NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

CHẾ LAN VIÊN NHÀ VĂN – CHIẾN SĨ XUNG KÍCH

( 05-06-2015 - 02:59 PM ) - Lượt xem: 667

Chế Lan Viên là nhà thơ lớn, là người ở hàng đầu của đội ngũ các nhà văn đương đại. Ông cũng là người luôn đi đầu trong các cuộc đấu tranh tư tưởng, chính trị, xã hội và đấu tranh văn học nghệ thuật.

Danh xưng nhà văn – chiến sĩ là tặng chung cho những người có phẩm chất chiến đấu trên mặt trận văn nghệ. Đối với Chế Lan Viên cần phải tôn vinh ông là nhà văn – chiến sĩ xung kích vì phẩm chất xứng đáng và chiến công, chiến tích vẻ vang trong đời thơ. Phẩm chất cũng là tính cách ấy thể hiện ở cuộc đấu tranh lâu dài bền bỉ xuyên suốt cuộc sống, trong đờitrong thơ.

Nói cách khác, đó chính là chất thép cần phải có của nhà thơ làm nhiệm vụ xung phong và tạo nên chiến thắng.

***

Từ bỏ cuộc đời cũ, tháp thơ – tháp ngà nghệ thuật cũ, Chế Lan Viên làm cuộc cách mạng bản thân: đổi đời, đổi thơ. Ấy là khi cách mạng về và nhà thơ cũng làm cuộc trở về có tính lịch sử. Nhà thơ gặp cách mạng, gặp xã hội mới, tiến hành cuộc hòa nhập mới “Phá cô đơn ta hòa hợp với người”. Hơn thế, gặp nhân dân và tạo được nhu cầu gắn bó mới: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ/ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa… Từ đó, nhà thơ lớn lên trong “mùa nhân dân”, đi theo, đi cùng nhân dân trong suốt cách mạng và kháng chiến.

Vui sướng khôn xiết với cuộc đời mới nhưng không bao lâu cuộc chiến đã bùng nổ – Rồi qua hòa bình xây dựng nhưng thực chất là bước vào một cuộc kháng chiến mới gay go, gian khổ, khốc liệt cực kỳ để cuối cùng giành chiến thắng vĩ đại sau ba mươi năm.

Cuộc chiến bằng súng đạn thực chất là cuộc chiến chính trị, để giành cái quý báu nhất không có gì quý hơn độc lập tự do.

Riêng đối với Chế Lan Viên đây là cuộc chiến đấu kép được tiến hành sóng đôi. Một là cuộc chiến sống còn của dân tộc lớn lao kỳ vĩ mà nhà thơ tự nguyện nhập cuộc và dấn thân. Hai là cuộc chiến nội tâm bản thân lâu dài gian khổ đầy cam go và không kém quyết liệt để “tồn tại”, từ bỏ thế giới siêu hình cũ về với đời sống thực đầy gian lao, ác liệt.

Cuộc chiến tranh màu trắng trong tâm hồn nhiều khi gay gắt, ghê gớm vì đi kháng chiến mà nhà thơ vẫn mơ màng với cảm giác siêu hình. “Đi xa về hóa chậm”, biết vậy, nên nhà thơ phải đi nhanh, tiến gấp. Đó là lý do cắt nghĩa vì sao Chế Lan Viên là người đi đầu trong thế hệ các nhà thơ cũ để hành quân ra tuyến lửa thời chống Mỹ, cũng mang tầm vóc anh hùng:

Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy

Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi

Chính trên chiến tuyến mới này, Chế Lan Viên đã xông xáo dũng cảm để đánh địch bằng những vần thơ như dao đâm, như lửa đốt. Những bài thơ đánh giặc trở thành nhan đề chung của thơ chống Mỹ Chế Lan Viên. Nhà thơ tiến công kẻ thù bằng nhiều đòn hiểm ác: đánh phủ đầu, đánh vỗ mặt, đánh sát sườn… với vũ khí sắc bén chứa chất sức mạnh căm thù. Chế Lan Viên đã “chế tạo” ra một “khí tài” đặc chủng hết sức hiệu quả: Đó là thơ đả kích chính luận rất thời sự mà mang tầm thời đại, đánh địch một cách trí tuệ và quả cảm. Với những vần thơ ấy nhà thơ như muốn bẻ gẫy các loại học thuyết phản động, đập vỡ các “diễn ca” hay “phản diện ca” ngụy tạo, phá tan những âm mưu ác độc của kẻ thù. Chế Lan Viên là người ghi công đầu trong  trận chiến với địch như quan niệm cũng là mơ ước của Sóng Hồng: Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền. Mà đây lại là diệt siêu cường đế quốc trong thế kỷ!

