NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

CẢM QUAN ĐẶC SẮC NGUYỄN TUÂN SỰ GIAO HOÀ HỒN NƯỚC – HỒN NGƯỜI

( 31-08-2017 - 06:21 AM ) - Lượt xem: 118

Nguyễn Tuân đã lập được một bản đồ Việt Nam trong tâm trí mình, đã thu nhận được muôn nghìn hình ảnh đẹp đẽ về quê hương, đất nước và làm hiện hình lên trên những trang sáng tác theo phong cách nghệ thuật đặc sắc.

Sau khi Nguyễn Tuân qua đời, nhà xuất bản Tác phẩm mới đã làm một tuyển tập những tuỳ bút và trích đoạn văn của ông về thiên nhiên, cảnh vật đất nước và thêm những trang về ẩm thực, cho ra mắt độc giả với nhan đề Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988). Sức chứa của sách đã lớn nhưng người ta vẫn muốn đưa thêm vào những trang về hoa gạo Điện Biên, gió Than Uyên, nắng biển Cửa Tùng ... Viết sao cho đủ khi tình yêu không bao giờ vơi cạn với quê hương, đất nước?

Nguyễn Tuân là một trong số rất ít nhà văn đặt chân hầu như trên khắp đất nước, khắp ba miền Trung, Nam, Bắc, kể cả biên giới hải đảo. Đó là người đã “trước bạ” đời mình vào đất nước và đất nước cũng in dấu đậm đà toàn vẹn trong tâm hồn nhà văn, khác nào ý thơ tuyệt đẹp của Chế Lan Viên: Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào. Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ”

Ấy là điều đáng quý nhất khi đã nhập thân, hơn thế hoá thân vào đất nước. Ở phương diện này nhà văn bộc lộ rõ một bản lĩnh nghệ thuật cao cường.

Nguyễn Tuân đã lập được một bản đồ Việt Nam trong tâm trí mình, đã thu nhận được muôn nghìn hình ảnh đẹp đẽ về quê hương, đất nước và làm hiện hình lên trên những trang sáng tác theo phong cách nghệ thuật đặc sắc.

Cảnh sắc đất nước được khai thác ở những khía cạnh hấp dẫn, nên thơ và hết sức chân thực. Bức hoạ đồ toàn cảnh ấy dĩ nhiên mang thuộc tính dân tộc rõ nét, đồng thời cũng đậm đà bản sắc Việt Nam tức phẩm chất dân tộc. Ngòi bút tài hoa, sắc sảo kết tụ tính dân tộc ấy đã thể hiện được cái cốt cách Việt Nam, cái hồn Việt Nam qua những trang viết. Nghĩa là cái tâm hồn, tính cách con người làm nên cái thần thái chính như một thông điệp ngầm của văn bản.

Cảnh thường gắn với con người; cảnh gắn với tình là vậy.

Xưa kia Vũ Ngọc Phan đã rất tinh tường khi nhận ra cái độc đáo của ngòi bút Nguyễn Tuân: “Trong những truyện Những chiếc ấm đất, Thả Thơ, Đánh thơ, Hương cuội, Chén trà trong sương sớm, Một cảnh thu muộn, ta đã thấy những gì? Thấy sự thích yên ổn, ưa nhàn hạ của người Việt Nam, thấy cái sống về đường tinh thần thanh đạm và đầy tin tưởng ở thần quyền của một dân tộc đã chịu ảnh hưởng rất sâu của Khổng Giáo và Lão Giáo” [1].

Tất nhiên đây là nói về cái thú tiêu dao, nhàn tản của một lớp người đặc biệt. Dù sao đó cũng thể hiện phần nào cái phong thái, cái hồn cốt Việt Nam.

Tác giả Nhà văn hiện đại nêu một nhận xét tổng quan như kết luận về Nguyễn Tuân: “… Sự thật thì chỉ có những khi viết về những cái xưa cũ, những cái thuộc về quê hương, đất nước hay những cái có thể tưởng tượng nhớ đến quê hương, đất nước ông mới viết tinh vi và sâu sắc. Ông là một nhà văn đặc Việt Nam”.

