NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

ĐẠI VĂN HÀO PHÁP VICTOR HUGO PGS.TS ĐOÀN TRỌNG HUY

( 02-09-2016 - 03:37 PM ) - Lượt xem: 656

Victor Hugo (1802 – 1885), bậc đại văn hào Pháp, là nhà thơ, nhà soạn kịch, nhà văn, là hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn trong thời đại. Ông cũng là một nhà chính trị, nhà tư tưởng, một trí thức dấn thân trong thế kỷ XX.

Victor Hugo để lại một khối lượng đồ sộ sách đã xuất bản về nhiều thể loại, được thống kê là khoảng trên 70 tác phẩm, trong đó có khoảng 11 vở kịch, 25 tập thơ, 9 cuốn tiểu thuyết và nhiều tạp văn, tuỳ bút, khảo cứu, tiểu luận,... Văn hào được đánh giá là có cống hiến lớn lao cho sự cách tân thơ ca và sân khấu. Ông cũng được đánh giá là tiểu thuyết gia bậc thầy với các kiệt tác có tầm ảnh hưởng thế giới.

Ở Việt Nam, Victor Hugo với thơ và Nhà thờ Đức Bà Paris ,nhất là Những người khốn khổ - được dịch và giới thiệu từ rất sớm,  vào loại nhiều nhất, đến tận nay. Victor Hugo được giảng dạy trong trường Phổ thông Trung học, đặc biệt ở các Khoa Văn học – Ngôn ngữ của các trường Đại học với những công trình nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu (Đặng Anh Đào, Phùng Văn Tửu, Đặng Thị Hạnh, ...) và những tác phẩm chuyển ngữ của các dịch giả danh tiếng (Huỳnh Lý, Cao Huy Đỉnh, ...).

YYY

Victor Hugosinh ra vào buổi khởi đầu và ra đi trước 15 năm kết thúc thế kỷ XIX, nghĩa là sống gần trọn “cõi người ta”, một thế kỷ nhiều bão táp của lịch sử nước Pháp. Cuộc đời ấy đã trải nghiệm qua bao bước thăng trầm. Đó là thời như Flaubert tiên tri – thời mà bóng đen của Chủ nghĩa tư bản đã bao phủ toàn bộ thế kỷ.

Xã hội Pháp đã diễn ra nhiều biến động về thể chế chính trị. Đó là hai nền đế chế của Napoléon I (1804 – 1814), Napoléon III (1852 – 1870) – qua ba triều đại quân chủ Louis XVIII (1814 – 1824), Charles X (1824 – 1830), Louis Philippe (1830 – 1848). Chế độ Cộng hoà cũng qua ba lần thành lập: 1/1792 (sau Cách mạng 1789), 2/1848 (trong Cách mạng tháng II), 3/1971 (sau Cách mạng Công xã Paris).

Còn diễn ra cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (19/7/1870 – 10/5/1871). Chiến thắng to lớn của Liên minh Đức đã làm thay đổi cán cân quyền lực ở châu Âu. Đức phát triển cường thịnh, Pháp suy yếu rõ rệt – Đệ nhị đế chế chấm dứt với sự sụp đổ của triều đại Napoléon III.

Bi kịch của những nghệ sĩ chân chính thường là sự mâu thuẫn giữa thực tại đời sống và mong ước đối với thực tế. Victor Hugo mang tâm trạng tương tự - do xã hội đầy vị kỷ, bất công, tàn nhẫn đang tồn tại khác hẳn lý tưởng mới nhen nhóm, toả sáng vì tự do, dân chủ.

Đó cũng là tấn bi kịch của văn nghệ sĩ lãng mạn đương thời như Alphonse de Lamartine, Alfred de Vinguy, Alfred de Musset... Trong số đó nổi bật nhất là Victor Hugo – như một ngôi sao sáng. Victor Hugo có những thăng trầm trong đời sống riêng, cả thăng hoa lẫn bi kịch gia đình

Văn hào gia nhập Viện Hàn lâm Pháp năm 1841, rồi được phong tặng chức Nguyên lão nước Pháp (Pair de France) năm 1845. Sau này, ông còn được bầu là Nghị sĩ thành phố Paris, và năm 1876, là Nghị sĩ Quốc hội.

