NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO CỦA DOSTOEVSKY

( 01-05-2017 - 09:12 PM ) - Lượt xem: 105

Dostoevsky yêu con người bằng một tình yêu chưa từng thấy trong văn học thế giới trước ông. Một tình yêu thường trực, tha thiết, nồng cháy, đồng nhất với sự tôn thờ. Nhưng tình yêu ấy lại không hề dẫn đến lí tưởng hóa con người, đến việc nhắm mắt làm lơ trước sự bất toàn, tội lỗi của con người.

1. Chủ nghĩa hiện thực kiểu Dostoevsky: “Lột tả mọi bề sâu của tâm hồn con người”
[…] Như ta biết, Dostoevsky suốt đời xem mình là nhà văn hiện thực, nhưng ông khá ghẻ lạnh với sáng tác của nhiều văn sĩ cùng thời mà giới phê bình ở trong và ngoài nước tán dương như những cây bút hiện thực chủ nghĩa “chính hiệu”. Ông phê phán “trường phái tự nhiên” ở Nga, mặc dù khi mới khởi nghiệp, ít nhất bề ngoài, ông là thành viên của nó. Trong văn học Pháp, ông thờ ơ, hầu như không để ý đến Flaubert và không chấp nhận Zola. Ông hâm mộ Balzac và thuở thiếu thời có dịch một tiểu thuyết của Balzac (Eugénie Grandet) ra tiếng Nga, song Balzac trong con mắt Dostoevsky là một “trí tuệ vũ trụ”, chứ không phải một “thư kí của xã hội”. Trong khi ấy, ông suốt đời yêu và đề cao Hugo và Georges Sand, mà ở Pháp thì, từ giữa thế kỉ XIX, Georges Sand bị coi là đã hết sức lỗi thời, là “người đại diện cho chất thơ của những hư ảo giả dối” (lời Zola). Cái hư ảo, kì ảo, cái không có trong đời thực, mà chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, của những khát vọng và thất vọng, những lo âu và sợ hãi của con người – Dostoevsky yêu nó trong sáng tác của cả những cây bút lãng mạn phóng túng đến cực đoan như Hoffmann, Maturin, Poe, và sau này chính ông cũng sẽ sử dụng rộng rãi cái chất liệu phi hiện thực ấy trong những nỗ lực “lột tả mọi bề sâu của tâm hồn con người”.
“Con người là một bí ẩn. Cần tìm ra bí ẩn ấy, và nếu có tìm suốt đời, thì cũng đừng cho là đã mất thì giờ. Tôi vật vã với nó, vì tôi muốn làm người.” – Mười tám tuổi, Dostoevsky viết cho người anh, như thể vạch cương lĩnh cho cuộc đời của chính mình. Trong một bức thư khác, sớm hơn một năm, ta đọc : “Tôi cảm tưởng, thế gian này là nơi tẩy tội của những linh hồn thiên giới đã mờ đục đi do tư tưởng tội lỗi. Tôi thiết tưởng, thế giới đã chuốc lấy một ý nghĩa tiêu cực và từ tinh thần thanh cao trang nhã hoá thành một trò châm biếm. Con người sao ươn hèn! Hamlet, Hamlet!” – Giống như nhân vật của Shakespeare, người thanh niên Dostoevsky dày vò về sự bất hoàn thiện của thế giới và con người, khao khát tìm ra nguồn gốc siêu lí của tội lỗi và cái ác.
Và sẽ mãi mãi là thế : ngòi bút Dostoevsky sau này sẽ chuyên tâm nắm bắt không phải những hiện tượng trên bề nổi cuộc sống, mà những trạng huống tâm thức ẩn khuất sau chúng và chi phối chúng, không phải những tính cách thực chứng trong những hoàn cảnh thực chứng, mà những thực thể tinh thần. Trong những sáng tác chín muồi của ông, những thực thể tinh thần ấy sẽ hiện ra rõ mồn một, khiến ta nhiều khi quên bẵng đi rằng chúng có và phải có cái vỏ thân xác.
[…]
Belinski đánh giá khe khắt tất cả những tác phẩm của Dostoevsky viết sau Những người nghèo, đặc biệt nghiêm khắc phê phán cái “màu sắc hoang tưởng” ở chúng. “Cái hoang tưởng ngày nay chỉ có chỗ trong nhà thương điên và là mối bận tâm của thầy thuốc chứ không phải của nhà thơ” – ông viết với dụng ý làm tỉnh ngộ Dostoevsky.
Nhưng Dostoevsky đã không còn là một học trò ngoan ngoãn của nhà phê bình vĩ đại. Ông đang ở trong quá trình thử nghiệm độc lập, đương dò tìm con đường riêng của mình trong nghệ thuật. Càng ngày, ông càng không thỏa mãn với thứ chủ nghĩa hiện thực bằng lòng với việc tái tạo “giống như thật” cái bề nổi của cuộc sống, lấy ngoại giới giải thích nội tâm, vì cái phổ biến mà hi sinh cái đặc thù và cái đơn nhất. Sau này, ông sẽ gọi cái chủ nghĩa thực chứng trong nghệ thuật ấy là “nông cạn”, “mù lòa”.