Trên con đường tìm kiếm vẻ đẹp quê hương trong hành trình xê dịch trước kia có những cảnh tượng rất đỗi quen thuộc, bình thường nhưng con mắt tinh tế, tài hoa của Nguyễn Tuân cũng phát hiện ra được những nét nên thơ, nên họa. Đó là cảnh sắc của nhiều miền quê khác biệt. Từ khung cảnh hoang sơ của đất Mường – Thanh Hoá  đến những bóng trăng thanh soi rọi mặt sông Hội An – Đà Nẵng...

Mang một niềm hoài niệm về văn hiến cổ truyền, Nguyễn Tuân có thời đã đi tìm vẻ đẹp xưa. Với cảm quan văn hoá chính xác, ông chắt lọc từ truyền thống những nét mĩ tục, thanh lọc ra những chất tinh khiết của đời sống tinh thần dân tộc. Yếu tố yêu nước và thức nhận dân tộc đã thắng cái tâm trạng bàng quan trước thực tại cuộc sống.

Khi bàn về “tâm hồn xê dịch” của Nguyễn Tuân, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Nhưng dù sao cũng là một tâm hồn gắn bó với “ngoại cảnh” [2].

Thật vậy, có những cảnh quan không chỉ truyền lại cái hồn của dòng sông nước, đường xá mà qua đó còn làm ta thấy được tình cảnh cần lao vất vả của người dân nghèo trên bến Hội An (Cửa Đại), hoặc nỗi khổ đau của dân chài của biển Lạch Trường lặn mò hầu “ở lòng nước bể ấy, mỗi cái tăm nước nổi lên mặt sóng lặng là một giọt máu của một người(Chiếc va ly mới).

Cũng như khi tả về mỏ Vàng Danh – khu vàng đen của Tổ quốc - Nguyễn Tuân đã nói đến những giọt mồ hôi, nước mắt; cái tủi nhục của phu mỏ trong cái địa ngục trần gian. Tuy không bộc lộ rõ tình cảm cá nhân nhưng nhà văn đã thể hiện một tiềm năng phản kháng của những người nghèo khổ. Cái tiềm năng ấy cũng mơ hồ nằm trong nỗi ẩn ức “bất mãn và uất kết” của Nguyễn Tuân.

Trong những trang viết từ sau Cách mạng, linh hồn tạo vật ngày càng gắn bó với tinh thần con người. Nguyễn Tuân tìm thấy tâm hồn dân tộc ở ngay thế giới nhân vật mới trong sự nghiệp sản xuất, chiến đấu trên quê hương, đất nước mình.

Thời kháng chiến, tả cảnh Xuân ở rừng nhưng cũng chính là để tả mùa Xuân mới của tâm hồn “Tôi thấy tôi nhìn tạo vật xung quanh và nhìn mình đúng hơn trước. Tôi thấy yêu đời hơn lên nhiều lắm”. Đi phát động quần chúng giảm tô, nhà văn đã thấy những nỗi niềm, những thân phận cuộc đời qua cảnh làng quê bình dị: “Ở nông thôn, cái sân, cái giếng, cái đình, bóng cây đa, bờ ao, lối đi, luỹ tre chỗ nào cũng tìm được chuyện khổ, toàn chuyện kẻ giàu người nghèo. Khi đã đi sâu vào được một cái khổ của giai cấp thì chỗ nào quanh xóm, ngõ, đồng ruộng đều có cạnh, có góc chứ không chung chung như trước kia tôi vẫn tưởng” (Bóng nó còn bám trên xóm làng).

Có những cảnh được miêu tả qua đó không chỉ có tâm trạng nhân vật mà còn cả tâm huyết, nỗi lòng người viết: “Ngoài sàn múa xoè kia, tiếng thác sông Đà vẫn xô đá ào ào. Và trong đêm tiệc, máu đồng trinh cứ rỏ theo bước đi của đôi chân khiêu vũ” (Xoè). Qua câu văn có cái sóng dậy và thác đổ ầm ào trong lòng người tràn ngập cảm thương, oán hận. Ấy là khi tả về nghệ thuật bị vùi dập, bị “nộp tô”, bị “hiếp dâm”.