Tuy nhiên, tất cả những danh vị cao quý đó không làm giảm sút nỗi đau nhân thế của ông. Ông mang nỗi đau riêng, trong đó có việc mất đứa con trai Charles Hugo trong Cách mạng Công xã Paris 1873, và bản thân vì chống đối Napoléon đã bị lưu đày ở nước ngoài gần 20 năm.

Năm 1869, Victor Hugo được Napoléon III ra lệnh ân xá, nhưng ông từ chối với lời lẽ đanh thép: “Giữ trọn lời thề với lương tâm, tôi chịu đến cùng số phận của Tự do. Tự do đã bị trục xuất khỏi đất Pháp, khi nào Tự do trở về Đất nước, tôi sẽ trở về cùng với Tự do”. Pháp bại trận trong cuộc chiến Pháp – Phổ, “Napoléon tiểu đế” (Napoléon le Petit) bị quân địch bắt sống. Ngày 4/9/1870, Victor Hugo trở về trong lòng Tổ quốc.

Là một nhà hoạt động chính trị – xã hội, ông tửng có bài diễn văn nổi tiếng về vấn đề  Dân chủ ở Thượng nghị viện (3/6/1890). Ông từng đấu tranh đòi thả tự do cho những chiến sĩ tham gia Công xã Paris.

Trong đời cũng như trong sự nghiệp sáng tác, Victor Hugo luôn thể hiện và chứng tỏ minh bạch trách nhiệm xã hội của một nhà văn: “Tôi đã cúi xuống đáy xã hội, quan sát và đó là tất cả việc làm của tôi. Tôi muốn tiêu diệt định mệnh tàn ác đè nặng lên nhân loại. Tôi bẻ gãy ách nô lệ. Tôi săn đuổi sự nghèo đói, tôi đẩy lùi sự dốt nát, tôi làm nhẹ bớt bệnh tật. Tôi chiếu sáng cõi tối tăm” (.tự bạch qua Những người khốn khổ).

Chủ nghĩa xã hội không tưởng của Saint Simon và Charles Fouirier đã ảnh hưởng tới quan điểm tư tưởng và mỹ học lạc quan thiên về đạo đức của Victor Hugo. Ông thủy chung với quan điểm lên án xã hội bất công, nhằm đề cao giá trị nhân phẩm, khôi phục nhân quyền chân chính cho người dân, công lý, bình đẳng cho xã hội.

YYY

Victor Hugo là nhà thơ lãng mạn kịch dram điển hình nhất.

Thi hào Victor Hugo là tác giả của những tập thơ trữ tình nổi tiếng: những đoản thi, tp thi với phong thái đặc sắc tụng ca, hoan ca  (Odes et balades).

Thơ Victor Hugo chan chứa lòng yêu thiên nhiên và tinh thần nhân văn cao cả vì con người và cho con người.

Từ những tập thơ trữ tình đầu tiên, đến Truyền kỳ của những thế kỷ (Truyền kỳ của thời đại) là cả một quá trình chuyển biến về tư tưởng và thi pháp nghệ thuật.

Tập Odes et balades gồm nhiều cuốn trong vòng từ 1818 đến 1828 với ngót 100 bài, rồi Lá mùa thu (Les feuilles d’ automne, 1831), Mặc tưởng (Les Contemplations, 1856). Tập thơ Trừng phạt (Les Châtiments, 1853) có vai trò của nhà thơ dấn thân chống Napoléon III, và Truyền kỳ của thời đại (La Légende des sièdes, 1859 và 1877) mang sứ mệnh một nhà sử thi.

Là chủ soái của Taođàn thơ một thời, vị thi hào đã đưa thơ lãng mạn chủ nghĩa lên đỉnh cao mới. Thơ Victor Hugomột mặt, như ông nói, “là cái gì riêng tư nhất”, nhưng mặt khác, lại hoà trộn được cả cái Tôi Người khác, tức là vượt được cái tôi chật hẹp, khép kín.

