NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

HUYỀN TÍCH KINH THÁNH TRONG TRUYỀN THUYẾT VỀ ĐẠI PHÁP QUAN

( 01-05-2017 - 09:09 PM ) - Lượt xem: 110

“Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy truyền cho hòn đá này hoá thành bánh đi!” Nhưng Đức Jesus đáp lại: “Đã có lời chép rằng, người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh”. Kinh Thánh Tân Ước (Lc 4, 3-4)

Anh em nhà Karamazov là kiệt tác bậc nhất của văn chương thế giới, là đỉnh cao sáng tạo của Dostoevsky, được coi là bản đại hợp xướng xâu chuỗi và tổng kết những suy tư triết học và nghệ thuật của cả đời nhà tư tưởng – nhà nghệ sĩ, cho nên nó cũng chính là bản thân nhà văn trong khối vẹn toàn thẩm mĩ của mình. Tác phẩm được hoàn thành trong vòng hơn hai năm gần cuối đời Dostoevsky, nhưng đã được thai nghén, nghiền ngẫm trong vòng ba mươi năm, khoảng thời gian mà nước Nga nông nô – phong kiến đang chuyển sang nước Nga nông nô – tư sản, biết bao biến động và xáo trộn xảy ra, nhất là trong mối quan hệ xã hội.
Nội dung câu chuyện xoay quanh một vụ án giết cha mà đỉnh điểm thông thường đáng lẽ phải là những sự kiện hình sự, nhưng hành động giết người, sự phát giác tội ác hay sự ăn năn không phải là thành phần đó trong cấu trúc tác phẩm. Đỉnh điểm thật sự và chủ yếu của Anh em nhà Karamazov là một đỉnh điểm mang tính chất triết học, được thể hiện trong hai chương Nổi loạn và Truyền thuyết về Đại pháp quan, kể về cuộc đối thoại nổi tiếng của hai anh em Karamazov – triết gia vô thần Ivan và chàng tập tu Aliosha – bộc lộ cuộc đấu tranh giữa tinh thần nổi loạn với sự hòa giải , giữa thần học và tư tưởng vô thần. Tầm quan trọng của hai chương đó, nhất là chương sau, có thể cho phép chúng ta diễn đạt cường điệu rằng nếu không có chúng, Dostoevsky sẽ không viết Anh em nhà Karamazov. Trong hai chương này, nhà văn đã tổng hợp cao độ những trải nghiệm, những đúc kết cả đời đã từng trình bày trong các tác phẩm trước của mình, như một hệ thống tư tưởng nhất quán. Không bàn đến tất cả hệ thống đó, ở đây chỉ dừng lại xem xét các biểu tượng của huyền tích trong Kinh Thánh được sử dụng trong việc chuyển tải một số suy ngẫm của Dostoevsky đối với các vấn nạn xã hội đương thời.