Ngược lại, ở tư thế tự do tung hoành thì con người lại được nghệ sĩ hoá trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ.

Người lái đò trên sông Đà đã trở thành anh tình nhân muôn thuở Trương Chi, người nghệ sĩ tài hoa và quả cảm trong nghệ thuật leo ghềnh, vựơt thác. Cô gái dân quân Bảo Ninh thoăn thoắt tài nghệ đan lưới trên nền hoàng mai nở rộ giữa mảnh đất Quảng Bình rộn lửa chiến đấu (Xuân lửa trên dòng Gianh). Đặc biệt Hà Nội trong những năm đánh Mỹ – dũng sĩ  oai hùng tiêu biểu của cả nước vẫn thanh lịch, kiêu hùng. Và bao dung, thắm thiết nữa: cây sấu Hà Nội với những bông hoa li ti “trắng tròn như hạt nếp, hạt tẻ đầu mùa” khi “gió lá reo” nhà văn có thể nghe thấy “tiếng lao xao thuỷ triều của Hải Phòng thân cận và của Sài Gòn – Huế kết nghĩa cũng đang nổi gió mùa khô” (Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi).

Trong một mùa Xuân chiến thắng, người Hà Nội nổ súng đánh giặc, bừng bừng lửa căm hờn như “những bông thược dược huyết dụ bị thương đang bầm sắc”, khẩn trương mà bình tĩnh, không để dập nát “vương vãi” “một cánh hoa”.

Ta biết Nguyễn Tuân là người yêu hoa. Ông đã tự bạch chân thành: “Tôi là người thích cỏ cây và hoa”. Tả hoa thường gửi những ngụ ý.

Như tả rừng ban trắng ngời ngời trong màu xanh ngút ngàn rừng Tây Bắc bật lên một điểm sáng, một giải thoát cho tầm nhìn mỹ thuật. Lại có đoạn tả hoa thật đặc sắc ở vùng Bảo Ninh: “… vàng nức một nhánh hoàng mai (….) hương thơm dìu dịu, nhẹ nhàng (…) và trên mảnh đất còn hầm hập hơi lửa bắn quân xâm lược Mỹ, hoa mai vàng nở rộ như là không ngớt những lời mừng công, như là liên tiếp nở những nụ cười khen ngợi những người con dũng cảm của Quảng Bình” (Xuân lửa trên dòng Gianh). Nụ cười ngạo nghễ của hoa hay của chính con người?

Và hoa đào, trong đối sánh với hoàng mai lại tôn vinh Hà Nội với truyền thống tuyệt đẹp. Mùa xuân chiến thắng, đất Thăng Long ngàn năm văn vật rực rỡ đào hoa. Những “gốc đào xoè thiêng liêng và hồng đào” như cái màu hồng bất diệt của dân tộc (Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi). Cũng như đào Tô Hiệu ở nhà tù Sơn La lại mang cái  “nhỡn lực mỹ quan cộng sản”, mang cái ánh sáng cách mạng rực cháy tới tương lai. Hoa mang hồn người hay ngưòi mang hồn hoa cũng vậy.

Nhìn chung lại con người trong sáng tác của Nguyễn Tuân ngày hôm nay dù xây dựng, chiến đấu đều mang bóng dáng của ngày hôm qua. Đó là tư thế, là phong thái của con người dân tộc trong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước “lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa” (Huy Cận). Hoặc nói như một bạn Nhật, đó là tinh thần ung dung, tự tại của nhân dân một nước được coi là “nước của anh hùng, nước của nghệ thuật” [2]

Trong sáng tác của Nguyễn Tuân có một mảng mà người ta cho là hương vị của đất nước. Sự phát hiện này cũng là một cảm quan văn hoá mạnh mẽ và sâu sắc của nhà văn.