Theo nhận định, “ông là nhà thơ lãng mạn duy nhất đã mang hơi thở anh hùng ca vào thơ” [1, tr 482]. Không gian và thời gian thơ hướng đến những kích tấc  rộng lớn. Sự cảm nhận sự gắn bó với thời đại là một tất yếu “Nhưng giữa thế kỷ này đầy biến cố/Mỗi một người phải vì tất cả, than ôi!Lá thu (Les feuilles d’ automne)

Đó là dấu hiệu rõ rệt của một nhà thơ lãng mạn tích cực. Thơ ông có sự thống nhất ở mức độ nhất định giữa cái Tôi và cái Ta vào thời ấy.

Tập thơ Trừng phạt (Les Châtiments) chính là sự mở đầu cho thành công của thơ thời sự, thơ chính trị. Ở đây, đã có sắc thái đa âm (nhiều chủ thể phát ngôn), khác với giọng trữ tình vốn đơn âm, xen lẫn cả mỉa mai, châm biếm, trào phúng... Có những yếu tố đa dạng, thậm chí trái ngược đan chéo: trữ tình và anh hùng ca, yêu thương và căm giận, xót xa và châm biếm, cái cao cả và cái thô kệch, ngôn ngữ văn chương và dân dã...

Thơ được độc tấu khắp nơi vào tháng 12/1870 và nhanh chóng trở thành một khúc ca của quần chúng. Ở đây chúng ta thấy hình ảnh của hai thế giới đối lập: hình tượng quần chúng vô danh, làm đảo lộn trật tự của Đế chế II ở trên cao; Hoàng đế trên ngai vàng đăng quang với những truy hoan, hành lạc như những “cái dị dạng” đang diễn trò hề. Tập thơ có tác dụng thức tỉnh quần chúng nhân dân để chống lại đối thủ - Napoléon tiểu đế (Napoléon le Petit) như đối tượng của sự phản kháng và sỉ nhục.

Trừng phạt không chỉ là thơ thời sự của thời kỳ 1870, mà còn có ý nghĩa như tờ truyền đơn, tác phẩm lưu hành bí mật trong những năm tháng chống phát xít ở Pháp.

Là nhà nhân đạo chủ nghĩa, Victor Hugo dành biết bao thương cảm cho những con người khốn khổ, sống dưới đáy xã hội. Tuy nhiên, cảm hứng nhân văn ấy đã nhuốm màu chính trị - thời sự. Với những chiến sĩ Công xã Paris, không chỉ đơn thuần là có tình thương, mà còn là lòng khâm phục: thi hào đã đấu tranh để xoá án cho họ. Bởi, nhà thơ quan niệm Công xã là “chiếc nôi kỳ diệu” của ngày mai.

Ở tập thơ Năm tháng khủng khiếp(L’ Annécterrible, 1872), hình tượng em bé đau khổ mà anh dũng đã thể hiện được lòng trung thực và trái tim vĩ đại của thi hào – chính là tư tưởng lớn: “Không hiểu điều gì đẩy em vào cuộc chiến đấu này, song tôi nói/ Tâm hồn em thơ dại vẫn tuyệt vời”. Trước đây, ở Những tia sáng và bóng tối (Les rayons et les ombres), nhà thơ đã từng ca ngợi tâm hồn thánh thiện của tuổi thơ đau khổ qua Em bé Hy Lạp (L enfant  grec). Với đứa trẻ bất hạnh trong hoang tàn, chết chóc, nhà thơ băn khoăn làm sao có thể lau những giọt “lệ đầm đìa đôi mắt biếc xanh”... “Cho đôi mắt em như bầu trời, như sóng nước trong xanh”.

Thơ là mảng sáng tác lớn trong sự nghiệp văn chương của Victor Hugo. Tâm hồn lãng mạn với cảm quan rất nhạy bén đã thể hiện những tâm trí, tình cảm thật phong phú của hiện thực đời sống và tình cảm.

Trước hết, tình yêu gia đình là một cảm hứng sáng tác thường xuyên của ông, nhất là khi gắn với kỷ niệm đau xót vì những mất mát của người thân.

Thơ tình của thi hào ca ngợi say mê tình yêu như một hạnh phúc vĩnh cửu. Victor Hugo đã để lại những câu thơ như danh ngôn bất hủ ca ngợi tình yêu.