Mặt khác, Chế Lan Viên lại xứng đáng là ca sĩ hào hùng bậc nhất của thời đại trong số ít các tên tuổi sáng giá ngợi ca những chiến công anh hùng thời đại mới.

Những năm sau chiến tranh, thơ Chế Lan Viên đi sâu vào thế sự. Một trận chiến tư tưởng mới được đặt ra – trận chiến để chống cái sai, cái xấu thậm chí cái ác trong cảnh còn nhiều biến động, xáo trộn xã hội thời hậu chiến. Chính luận thời nào chuyển thành triết luận – thứ triết luận trữ tình, chuyển tải triết lý của trái tim thâm trầm, sâu đậm của nhà thơ tới một thế hệ độc giả mới đang có nhiều biến đổi tâm tư. Những tập thơ sau này như Hái theo mùa, Hoa trên đá, Ta gửi cho mình nhất là ba tập Di cảo thơ là tiếng nói trí tuệ và quả cảm của con người đầy khí phách và giàu nhân ái. Các tập thơ đề cập tới những vấn đề lớn như chiến tranh và hòa bình, hạnh phúc và khổ đau, niềm tin và ảo tưởng … vừa thời sự mà vừa thời đại, cho cuộc đời hiện thực cũng là cho cả thế gian.

Những cảm xúc, suy tư đều ở tầm cao của một trí tuệ lớn. Chế Lan Viên lại là người đi đầu trong dám nghĩ, dám nói. Có những vấn đề nghĩ lại và nghĩ đi, nói lại và nói tới. Về cả những chuyện có vẻ động trời mà ranh giới khó phân định. Nhận xét đơn giản, một chiều dễ cho là “phản tỉnh”, “xét lại”, nhận định tinh tường sẽ thấy là thẳng thắn, xây dựng. Ai? Tôi, Một người thường, Giai cấp tính tưởng đâu là xót xa, ân hận, sám hối cá nhân mà chính là lên án thói vô trách nhiệm, thói vô cảm cũng là thiếu/ vô lương tâm. Đông Ky Sốt là bài thơ đa nghĩa. Một mặt phê phán cái dại dột, mê muội đến điên rồ, ảo tưởng gây bi kịch nhưng cũng ca ngợi tinh thần tha thiết tự do, công bằng và chính nghĩa cũng như thương người của Đông Ky Sốt và cả Xăng Xô. Xăng Xô còn là  đại diện cho đầu óc thực tế, cầu thị. Đó là những nhân vật vừa đáng giận mà vừa đáng yêu, đáng quý. Phải “đập vỡ cái xương để hút lấy chất tủy béo bở” như đọc Rabơle là như vậy. Không hẳn Chế Lan Viên chỉ có bức xúc cá nhân về cảnh bần hàn những năm cuối đời (Nhà không trần – Cảnh điền viên – Thời thượng…). Cũng không hẳn để cảnh báo về “bọn tham ô” “bọn thoái hóa” mà nay ta còn phải đấu tranh gay go. Ông muốn ngăn chặn tội ác từ xa, đem xét xử cái phản đạo lý ở tòa án lương tâm và bắt chúng ta suy nghiệm sâu sắc về lẽ đời, về hạnh phúc và khổ đau…

Nhưng vượt lên trên tất cả là những khát vọng chính đáng về tự do, dân chủ, về chân lý, đạo lý; những ước nguyện mãnh liệt tìm kiếm và thể hiện cái bản lĩnh đích thực, là hy vọng thiết tha về lý tưởng, là ước muốn cháy bỏng sáng tạo khôn cùng.

Chế Lan Viên là trí thức cách mạng đã hiểu tự do như một tất yếu. Thơ của ông thực sự là thông điệp của cái đẹp và tự do – nhưng đó là tự do theo quy luật. Người nắm được quy luật tức cũng nắm được triết lý thơ Tự do quá cũng giết chết thơ như gò bó/ Kỷ luật bắt ta tìm vàng ở ngay trong đất thó/ Còn tuyệt đối tự do thì biến hoa thành ra cỏ/ Bởi xô bồ (Tự do và thơ).