Chỉ riêng về mục ẩm thực, xưa nay đã có nhiều người viết: Thạch Lam, Tô Hoài, Vũ Bằng, Băng Sơn .. những cây bút ấy đều tập trung ca ngợi các đặc sản của địa phương, đồng thời nêu lên cái cách thức ăn uống, phong thái ăn uống cũng tức là đề cập đến văn hoá ẩm thực. Với Nguyễn Tuân, ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng từ xưa, như một số truyện trong Vang bóng một thời và nhiều sáng tác đáng chú ý sau này, thậm chí có khi còn gây nhiều tranh cãi (như Phở, Giò lụa). Lại có cả những chuyện truyền miệng có tính chất giai thoại về ăn uống của Nguyễn Tuân (chuyện ăn chả cá Lã Vọng, chuyện uống rượu “cuốc lủi” với nhà văn nước ngoài …).

Cái riêng, cái độc đáo của nhà văn trong vấn đề này, như một số nhà bình luận, là đã nâng chuyện ăn uống như một thú vui, một kiểu “hoạt động” nghệ thuật. Theo tôi, có một điều gì còn xa hơn, kể cả xưa lẫn nay, đó là sự phát hiện ra cái giá trị phi vật thể ở tầm vĩ mô. Đó cũng là một giá trị về bản sắc dân tộc, nó góp phần làm nên nét mặt, dáng hình con người dân tộc.

Tôi có một liên tưởng đột xuất và lý thú này: ở Nguyễn Tuân, chuyện ăn uốngviết lách, chuyện miếng ăn, đồ uống lại liên quan chặt chẽ với con chữ, câu văn. Hầu như Nguyễn Tuân cũng có thú “chơi” ngôn ngữ và ông xứng đáng là nghệ sĩ của nghệ thuật ngôn từ.

Có người đã nêu cái thú ham chơi của Nguyễn Tuân và cho đó cũng là một nét tính cách của con người ông. Tất nhiên chơi kịch, chơi hoa, chơi chữ dễ gần nhau trong phạm trù nghệ thuật. Với con chữ, ông “văn vẹo”, ông “giày vò”, ông “nhào nặn” … ông làm trò ảo thuật chữ nghĩa. Bằng tài năng của bậc pháp sư.

Xét cho cùng là do ông yêu tha thiết mãnh liệt tiếng mẹ đẻ. Làm cho tiếng Việt phát triển, làm cho tiếng Việt đẹp đẽ hơn, sáng láng hơn là tâm niệm một  đời viết. Bởi ông coi tiếng Việt là quốc hồn, quốc tuý, là một hương hoả tinh thần vô giá của cha ông.

   Tất cả đều được nâng lên tầm văn hoá, văn minh dân tộc với con mắt nhìn mang mỹ cảm nghệ thuật cao đẹp của Nguyễn Tuân.

*

Cảm quan đất nước của Nguyễn Tuân còn mang một nét độc đáo khác có thể gọi là cảm quan hữu cơ sinh động hay cảm quan hoà nhập máu thịt hết sức thân thiết.

Thực ra đây cũng không hẳn là cảm quan riêng ông. Rất nhiều công dân  yêu nước đã coi Tổ quốc là Bà Mẹ lớn lao thiêng liêng. Trong ngôn ngữ Việt Nam cũng quen thuộc là những từ Quê mẹ, Đất mẹ với nhiều phạm vi nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Và trong thơ văn nhiều đời ta từng bắt gặp những cảm xúc hết  sức tha thiết tha, đằm thắm với quê hương, đất nước.

Trường hợp Nguyễn Tuân có khác.

Nguyễn Tuân mong mỏi da diết và gần như đã thoả chí bình sinh được đi khắp đất nước. Đây cũng là hoàn cảnh rất may mắn hiếm có của một người viết, một đời viết.

Trước kia ông có triết lý: hạnh phúc là được xê dịch. Ngày nay, sau Cách mạng, quan niệm sống chính xác hơn, cao quý hơn. Không còn khái niệm Tổ quốc chung chung mà là  “thực mục sở thị”.