 Tình cảm lớn lao – tình yêu Tổ quốc là nguồn cảm hứng cao cả, dồi dào, da diết. Lời ca yêu nước  có những điệp khúc tâm hồn:

Người ta không thể sống được mà không có bánh mì

Người ta cũng không thể sống được nếu không có Tổ quốc

Trừng phạt đã có những lời kêu gọi thiết tha tới con người để thức tỉnh hành động vì Tổ quốc: “Họ từng thấy nước Cộng hoà vĩ đại/Chỉ tay lên trời xanh”. Và những lời ca ngợi liệt sĩ với khí thế hào hùng: “Như sư tử đang hít thở gió xa/ Khi cuồng phong thổi tới”. Cũng như biết bao vần thơ ca ngợi đầy thương cảm với người dân lao động, những thuỷ thủ,...

Thơ Victor Hugo chứa đựng đủ mọi cung bậc tình cảm, triết lý sâu xa và rung động bình thường, ý thức và ảo giác, anh hùng ca và tình ca, “thơ truyền đơn, thơ mít tinh”, “thơ đọc lên như đọc báo”... như bình luận tôn vinh của các bậc tài danh văn chương Pháp và thế giới.

YYY

Từ những vở dram  “Trận đánh Hernaniđến “Sân khấu tự do”, Victor Hugo đã làm cuộc bứt phá ngoạn mục về kịch lãng mạn.

Cuộc tấn công trên kịch trường trong thế kỷ là 3 vở có tính chất mở màn: Crômôen (Cromwel, 1827), Mariông  Đơlor(Marion Delorme, 1829) và Hecnani (Hernani, 1830). Đây là ba đợt tấn công nhằm vào ba đối tượng, ba bình diện – nhà phê bình (Cromwel), chính quyền (Marion Delorme) và khán giả (Hernani).

Theo quan niệm của Victor Hugo về tự do của sân khấu có ba yếu tố quan trọng nhất là: lịch sử, yếu tố thơ và chất grotesque (thô kệch).

Nhà viết kịch cho rằng: “Tự do trong văn chương là con đẻ của tự do chính trị” (Hernani), yêu cầu “một sân khấu được giải phóng bởi công chúng tự do” (Tựa Cromwell). Từđó ông đã đảo quy tắc ba duy nhất của kịch cổ điển. Đó chính là sự đụng độ giữa phái mới và phái cũ trong kịch nghệ.

Cũng như thơ ca, Victor Hugo cho rằng, kịch phải gắn với thời sự - tức những vấn đề nóng hổi và không khí chính trị của thời cuộc.

Đó là lý do vở kịch Marion Delorme mới in đã bị Thượng thư Bộ Nội vụ cấm vì hình ảnh vị đế vương Louis XIII là một ám chỉ với Charles X. Trận Hernanitừ đêm mở màn công diễn đầu tiên – 25/2/1830 được diễn trong suốt 35 buổi tiếp theo, tới Nhà vua hành lạc (Le Roi s’ amuse, 1832) lên sân khấu được một lần thì bị cấm!

Hernani đươc tóm tắt qua lời một nhân vật trong vở kịch: “Ba gã si tình: một tướng cướp mà đoạn đầu đài đang hỏi tội... Một công hầu, một hoàng thượng cùng hướng về một trái tim. Cùng theo đuổi một nàng – Tấn công rồi ai được? Chính là tên kẻ cướp...”

Vở kịch thơ có 5 hồi, mang một chủ đề lớn vượt lên mọi tình huống kịch éo le, rắc rối, phức tạp.

Chàng Don Carlos đang trên hành trình trở thành hoàng đế đế quốc Đức, theo đuổi nàng Dona Sol – vợ chưa cưới của lão bá tước Don Ruy Gomez. Vua lẻn vào nhà nàng đúng lúc nàng hò hẹn với tình nhân là Hernani, một người có thù giết cha với nhà vua, nay trở thành tướng cướp. Hai kẻ tình địch chuẩn bị đấu kiếm, thì Don Ruy Gomez về và nổi trận lôi đình.

Nửa đêm hôm sau, Don Carlos đến, định bắt cóc Dona Sol thì Hernani xuất hiện. Hernani định thanh toán vì nặng mối thù, nhưng lại tha cho vua vì lúc đó y không có vũ khí trong tay. Vua về, huy động quân lính đến bắt tướng cướp. Hernani cải trang trốn  vào nhà Don Ruy Gomez, đúng lúc ông đang chuẩn bị làm lễ thành hôn với Dona Sol. Hernani tuyệt vọng. Nhà vua đến bắt Dona Sol làm con tin, và buộc tội Bá tước. Bá tước định thanh toán thù riêng với Hernani, nhưng chàng đề nghị hợp lực trả thù vua, rồi sau đó sẽ chịu chết.