PGS Phạm Thị Phương tai buổi tọa đàm


Sau khi huy động một loạt những câu chuyện, sự kiện mà mình góp nhặt trong báo chí và cuộc sống để làm dẫn chứng cho mệnh đề “trái đất này từ vỏ đến ruột thấm đẫm nước mắt loài người”, khiến cho Aliosha – con người của Chúa – cũng phải bất giác phản ứng bằng lời tuyên bố cần bạo lực, Ivan đi đến kết luận rằng quan điểm tôn giáo về hạnh phúc đại đồng trong tương lai là bất khả thi. Và ngay cả khi nếu điều ấy sẽ đến, chàng cũng không chấp nhận. Trong thế giới đại đồng đó không có mặt chàng bởi chàng sẽ “kính cẩn” trả lại Thượng Đế chiếc vé vào cửa phải mua bằng giá quá đắt của máu và nước mắt, nhất là của những trẻ thơ vô tội. Sự phản ứng thẳng thừng ấy giấu bên trong nó sự phân vân, dằn vặt với cường độ căng thẳng và ở mức độ vĩ mô, được thể hiện một cách tuyệt vời trong sáng tác Truyền thuyết về Đại pháp quan của Ivan. Hơn hai chục trang của thiên bi ca bằng văn xuôi ấy có thể vắn tắt như sau:
Vào một ngày nọ, sau 15 thế kỉ trôi qua kể từ ngày bị đóng đinh trên cây thập giá, Chúa đã giữ lời hứa, trở lại trần gian. Địa điểm và thời điểm xuất hiện của Ngài không phải là ngẫu nhiên, đó là thành Seville (Tây Ban Nha) trong buổi Tôn giáo Pháp đình khủng khiếp nhất, nơi mà mới hôm trước thôi Giáo chủ Đại pháp quan đã cho thiêu sống gần một trăm kẻ dị giáo. Chúa lặng lẽ đi giữa dân chúng với nụ cười hiền từ toả niềm bác ái mênh mông, không nói một lời, nhưng ai cũng nhận ra Ngài, đón chào Ngài trong nỗi niềm xúc động, sung sướng vô biên. Ngài ban phép lành cho họ, chữa lành người bệnh, hồi sinh kẻ chết. Mọi người cất cao lời ngợi ca hồng phúc của Ngài. Bỗng Giáo chủ Đại pháp quan xuất hiện cùng đội thánh binh, giải tán đám đông và bắt giữ Chúa, giam Ngài vào ngục thất tăm tối của toà nhà Pháp đình thánh tín. Đêm đến, đích thân Đại pháp quan đến phòng giam luận tội Chúa. Ông ta buộc tội sự trở về của Chúa đã làm xáo trộn trật tự được sắp xếp bấy lâu nay mà trong đó con người đang quen sống, yên ổn sống. Kế đến, cho rằng giáo lý Cơ đốc vượt quá năng lực tinh thần của nhân loại, Đại pháp quan lên án Chúa đã đặt con người quá cao và yêu thương con người bằng tình yêu quá lớn, vì con người vốn hèn yếu, tội lỗi, phản phúc, không xứng đáng với tình yêu ấy, và vì tình yêu ấy đòi hỏi một trách nhiệm quá nặng từ con người, cho nó cái mà nó không chịu đựng nổi – tự do tinh thần, tự do lương tâm: “Thay cho pháp luật cứng rắn thời cổ, con người từ nay với trái tim tự do của mình, phải tự quyết định cái gì là thiện, cái gì là ác, mà chỉ lấy hình ảnh của Chúa trước mặt để định hướng cho mình”. Theo Đại pháp quan, con người không chịu đựng được và không cần những thứ ấy mà chỉ cần bánh mì, miếng bánh mỳ của trần gian được phân phối xuống từ một thiểu số đặc tuyển, trở nên thiêng liêng, đầy quyền uy. Với miếng bánh ấy, cả phần hồn và phần xác của con người sẽ được thu phục, nó sẽ có hạnh phúc và sự yên ổn. Cuối cùng, Đại pháp quan tuyên bố đã sửa chữa lại sự nghiệp chưa thấy hiệu quả của Chúa. Công việc sửa chữa ấy tiến hành suốt bao thế kỉ và nay đã có kết quả, Chúa không còn việc gì để làm dưới trần gian này nữa, vậy Người nên đi đi và đừng bao giờ trở lại.

Sinh viên năm thứ nhất khoa Ngữ Văn ĐHSP HCM Lâm Hoàng Phúc đến giao lưu và là diễn giả chính