Ông đã đi khắp mọi miền, mọi vùng, lên rừng, xuống biển trong xứ sở của mình. Đi ngang đi dọc, đi lên đi xuống, đi vào đi ra trên đất nước mình. Đi cùng trời, cuối đất, từ đỉnh Lũng Cú tột bắc đến mũi Cà Mau cực Nam. Đi như đan dệt các vùng địa lý. Đi như thám hiểm biển trời, như khám phá lòng đất. Đến các nơi đô hội, thị thành rực rỡ cũng như nơi chòm xóm vùng sâu, vùng xa, nơi đèo heo hút gió, nơi khỉ ho, cò gáy, thâm sơn, cùng cốc … Thoả thuê với khí trời thoáng đoãng, nơi bãi biển bạt ngàn và  phơi mình với nắng, gió; dầm chân với bùn cát hay đắm mình trong dòng suối, vực sông…. Nếm quả mận, quả lê Đông Bắc, Tây Bắc, ăn trái xoài cát, xoài tượng miền Nam, nhâm nhi mực nướng với bạn văn nước ngoài, thưởng thức cá, tôm vùng sông nước Năm Căn; sành đặc sản Huế và cũng biết dùng mắm ruột Châu Đốc; uống rượu ngoại ở các khách sạn đẳng cấp nhiều sao và nâng ly rượu đế dân dã miền kênh rạch Nam Bộ …

Nguyễn Tuân là vậy! Phải xem tận mắt, mó tận tay, nghe tận nơi, thấy tận chốn. Phải cảm nhận bằng chính những giác quan chuyển đổi và luôn tạo cho mình những hứng thú, say mê mới.

Xưa kia, thời đi để mà đi, đi để mà tìm cảm giác mới, anh chàng Nguyễn lãng tử đã ước muốn mỗi ngày phải có “cái say sưa của rượu tối tân hôn”. Nay có khác. Có điều là phải luôn luôn đổi mới cảm xúc hoặc tìm cảm xúc mới trong sự đổi thay.

Có một cách đi rất Nguyễn Tuân là đi đi, lại lại, đi tái, đi hồi một nơi (như Điện Biên, như Vĩnh Linh) kiểu “thâm canh”, cũng đi đi, về về nhiều nơi (như Điện Biên - Vĩnh Linh hoặc ngược lại) kiểu vừa “thâm canh” vừa “quảng canh”. Kết hợp đọc tư liệu lịch sử, kiến thức địa lý, tri thức khoa học, xã hội, kinh nghiệm thực tế. Vậy là, bao giờ cũng nhìn ra cái mới, cái lạ trên một vùng đất, một địa phương có phần quen thuộc.

Ở ngay Hà Nội, mà có lần cụ Nguyễn vẫn còn đòi đi dã ngoại vòng quanh Thủ Đô, qua cầu Thăng Long lên tận Đông Anh, Phủ Lỗ rồi quay về Cầu Đuống, Yên Viên qua cầu Chương Dương vào nội thành. Ấy là trong những ngày nhà văn đã yếu nhiều và chẳng bao lâu đã đi hẳn vào cõi vĩnh hằng.

Ngọc Trai kể lại câu chuyện này, có hỏi nhà văn : “Những địa điểm vừa rồi bác đi mãi đến thuộc lòng như bàn tay rồi, bác còn đi làm gì vậy?” Cụ Nguyễn trả lời: “Đất nước đang đổi mới, thỉnh thoảng phải đi một vòng quanh Hà Nội để xem Hà Nội mình đang thay da, đổi thịt theo trào lưu đổi mới đến đâu chứ” [3].

Như đề từ ở Sông Đà: mọi con sông đều chảy ra biển Đông, người ta thấy  Nguyễn Tuân do yêu sông nước mà ông còn yêu biển cả.