Don Carlos chính thức lên ngôi kế vị. Nhà vua khoan hồng cho tất cả, trả lại chức tước cho Hernani và cho phép chàng cưới Dona Sol. Trong tối tân hôn ở nhà Hernani, chàng nghe tiếng tù và báo hiệu lệnh trừng trị của Bá tước. Don Ruy Gomez xuất hiện, nhắc lại lời hứa và đưa cho chàng lọ thuốc độc. Dona Sol can ngăn không được, giật lọ thuốc uống một nửa rồi trao cho Hernani uống nốt, để cả hai cùng chết bên nhau. Bá tước đau đớn tự sát.

Hernani là tình nhân, cũng là tráng sĩ. Chàng là người nghĩa hiệp, có ý chí kiên cường, bất khuất, lại giàu lòng nhân ái và cao thượng trong tình yêu. Don Carlos gắn với một hệ thống xã hội bất công. Hành động trả thù của Hernani, vì vậy, mang ý nghĩa xã hội rộng lớn.

Victor Hugo là  tiểu thuyết gia lãng mạngiàu sáng tạo độc đáo.

Hai kiệt tác để đời làm nên tên tuổi của thiên tài văn xuôi là Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre Dame de Paris, 1831) và Những người khốn khổ (Les Misérables, 1862). Trong một tiểu luận, nhà văn từng viết: “Tiểu thuyết là một thể loại ưu việt”.

Nhà th Đức Bà Paris (14 chương) thuộc dòng tiểu thuyết lịch sử viết về Paris thời Trung cổ, nhưng cũng không hẳn là như vậy. Victor Hugo đã mượn lịch sử để trình bày những bài học về chính trị và đạo đức, qua lịch sử để thể hiện những suy tư chủ quan về cuộc sống đương thời.

Truyện có cái nền là lịch sử, là văn hoá, là lễ hội, tôn giáo, nhưng trên tất cả là chuyện về con người.

Mối thảm tình mang ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc. Quasimodo đã yêu hết lòng Esmeralda mà không cần đền đáp. Cuộc tình si đầy thống khổ, vô vọng ấy đã cứu rỗi tâm hồn chàng. Kết thúc lãng mạn có màu sắc huyền thoại làm ta liên tưởng truyện Trương Chi và Mỵ Nương. Trương Chi ôm mối hận tình, chết đi thành hình dạng như trái tim hồng ngọc pha lê. Nhà vua đem về chế tác làm chén quý. Mỵ Nương uống trà thấy hiện lên hình bóng Trương Chi và tức thì hiện lên tiếng sáo năm xưa như than vãn oán trách. Nàng chạnh lòng rỏ nước mắt xót thương, chén tan ra thành nước.

Trong tiểu thuyết có motip đám đông là hình ảnh của quần chúng. Suy tư lớn của nhà văn là quần chúng mang một sức mạnh huyền bí mà lãng mạn.

Quần chúng thời ấy (Trung cổ) phần nào vẫn còn đang u mê, mù quáng, non dại như Quasimodo dị dạng, Esmeralda xinh đẹp, nhân hậu nhưng phải lang thang. Kết cục của họ thật bi thảm như đại diện cho sự ấu trĩ của nhân loại nhưng tính cách đã phát lộ những tia sáng đầu tiên. Đó chính là tiềm năng bí ẩn đầy sức công phá.

Tình yêu của Quasimodo với Esmeralda là một tình yêu đẹp. “Giọt lệ nhỏ vì giọt nước” đã dẫn đến tình yêu một phía. Đó là trái tim trong sáng, say mê, cao thượng, nhân hậu. Trong một văn cảnh  khác, Quasimodo được coi là từ đồng nghĩa với “một trái tim quả cảm ẩn dưới vẻ bề ngoài thô kệch”. Hành động của Quasimodo gợi liên tưởng tới truyện Trương Chi và Mỵ Nương của Việt Nam như đã nêu trên, cũng như Tristan và Iseult của Pháp theo huyền thoại người Celt.