"Trời ơi! Cứ kể một cách sáng rõ, những gì người Nga chúng ta đã nếm trải trong 10 năm qua trong sự phát triển tinh thần của chúng ta – lẽ nào các vị duy thực lại không kêu toáng lên rằng đó là hoang tưởng! Trong khi ấy, đó mới là một chủ nghĩa hiện thực chính cống, đích thực! Chính cái đó mới là chủ nghĩa hiện thực, có điều sâu sắc hơn, còn của họ thì bơi nông”. Dostoevsky biết miêu tả trung thực và sống động cái hiện thực thấy được bằng mắt, cảm được bằng các giác quan. Bút kí từ nhà chết làm cả châu Âu khâm phục bằng những hình ảnh sinh hoạt hàng ngày của nhà tù khổ sai, đã đọc là không thể quên – nhưng đích nghệ thuật của Dostoevsky ở chỗ khác. Ông hướng về hiện thực cấp thứ nhất, cấp bản chất chi phối hiện tượng. Cái chủ nghĩa hiện thực ấy sẽ tất yếu sàng bỏ nhiều chi tiết bề ngoài dễ thấy của cuộc sống để nắm bắt cái thực thể, nhiều khi hi sinh cái “giống thật” để tìm ra cái đích thực, quan tâm đặc biệt đến cái dị thường, cái ngoại biệt, vì chính ở đấy tập trung cao độ những “vấn nạn” của nhân sinh phân tán trong những hiện tượng thông thường phổ biến. Cái chủ nghĩa hiện thực ấy sẽ hiện ra sau này, trong những tiểu thuyết lớn của Dostoevsky, sáng tác những năm 40 thế kỉ XIX, cho ta thấy những tìm tòi đầu tiên theo hướng ấy.
Cuối đời, suy nghĩ về những đặc điểm của phương pháp sáng tác của mình và tranh luận với chủ nghĩa thực chứng trong triết học và văn học, Dostoevsky sẽ viết những dòng cô đúc, chắc nịch như những châm ngôn:
“Tôi yêu ghê gớm chủ nghĩa hiện thực, một chủ nghĩa hiện thực đi tới cái huyễn tưởng”.
“Người ta gọi tôi là nhà tâm lí, không phải, tôi là nhà văn hiện thực nhưng theo nghĩa cao nhất, có nghĩa là tôi lột tả mọi bề sâu của tâm hồn con người”.
“Lí tưởng cũng là hiện thực, cũng là hiện thực chính đáng như thực tại trước mắt”.
“Toàn bộ hiện thực không nằm hết trong cái hiện hữu, mà một phần to lớn còn tồn tại ở dạng tiềm ẩn, như là tiếng nói chưa được phát ra của tương lai”.
[…]
2. Chủ nghĩa nhân đạo mới kiểu Dostoevsky: “Giết chết nơi độc giả niềm tin ngây thơ, lạc quan một chiều về con người”
Cả thế giới giờ đây hâm mộ chủ nghĩa nhân đạo vô cùng sâu sắc của văn học Nga, như nó được thể hiện trong sáng tác của những nhà văn Nga lớn nhất : Pushkin, Gogol, Tolstoi, Dostoevsky, Chekhov. Vậy, nói riêng về Dostoevsky, có cái gì mới và đáng quý trong chủ nghĩa nhân đạo của ông?
Dostoevsky yêu con người bằng một tình yêu chưa từng thấy trong văn học thế giới trước ông. Một tình yêu thường trực, tha thiết, nồng cháy, đồng nhất với sự tôn thờ. Nhưng tình yêu ấy lại không hề dẫn đến lí tưởng hóa con người, đến việc nhắm mắt làm lơ trước sự bất toàn, tội lỗi của con người. Ngược lại, Dostoevsky, như ta thấy, mổ xẻ không biết thương xót tâm hồn con người, và không chỉ ở những “siêu nhân” hay quái nhân (nhà văn cho ta thấy ở họ nhiều mẫu số chung), mà ngay ở những con người tưởng chừng hoàn toàn bình thường, hoàn toàn lành mạnh, ông cũng chỉ ra những biểu hiện thiên hình vạn trạng của cái ác bản chất, cái ác phi lí tính nằm sâu thẳm trong bản tính con người. Nếu chủ nghĩa nhân đạo cổ điển – chủ nghĩa nhân đạo của các nhà khai sáng thế kỉ XVIII, các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng thế kỉ XIX – tin vào bản chất lương thiện tự nhiên của con người, thì Dostoevsky sẵn sàng khẳng định : trong mỗi người tiềm ẩn một con dã thú, một con quỷ ác.