Những luận điểm trên được lập luận trên ba huyền tích trong Kinh Thánh, ba huyền tích mà, theo như lời của Ivan – mà xem ra không phải là không có lý – “đúc kết và tiên tri toàn bộ lịch sử nhân loại”, là “ba hình ảnh hội tụ mâu thuẫn lịch sử không thể giải quyết được của bản chất con người”, cho nên chúng “không phải là trí tuệ thông thường của con người mà là trí tuệ vĩnh hằng và tuyệt đối”(1). Đó là ba lần Quỷ cám dỗ Chúa: biến đá thành bánh mỳ để ban phát cho loài người, gieo mình từ nóc đền thờ xuống để thử xem mình có bất tử như đứa con của Chúa Trời không, sấp mình bái lạy Quỷ để nhận vinh hoa phú quý và quyền lực(2). Và Chúa đã khước từ. Viên Đại pháp quan nhắc lại ba điều ấy với Chúa, xem chúng như những lời cảnh báo: “Ông đã được báo trước, ông không thiếu những điều báo trước và chỉ dẫn, nhưng ông không nghe, ông gạt bỏ con đường duy nhất có thể đem hạnh phúc cho con người”(3) (PTP nhấn mạnh). Việc sửa chữa sự nghiệp của Chúa được Đại pháp quan tuyên bố trong sự tiến hành một cách hiệu quả các chỉ dẫn ấy của Quỷ: “Chúng tôi không theo Chúa, mà theo hắn, đó là điều bí nhiệm của chúng tôi. Tám thế kỉ trước chúng tôi đã nhận từ hắn cái mà Chúa phẫn nộ gạt bỏ, món quà cuối cùng mà hắn đã dâng Chúa khi trỏ cho Chúa tất cả vương quốc trần gian: chúng tôi đã nhận của hắn La Mã và thanh gươm của César và tuyên bố chỉ có chúng tôi mới là các hoàng đế dưới trần gian”(4) (PTP nhấn mạnh).