Frollo biểu tượng cho sự không thể điều hoà giữa thèm khát và khổ hạnh. Còn Phoebus là sự đối lập giữa vẻ đẹp bề ngoài và cái xấu xa bên trong.

Trên tất cả, Nhà thờ Đức Bà Paris là tác phẩm tràn ngập tình yêu con người.

Những người khốn khổ là đỉnh cao của chủ nghĩa lãng mạn Victor Hugo, đượcc ví như “một trái núi” trong tiểu thuyết. Nhà văn đã viết dựa vào những trải nghiệm của cơn bão tố lịch sử trong cuộc đời, và cả những cơn “bão tố n ra trong đầu” nhà văn.

Luận đề xã hội đã được nêu ra qua đề từ “Khi pháp luật và phong hoá còn đày đoạ con người, còn xây nên những địa ngục ở giữa xã hội văn minh, rồi đem một thứ định mệnh nhân tạo chồng chất thêm lên thiên mệnh, khi ba vấn đề lớn của thời đại là sự sa đoạ của đàn ông vì bán sức lao động, sự truỵ lạc của đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗi của trẻ nhỏ vì tối tăm chưa được giải quyết, khi một số nơi đời sống còn nghẹt thở, nói khác đi và trên quan điểm rộng hơn, khi trên mặt đất, đói khát và dốt nát còn tồn tại, thì những quyển sách như thế này còn có ích”

Đối lập, tương phản song hành như thủ pháp đặc sắc của tiểu thuyết dựa trên hai nhân vật trung tâm đại diện của đạo đức và pháp luật. Suốt đời Javert săn lùng,đuổi bắt Jean Valjean trong khi đối thủ phải trốn chạy, mai danh ẩn tích. Jean Valjean là “kẻ cướp có lòng lương thiện”, còn Javert là kẻ quyền thế chỉ có ác tâm. Đó là sự đối chọi vị cứu tinh với kẻ sát nhân, anh hùng với thú dữ, Thiện với Ác.

Có ý nghĩa sâu sắc là những bình luận qua trang văn sau đây:

 “Javert và Jean Valjean – một người sinh ra để trừng trị tội, một người sinh ra để bị trừng trị, cả hai người đều là đối tượng của pháp luật, thế mà tình cảnh xui nên hai người ấy vượt lên trên pháp luật… Javert coi sở cảnh sát như một tôn giáo.Rắn như sắt đá mà lại hoài nghi. Hắn là hiện thân của hình pháp, như đúc nguyên khối trong khuôn của luật pháp. Thế mà nay Javert lại thấy trong lồng ngực đồng đúc của mình một cái gì như phi lý, nghịch mệnh, na ná như một trái tim… Hắn lại lấy đức báo đức, cái đức mà bấy lâu nay hắn vẫn coi là một cái ti!”.

Những người khốn khổ đã hội tụ được một số nét đặc sắc như phẩm chất điển hình của tiểu thuyết lãng mạn.

Là một tiểu thuyết xã hội, tác phẩm giàu tính hiện thực. Đó là hiện thực thế giới người nghèo khổ, sống dưới đáy xã hội và bị bộ máy cường quyền áp chế tàn ác. Từ Nhà thờ Đức Bà  Paris mang sắc thái lịch sử đến Những người khốn khổ đã có màu sắc sử thi, thâu tóm được khung cảnh hoành tráng, bao quát của thời cuộc – như chiến tranh và chiến trận Waterloo, cuộc nổi dậy của những người Cộng hoà ở Paris năm 1832.

Sử thi còn thể hiện cuộc đấu tranh dữ dội về quan niệm nhân sinh trong thế giới tâm hồn, những xung đột, mâu thuẫn, đối nghịch mang tính sâu sắc nội tâm. Ở Jean Valjean là thiện và ác, ở Javert là tôn trọng công lý và đạo lý.

Tình yêu nổi bật như chủ đề của tiểu thuyết lãng mạn được tô đậm. Có tình yêu tuyệt vọng của Fantine, Éponine, tình phụ tử và mẫu tử với Cosette; lại có tình yêu của đức cha Myriel với con chiên. Tình yêu trong sáng và thánh thiện của đôi Marius – Cosette.