Nhà văn nhiều lần ngắm biển ở Cô Tô, Huyện đảo, ở Cửa Tùng, ở Côn Đảo và đặc biệt ở Đất Mũi Cà Mau. Sáng cầm chén rượu ra đón bình minh trên biển Năm Căn hứng ánh nắng như những tia sáng đầu tiên  chiếu tràn ly rượu sủi tăm. Chiều, đón hoàng hôn biển. Đêm đến, lại ngồi ngắm trăng mông mênh trên sóng biển ngập tràn. Trước mặt là biển, sau lưng cũng là biển. Cà Mau như hòn đảo, sông biển vây quanh.; ba bề bốn bên đều mênh mông là biển.

Phải nói Nguyễn Tuân là người say mê cảnh quan tạo vật. Chiêm ngưỡng thiên nhiên trong kỳ quan của nó là một sự hấp thụ, một sự thanh lọc. Nhà văn trẻ đáng bậc tri kỷ khi cho rằng Nguyễn Tuân “như người có đạo – đạo thiên nhiên” (5).

Còn một điều sâu xa nữa: Nguyễn Tuân coi Tổ quốc như một cơ thể. Chính vì vậy, những ấn tượng, những cảm xúc của nhà văn là như với một con người – con người với tầm vóc khổng lồ – tất nhiên.

Con người ấy có đầu chạm mây trời mà đỉnh đầu là ngọn núi cao nhất nước. Cái mỏm tột bắc rừng núi rậm rì có thể ví như chỏm tóc. Còn bàn chân là Cà Mau mà Đất Mũi coi như “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm” bởi phù sa còn lấn mãi biển.

Những ví von của nhà văn đều rất hay.

“ … Tổ quốc tôi đầu đội sao Bắc Đẩu, chân đạp sóng Thái Bình Dương”, … “Tổ quốc chúng ta như bàn tay đang chìa ra … như bàn chân đang đạp tới”.

Ngay cả những con cầu cũng sáng đẹp lên trên cái bàn tay lớn đất nước “Bốn cái cầu bắc ở biên giới như  bốn cái nhẫn …”. Trong khi cái cầu ở Hiền Lương lại là “cầu ma”. Hình ảnh đến đó vấp toé máu ngón  chân là hình ảnh thấm cái đau xót cơ thể.

Những tâm hồn lớn thường gặp nhau.

Tố Hữu nói cái đau chia cắt: “Một thân không thể chia đôi” và nỗi vui giải phóng: “Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi”. Nhà thơ thường nhìn bằng con mắt khái quát, ở một tầm cao vời vợi “Tôi bay giữa màu xanh giải phóng, Tầng thấp, tầng cao, chiều dài, chiều rộng”.

Nguyễn Tuân cũng rất khái quát nhưng là cái khái quát - cụ thể. Ông ngắm nhìn và tiếp cận, tiếp xúc với đất nứơc như nhà nghệ sĩ – khoa học.

Nhà thơ đi thực tế các miền như bắt cái tay, nắn cái chân sờ cái vai, cái lưng của Con – Người – Đất – Nứơc vĩ đại. Ông đóng góp được cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ mới.

Có lần ông đã trao đổi với chúng tôi : “Ta thường nói Tổ quốc ta dài chỉ từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau. Bây giờ phải nói khoa học hơn: từ Lũng Cú tới Cà Mau 23022’ đến 805’. Tổ quốc ta là hai chữ S. Lũng Cú và Rạch Gầm cùng nằm trên kinh tuyến 1050: đỉnh tột bắc và điểm cực Nam. Chữ S ngoài là bể, mềm; trong cứng, núi là chính . Trường Sơn là xương sống. Kinh tuyến xương sống là 1050. Đó là con người hoá Tổ quốc[4].

Ta thường nói đường giao thông có vai trò huyết mạch. Nguyễn Tuân cũng nói “Tổ quốc như quả tim, con đường như mạch máu”. Nhưng nói cụ thể hơn là sự gắn bó con đường với con người. Nói cái khổ của nơi chưa có đường là cảm giác tắc nghẽn, ngưng trệ, ứ đọng, o bế, tù túng; nói cái sướng ở nơi có đường lại tràn đầy, thoải mái, thông thuận, thoả thuê, phóng khoáng. Ông mơ ứơc các loại đường từ quốc lộ, đường liên tỉnh đến đường huyện, đường xã, đường thôn “đường dân sinh” khác nào đầy đủ một hệ tuần hoàn.