Trong sự diễn đạt trên, những huyền thoại ấy trong Kinh Thánh không đơn thuần mang ý nghĩa tôn giáo mà bao hàm những quan điểm chính trị, triết học rất lớn, những đối chọi nẩy lửa buộc phải lựa chọn đớn đau: tự do hay an lạc – tự do sẽ đi liền với những dày vò về tinh thần, còn an lạc gắn liền với sự phục tòng. Con đường thứ nhất là đi theo Chúa, con đường thứ hai là chối bỏ Chúa, chối bỏ sự vĩnh cửu và thiêng liêng. Với Dostoevsky, Chúa Christ là biểu tượng của sự toàn vẹn, hoàn hảo nhất: là chân lí, cái đẹp và cái thiện. Chúa không thể chấp nhận ba lời đề nghị của Quỷ vì chúng trái với tư tưởng của Chúa và bản chất của Cơ đốc giáo đích thực Chúa không dùng phép lạ để nô dịch con người. Một khi bánh trần gian được biến hóa và ban phát thần kì như vậy, tất yếu cũng dễ bị lấy đi, con người sẽ vâng lời Chúa trong sự bị mua chuộc và trong nỗi sợ hãi bị Chúa rút tay về, không ban phát bánh mì nữa, vậy còn gì là tự do? Bởi con người sống đâu chỉ bằng bánh mỳ trần gian? Niềm tin là không cần thử thách: Một khi gieo mình từ trên cao xuống để biết chắc mình có phải là con Chúa trời hay không là thể hiện ý hoài nghi, sự mất lòng tin, mà Chúa muốn mình tin ở Đức Chúa Cha vô điều kiện. Và tất nhiên việc sấp mình bái lạy Quỷ để có được vinh hoa phú quý, quyền lực là điều Chúa vĩnh viễn không thể làm, vì uy tín của Chúa không thể được mua bằng bạo lực, không phải là cái gì tương tự thanh gươm của César. Niềm yêu kính của dân chúng mà Chúa muốn có được không cần đến phép màu, quyền uy, mà là một tình yêu bình đẳng, tự do. Sửa chữa lại bản di huấn của Christ, viên Đại pháp quan, trực tiếp hay gián tiếp, đã tiếp nhận những đề nghị của Quỷ vương. Ông ta lo cho hạnh phúc của con người, tìm cho con người phương thức sống yên ổn như chăn dắt những động vật bầy đàn, với tư cách của một quân vương thế tục chứ không phải tư cách của Đấng Cứu Thế. Nhận lấy thanh gươm của César, ông ta và những người như ông ta đã gạt bỏ sự thiêng liêng, trở thành những Chúa Đất tiếm quyền Chúa Trời. Giải pháp của ông ta là vì sự đại đồng thế giới mà hi sinh cá nhân, vì hạnh phúc và sự yên ổn của tập thể mà bỏ quên cá tính. Đó là tôn giáo của bánh mỳ trần gian, của bầy kiến xã hội. Tôn giáo ấy đem đến cho con người nỗi khiếp sợ miếng bánh trần gian bị lấy đi, không cho người ta biết sợ cái bất tử tính của con người, và vì cái hạnh phúc hữu tử ở trần gian này, vì không có một Thượng Đế, con người sẽ cho phép mình phạm tội.
Huyền thoại về Chúa Christ liên quan đến lịch sử loài người, được nhìn nhận như “biểu tượng về những giá trị chung của nhân loại chứ không phải trên bình diện tâm lý của từng cá nhân riêng lẻ”(5). Tính chất ấy làm nên chất triết học, chất thơ, được thăng hoa trong nghệ thuật. Lẽ dĩ nhiên, khi được sử dụng như chất liệu văn học nghệ thuật, huyền thoại được tường giải và biến đổi theo lối mới, mang những ẩn dụ mới.
Nhào nặn lại huyền thoại tôn giáo, Dostoevsky muốn đề cập đến những bức xúc của thời đại ông. Nước Nga sau Cải cách Dân cày (1861) đứng trước một câu hỏi lớn: Chế độ phong kiến nông nô được tuyên bố xoá bỏ, vậy mô hình mới của nước Nga sẽ là gì? Tư bản chủ nghĩa? Xã hội chủ nghĩa? – như các nước Tây Âu, hay một mô hình riêng của nước Nga? Việc giải đáp câu hỏi đó đã phân lập dữ dội nước Nga thành các phe phái. Những trải nghiệm của bản thân Dostoevsky và những gì nước Nga trải qua trong suốt ba thập niên qua đã cho nhà văn một cách nhìn nhận vấn đề không giống như các nhà cải cách xã hội thân Tây phương. Quan niệm rằng nhân cách con người và những thuộc tính của nó là khởi đầu và cũng là sự khép lại của tất cả vấn đề triết học, chính trị, kinh tế, Dostoevsky không chấp nhận những dự án xã hội về việc thay đổi đời sống mà không đếm xỉa đến giá trị tuyệt đối của con người là tự do cá nhân đồng thời tiên đoán trước sự khủng hoảng của nền văn minh cá nhân chủ nghĩa phương Tây. Dostoevsky không phát minh một lối đi mới mẻ mà là phát hiện lại cho nước Nga một con đường tư tưởng có sẵn: con đường đã được trình bày trong Kinh Phúc Âm mà cuộc tổng hòa giải là mục đích cuối cùng. Theo ông, tôn giáo không thể nằm bên ngoài đời sống xã hội, những cải cách xã hội được cổ vũ và kiểm soát bằng lý trí con người là sự nổi dậy chống lại Thánh Thần, “sẽ dẫn nhân loại không phải tới miền đất hứa mà tới vương quốc của nô lệ và bạo lực”(6). Trong nhận thức của ông, sự phục hưng tôn giáo “trước hết mang theo sự thống nhất và sự tham gia tích cực của tất cả mọi người vào cuộc sống của nhau” và khi sự quy phục quyền lực bằng nỗi sợ hãi và sự cưỡng bức đã được thay thế bằng tình yêu của tự do, sẽ dẫn đến viễn cảnh “con người và nhà nước hòa tan trong tình bác ái Cơ đốc giáo”(7).