Trên hết còn có tình yêu lớn lao, cao cả - tình yêu Tổ quốc.

Là nhà thơ viết truyện, nên tiểu thuyết còn mang đậm chất thơ. Tất cả chan hoà, đan xen trong một nghệ thuật tự sự xuất sắc.

Chủ đề truyện được phát triển và chốt lại trong triết lý truyện cốt yếu nhất qua  trang viết như quá trình cải biến, hoàn thiện và toả sáng nhân cách:

“Quyển sách ấy, từ đầu đến cuối, từ đại thể đến chi tiết là cuộc hành trình từ ác đến thiện, từ bất công đến công bằng, từ giả đến chân, từ bóng tối đến ánh sáng, từ dục vọng đến lương tâm, từ thối rữa đến sống còn, từ thú tính đến nhân tính, từ địa ngục đến thiên đường, từ hư không đến Chúa.Khởi đầu là vật chất, đích tới là linh hồn. Xà tinh lúc ban đầu, thiên thần lúc cuối”.

Nổi bật như nhân vật  tích cực là hình ảnh Jean Valjean,người tù khổ sai xưa đã làm cuộc đời mới, trở thành thị trưởng. Đó là con người chân thật, có lương tâm cao cả nhân hậu, khoan dung, giàu lòng hy sinh và kiên cường dũng cảm vượt lên mọi nghịch cảnh, hiểm nguy, oan trái của số phận đầy bi thảm. Dưới con mắt quần chúng nghèo khổ, đau thương, ông là một vị thánh. Fantine là hình mẫu siêu việt về tình mẫu tử. Gavroche là hình ảnh một “tiên đồng” hồn nhiên mà quả cảm… Ngược lại, là Javert mật thám mù quáng, vô cảm, nhẫn tâm, độc ác bên cạnh vợ chồng Thénardier gian dối, xảo trá, tham lam, tàn bạo cùng lũ lưu manh bạc ác đầu trâu mặt ngựa… như những tội phạm đích thực của xã hội.

                                     YYY

Tiêu biểu cho trào lưu lãng mạn tiến bộ, Victor Hugo là nhà văn đã thuộc về nhân loại. Ông mất đi trong niềm ngưỡng mộ của nhân dân Pháp. Thi hài của ông được đặt ở Điện Panthéon nhưng tinh anh đã đi vào lòng người khắp thế giới.

Mặc dầu còn một số hạn chế lịch sử về nhận thức nhưng Victor Hugo vẫn là một nhà tư tưởng tiến bộ có những suy tư vượt thời đại như về cách mạng, về quần chúng, về ý thức sáng tạo trong đấu tranh xây dựng xã hội tiến bộ mới. Đồng thời nhà văn – nghệ sĩ này cũng là người mạnh dạn cách tân nghệ thuật trên nhiều phương diện.

Victor Hugo được coi là một khuôn mặt vĩ đại của thế kỷ XIX, một tài danh trong thời đại, được đánh giá cao trong giới văn hoá, văn nghệ thế giới. Người ta tìm thấy qua di sản đồ sộ về văn học của văn hào là nguồn ánh sáng của lòng nhân ái và ý chí đấu tranh cho hoà bình, hạnh phúc của con người. Đặc biệt là các tác phẩm ấy rất có ý nghĩa trong tình hình thế giới hiện nay – còn chiến tranh và đe doạ vũ lực, khủng bố, còn những thảm cảnh lầm than, nghèo khổ và bất bình đẳng trên phạm vi toàn cầu.

 PGS ĐOÀN TRỌNG HUY

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nhiều tác giả (1998), Văn học phương Tây, Giáo dục, Hà Nội.

[2] Thái Thu Lan (2002), Nỗi đau trong thế kỷ và ý nghĩa nhân văn trong tác phẩm Victor Hugo, Tạp chí Văn học số 6 (364).

[3] Phùng Văn Tửu (2014), Lời giới thiệu Hecnani,Tổng hợp TP.HCM.

[4] Annette Rosa (1985), Victor Hugo, l’éclat d’un siècle, Messidor, Paris

[5] Victor Hugo (1912), Odes et ballades, Oeuvres complètes, Essais et Poésies diverses Les Orientales, Ollendorf.

Các Bài viết khác