Chính ông là người thực hiện sự giải phóng thơ ca ra khỏi sự xơ cứng, o bế và có khuynh hướng tự do hóa thơ rõ rệt với thể thơ tự do – như một sáng tạo có ảnh hưởng lớn; cũng có khuynh hướng dân chủ hóa thơ với loại thơ đối thoạiĐối thoại mới là một minh chứng hùng hồn. Ở Chế Lan Viên ta cũng tìm được một mẫu mực về sự trung thực. Có ý kiến chính xác khi cho rằng cả ba mảng thơ “chim báo bão”, “hoa ngày thường” và thơ “tâm sự” (mà sau này phần lớn đã được công bố ở Di cảo thơ (3 tập) đều chân thành như nhau. Nhà thơ dám nói sự thật một cách mạnh dạn, dũng cảm mà không sợ bị quy chụp là có ý đồ phản kháng, thậm chí phản bội. Như kiểu tư duy chủ quan duy ý chí, như tư tưởng bảo thủ giáo điều và những hệ lụy mà xã hội phải gánh chịu một thời. Số phận có phần bi đát của một số người lính sau chiến tranh là một sự thật phũ phàng. Chế Lan Viên không than  mà hỏi. Hỏi trách nhiệm, lương tâm của những người còn sống, đang sống hôm nay. Ý thức tìm về cái bản ngã đích thực, cái bản lĩnh nghệ thuật đích thực là khát vọng muôn đời của những nghệ sĩ lớn. Về với cuộc đời thực, viết những điều trung thực với lòng mình là khát vọng thiết tha đến phút chót cuộc đời – một khát vọng hết sức chính đáng để giải tỏa tâm hồn cũng là để giải phóng tư tưởng cho những người cầm bút chân chính.

Như vậy là trên những vấn đề hết sức nhạy cảm về chính trị, tư tưởng, nghệ thuật, trên những ranh giới có biểu hiện mờ ảo, ta vẫn phân định rõ một cách sáng tỏ cái bản lĩnh của nhà thơ thông tuệ và khí phách Chế Lan Viên.

Ấy chỉ là phân tích trên một vài đường nét về tư tưởng cũng như tư tưởng nghệ thuật để thấy vai trò đi đầu, dám xung trận của nhà thơ.

Đi sâu vào thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên còn là khai phá cả một hệ thống dày đặc từ hệ mỹ học đến hệ thống thi pháp, phong cách và các phương tiện thể hiện nghệ thuật để tìm ra những thành tựu đáng ghi công đầu cho nhà thơ.

Thành tựu nổi bật nhất có tính chất bao trùm có lẽ xuất phát từ ý thức đổi mới, từ quan niệm cách tân thơ ca hiện đại. Chế Lan Viên đã lấy mình – uy tín và danh dự cá nhân, lấy thơ mình để  đặt cược cho những thành bại của những thể nghiệm, thí nghiệm. Có thất bại nhất thời nhưng rất may là đại sự thành công (thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ chính luận, thơ triết luận). Công bằng mà nói, Chế Lan Viên thường là người đi đầu và sau đó là người dẫn đầu trong khám phá sáng tạo.

Một điều rất cốt yếu cần thấy là Chế Lan Viên có tư duy mở. Rất chuyên chính về nguyên tắc nhưng linh hoạt trong vận dụng: rất triệt để, quyết liệt trên cái cơ bản nhưng lại bao dung trên những chi tiết. Qua Thơ thế kỷ XXI, Thi pháp (I), Quan niệm thơ, Thơ hiện đại Chế Lan Viên đã thể hiện quan niệm đó. Mà nhìn kỹ xem, hình như đó đây, lúc này, lúc khác, Chế Lan Viên cũng đã có thể nghiệm táo bạo: đó là sự tiếp thu yếu tố tinh hoa của các trường phái thơ hiện đại – kể cả hậu hiện đại. Nói một cách khác nhà thơ muốn đón đầu cả phát triển của tương lai nghệ thuật.

***

Xung kích có hai nghĩa nhưng một ý: làm nhiệm vụ xung phong trong chiến đấu, đi đầu làm những nhiệm vụ khó khăn, gay go nhất.

Chế Lan Viên đã làm đầy đủ ý nghĩa đó đối với đời và thơ.

Tuy nhiên ông không chỉ đóng vai trò người lính xung kích, bản thân xông pha hòn tên mũi đạn nơi chiến trận, để mở đột phá khẩu, để chiếm lĩnh trận địa. Ông còn làm nhiệm vụ một vị tướng chỉ huy ở tầm chiến lược: mở mặt trận, tìm hướng tiếp cận, tạo ra một cách đánh. Ở cả hai cương vị đều phải rất trí tuệ: biết địch, biết ta chắc trăm phần thắng; và tất nhiên phải rất dũng cảm vì ít ra là bị thương, xấu nhất là hy sinh. Mà đối với nghệ sĩ là tiêu vong một đời sự nghiệp!

Chiêm nghiệm lại thơ và ngưỡng vọng thêm một thi tài lớn, giờ đây chúng ta có thể tôn vinh ông như một nhà văn – chiến sĩ xung kích không chỉ của một thời đã qua./.

 PGS.TS ĐOÀN TRỌNG HUY

Các Bài viết khác