Các nhà cách mạng xã hội đương thời cho rằng những yêu cầu đạo đức của Kinh Phúc Âm vượt quá sức người, đòi hỏi con người sự nỗ lực vô bờ bến, không biết bao giờ đạt được, trong khi đó cái trước tiên là cần bảo đảm về vật chất cho họ – miếng bánh mỳ trần gian. Điều này dẫn đến một vấn đế mấu chốt khác của thuyết nhân học: vấn đề tội ác. Khi phúc lợi vật chất được đảm bảo, cái ác sẽ dần dần bớt đi. Theo cách diễn giải đó, tội lỗi không phải là xúc cảm nội tâm, mà là một khái niệm pháp lý, thủ phạm gây ra tội lỗi chính là môi trường, hoàn cảnh chứ không phải là con người, từ đó suy ra có thể tránh được tội ác nếu như xây dựng được một mô hình xã hội có tổ chức hợp lý của toán học. Dostoevsky kiên quyết bác bỏ quyết định luận xã hội đó, cho rằng tất cả các đề án cải tạo xã hội đều chỉ giải quyết bề mặt vấn đề, cho nên trước hết là cần phải cải tạo lại tâm hồn con người, một nhiệm vụ chẳng hề dễ dàng và nhanh chóng thực hiện được. Để làm được điều đó con người phải có tự do và có đức tin vào giá trị đạo đức, giá trị thiêng liêng, giá trị bất tử của con người và loài người. Tội lỗi được hiểu như sự phản bội lại các giá trị ấy, phản bội Chúa. Điều này đã được nhà văn chứng minh hùng hồn bằng hàng loạt các hình tượng trong các tác phẩm của trước đó của ông, tiêu biểu là Tội ác và hình phạt, Lũ người quỷ ám, và được tổng kết trong Anh em nhà Karamazov. Theo Schelling, trong các huyền thoại Cơ đốc giáo, chất liệu chính là nằm trong “các giá trị đạo đức”: “Biểu tượng của thế giới tư tưởng ở đây không phải là tự nhiên và tồn tại mà là con người và những hành động của nó, thay vì thần thoại hoá con người là sự nhân hoá các thần, thay cho chủ nghĩa phiếm thần […] là sự đối lập gay gắt giữa thiện và ác; đồng thời tôn giáo thơ ca được thay thế bằng tôn giáo của sự khải thị”(8). Trong tầm ý nghĩa này, huyền tích mà Ivan Karamazov (đúng hơn là Dostoevsky) sử dụng trong Truyền thuyết về Đại pháp quan không chỉ mang tính phúng dụ, biểu tượng nữa, mà có thể được coi như một lời “sấm truyền”, vì nó tham dự vào việc giải quyết những vấn đề gay cấn liên quan đến số phận loài người và vận mệnh thế giới. Trong cách trình bày của Dostoevsky, những huyền tích trong Kinh Thánh không những có khả năng hàm chứa những ẩn dụ của thời đại ông đang sống, mà còn cảnh báo trước nhiều viễn cảnh thế giới ở các thế kỉ sau. Dostoevsky đã nhìn thấy trước sự khủng hoảng của nền văn minh vật chất ngay ở thời kỳ phồn vinh của nó, nền văn minh kỹ trị ngay từ khi nó chưa manh nha, dự báo về chủ nghĩa cực quyền trong tương lai, tiên đoán và miêu tả chính xác tâm lý các lãnh tụ của các cuộc cách mạng xã hội và tôn giáo ở thế kỉ XX.
Soi tìm trong những huyền tích của Kinh Thánh những ý nghĩa mới, Dostoevsky đã đưa đề tài thần thánh hòa trộn tối đa với đề tài con người, dùng những giá trị đạo đức giải quyết những vấn đề có tính chất và quy mô chính trị – xã hội. Giải pháp này là một trong những đề án nhân học sáng giá nhất của thế kỉ XIX, rất đáng để nhiều thế kỉ sau lưu ý.

PHẠM THỊ PHƯƠNG

Tạp chí khoa học Đại học Sài Gòn 2010

CHÚ THÍCH
(1). F. Dostoevsky (1989), Anh em nhà Karamazov, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, tr. 74, 75.
(2). Kinh Thánh Tân ước (1996), bản dịch của nhóm Phaolô Nguyễn Văn Bình, Nxb TP. HCM, tr. 71, 72, 73.
(3). F. Dostoevsky (1998), sđd, tr. 73.
(4). F. Dostoevsky (1998), sđd, tr. 84.
(5). E. Meletinski (2004), Thi pháp của huyền thoại, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr. 307.
(6). N. Zernov (1995), Ba nhà tiên tri: Khomijakov, Dostoevsky, Solovev, Nxb Nauka, Moskva, tr. 106.
(7). N. Zernov (1995), sđd, tr. 117.
(8). Dẫn theo E. Meletinski (2004), sđd, tr. 12.

Các Bài viết khác