn Pháp Alphonse Daudet dí dỏm, tự nhiên mà mọi người thường gán cho danh hiệu “Nhà thuật sự tuyệt vời”.

Ngoài những chuyện “Hai Cảnh Trụy Lạc”, “Bến Đò Năm Xưa”,”Hạnh”, Khái Hưng còn soạn “Đồng Bệnh” vở kịch tâm lý xã hội và “Tục Lụy” kịch được chị em trường nữ trung học đường Đồng Khánh, Hà Nội tham gia màn múa do nhà thơ Thế Lữ làm đạo diễn dàn dựng. Lịch sử của những chiếc áo dài màu xanh do các nữ sinh Trưng Vương chọn làm đồng phục bắt nguồn từ cuộc trình diễn vở kịch “Tục Lụy” của Khái Hưng năm 1942 ở nhà hát lớn Hà Nội. Còn vở kịch vui một hồi mang tên “Quần Tiên Tụ Hội” do ông soạn trong thời điểm nói trên.

Nếu “Hồn Bướm Mơ Tiên” đánh dấu cuốn tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng năm 1933, thì “Băn Khoăn” là cuốn cuối cùng năm 1942. Lúc đầu cuốn này mang tên “Thanh Đức” sau được đổi thành “Băn Khoăn” ở lần xuất bản thứ hai. Còn cuốn “Xiềng Xích” ông cho đăng trong tạp chí “Ngày Nay” loại mới, nhưng rất tiếc nó đã bị bỏ dở dang. Khái Hưng là người có kiến thức văn học sâu rộng. Ông cũng đã viết một số bài phê bình văn học, nêu ý kiến về ca dao, văn học cổ điển, nhận xét về một số nhà văn, nhà thơ đương thời. Năm 1943, nhà sách Khánh Đạm ở Sài Gòn đã làm một cuộc trưng cầu dân ý về mười cuốn sách có giá trị nhất, trong đó có “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng. Tài viết văn xuôi của ông rất gần gũi với thơ, từ đó đến con đường thơ không xa.

Nếu như người ta thường nói đến ba nhà văn Pháp Jean Jacques Rousseau, Voltaire và Montesquieu đã gieo mầm tư tưởng tự do dân chủ trong nhân dân để dẫn đến cuộc cách mạng 1789, thì ở Việt Nam, nhóm Tự Lực Văn Đoàn, trong đó có Khái Hưng đã đi tiên phong mở đường cho cuộc cách mạng văn học cũng như cho cuộc cách mạng 1945. Khái Hưng đã tự chọn lựa con đường sử dụng văn tài của mình để bênh vực cho các tầng lớp nghèo khổ mà đa số là nông dân ít học, để rồi cuối cùng trở thành nạn nhân của chính họ.

Xuất thân từ một gia đình quyền quý, thân phụ là tuần phủ đứng đầu một tỉnh trong ngạch quan lại Bắc Kỳ. Khái Hưng đã quyết định từ bỏ mọi danh vọng cao sang để đi vào con đường văn nghiệp phục vụ đại chúng. Cuộc đời viết văn của ông chỉ vỏn vẹn có trên mười năm (1933-1943) với những tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch đã xuất bản hoặc được đăng trên báo Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn.

Người đương thời nói về tài viết của ông đã gọi ông là “một nhà thơ viết văn xuôi”. Tính đến năm nay, Khái Hưng đã qua đời hơn năm mươi năm (1947-1998), nhưng tác phẩm của ông thực sự đã đi vào lịch sử văn học VN ở vào thời kỳ chuyển mình đánh dấu một khúc rẽ quan trọng nhất.

Các Bài viết khác