Chỉ cần ta nhớ lại chương “Con quỷ nhỏ” trong Anh em nhà Karamazov, nhớ lại câu chuyện ghê người giữa Aliosha Karamazov và tiểu thư Liza Khokhlakova, so sánh hình tượng Liza với hình tượng các thiếu nữ quý tộc quen thuộc của Turghenev và Tolstoi, để thấy rõ Dostoevsky có cảm thức nhạy sắc thế nào về cái ác của con người. Không ít độc giả xưa cũng như nay không chịu đựng được Dostoevsky, cho là ông cường điệu quá mức tính ác độc và sự biến hỏng ở con người, thế nhưng, hiện thực thế giới trong thế kỉ vừa qua hình như đã nhận thực nhiều hơn cho cái nhìn tỉnh táo, quả cảm, mẫn tiệp một cách tiên tri của Dostoevsky.
Quả là Dostoevsky giết chết nơi độc giả niềm tin ngây thơ, lạc quan một chiều về con người. Ông cũng triệt hạ mọi ảo tưởng xây dựng hạnh phúc loài người chỉ trên cơ sở cái có lợi hoặc cái hợp lí. Con người phổ biến của Dostoevsky thường không chỉ tội lỗi, mà còn ngang ngược đến phi lí, nó rất hay không nghe theo trí khôn của nó, cố tình hành động có hại cho chính nó. Khả năng sa đọa và phá phách của nó là không đo được. Có nhiều lí lẽ chính đáng để không yêu nó, lên án nó, cảnh giác cao độ với nó – nhà văn Dostoevsky hình như cố tình khiêu khích những phản ứng ấy ở người đọc. Song chỉ có một điều không thể nói về nó – bảo nó là một vật sống vô nghĩa.
Con người của Dostoevsky bạo hành, đập phá, tác hại những người khác và bản thân mình bởi lẽ, hoặc nó không chấp nhận cái “nghĩa” mà những người khác áp đặt cho nó, hoặc nó đã đánh mất cái nghĩa ấy. Trong cả hai trường hợp, nó đều không dửng dưng với ý nghĩa của cuộc sống, nó đòi, nó tìm ý nghĩa ấy, và khi đã tuyệt vọng hoàn toàn thì nó thường tự kết liễu cuộc đời mình, chứ không chịu sống một cuộc sống vô nghĩa. Quy chế một sinh thể đơn thuần (không nói đến quy chế một bộ phận nhỏ, một “đinh ốc” trong bộ máy nào đó) là không thể chấp nhận đối với nó. Và đây là ranh giới phân chia con người của Dostoevsky với con người của các dòng văn học nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây sau này, mà nhiều dòng kính cẩn ghi tên Dostoevsky trên ngọn cờ của mình.
Không hồ nghi những thành quả sáng tạo của chúng, không đề cập tới quan hệ giữa chúng với thực tế lịch sử hiện – đương đại, vẫn phải thừa nhận rằng, không
có gì xa lạ với thế giới của Dostoevsky hơn “người xa lạ” của một Camus hay người “chờ Godot” của một Beckett, hay lùi xa hơn nữa vào quá khứ, người sĩ quan điều khiển cái máy hành quyết trong truyện Trong trại cải huấn của Kafka. Một con người đã chết hoàn toàn đối với xã hội loài người và chỉ sống với những nhu cầu và phản ứng bản năng của mình, người khác thụ động chờ đợi vô tận một ân nhân, một cứu tinh nào đó chỉ biết tên, chưa bao giờ biết mặt, người thứ ba tự nguyện biến mình thành một tư tế trung thành vô điều kiện của một cỗ máy giết người tự động – cả ba hình tượng con người này xa cách một trời một vực với quan niệm về con người ở Dostoevsky.
Bây giờ ta hiểu vì sao Dostoevsky yêu đến thế cả những nhân vật tội lỗi đến quái đản của mình. Tất cả họ đều là những linh hồn sống, họ đòi tìm ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa ấy phải ở bên trong, chứ không phải bên ngoài họ. Phẩm giá, cái đáng nể, đáng kính trọng của họ là ở đây. Và chừng nào họ còn tìm, họ có khả năng tìm tới ý nghĩa nội tại đích thực ấy, nó sẽ cải tử hoàn sinh nhân cách, tâm hồn họ, toàn bộ cuộc sống của họ. Có thể và cũng cần tranh luận với Dostoevsky về cái ý nghĩa chân chính ấy – theo ông, chỉ có tôn giáo mới đem lại nó cho ta – song, chúng ta không thể không đồng ý với ông rằng, thiếu nó thì không có cuộc sống xứng đáng với con người.


theo Phạm Vĩnh Cư – “Dostoevsky – Sự nghiệp và di sản”, in trong Sáng tạo và giao lưu, Nxb Hội nhà văn, 2004, tr. 217, 218, 229, 230, 301, 302, 303, 304.

Các Bài viết khác