Có nhà văn viết Cảm tưởng đọc Sông Đà của Nguyễn Tuân: “Tôi nghĩ rằng văn anh Nguyễn Tuân có thấm nhuần một lòng yêu non sông đất nước rất đáng quí; anh nói đến đất nước một cách trân trọng, anh biết yêu cho đến cái gian khổ, khó khăn của từng mảnh đất, một tình yêu nồng mặn như tình yêu vợ chồng”. (Nguyên Ngọc).Vậy thì, đi thực tế chính cũng là một cách tìm hiểu đất nước như “tìm hiểu” người mình yêu mà là tìm hiểu suốt đời.

Nguyễn Tuân đã lên rừng, đã xuống biển, đã thấy những tiềm năng giàu có của đất nước như sức sống ẩn tàng và có lẽ hơn rất nhiều người, ông cảm nhận thấm thía cái  “tiền rừng, bạc biển” trên mỗi bước chân đi.

Tình rừng trong phần đúng và hay là cái tình ấy. Huyện đảo, Cô Tô không chỉ là niềm hào hứng riêng với một vùng sinh thái du lịch. Nhà văn càng đi càng nhận ra vẻ hồng hào, cường tráng của cơ thể vĩ đại Tổ quốc “ đang thay da, đổi thịt”.

Thấu suốt tâm hồn ông là một tình cảm ruột thịt với đất nước. Đó là lý do vì sao đứng trên mỏm cao lại nghĩ tới mũi thấp. Trên đỉnh Hoàng Liên Sơn mà vẫn “nghe đồng vọng bơi chèo, mái chèo những đoàn biểu tình trên các dòng kênh tiến về thị xã Cà Mau” trong cái gió thét, mưa gào của một vùng trời cao (Vẫn cái tiếng dội ấy của huyện biển Cà Mau). Điều ấy cũng cắt nghĩa vì sao cây sấu Hà Nội cảm hoà với cây me Sài Gòn, vì sao lòng Hà Nội đau ở Huế, Sài Gòn: “gió lá reo” Hà Nội hoà với miền Nam đang “nổi gió mùa khô”. Phải chăng đó là dòng đối lưu của chính tâm hồn Nguyễn Tuân đã “nổi gió lên rồi”?

Một cách cố ý, Nguyễn Tuân tạo “nhân hình” cho Đất nước. Tổ quốc hiện hình như con người vĩ đại có đời sống, có tâm hồn.

Nguyễn Tuân từng tâm sự: “Tôi đưa nhân tính vào Tổ Quốc” . Và, chính đó là sự giao hoà của một đất nước nhân hậu và một tấm lòng nhân ái. Cảm quan đất nước của Nguyễn Tuân vì vậy có nhân tình rõ rệt. Thiên nhiên tạo vật như mang phẩm chất người. Con người và quê hương, đất nứơc gắn bó khăng khít với nhau. Đó cũng chính là tính nhân văn trong cảm quan non sông, đất nước của Nguyễn Tuân.

Từ một trí thức tiểu tư sản, có tấm lòng và tình yêu thầm kín với đất nước, Nguyễn Tuân trở thành nhà văn chiến sĩ biết yêu thương Tổ quốc thiết tha với tận cùng  của tình yêu công dân.

Như một dẫn dắt tự nhiên, Nguyễn Tuân đã gặp gỡ nhân loại ở cái phần nhân văn nhất, cao cả nhất của chủ nghĩa yêu nước cách mạng.

Những ngày đi trên quê hương kháng chiến: “đã là bao trang nhật ký thấm thía chúng ta gửi xuống đấy những biến chuyển hằng ngày của tâm hồn xứ sở” (Đường vui).

Nguyễn Tuân là người “một đời ao ước phương trời” (Tô Hoài). Không kể Một chuyến đi xuất ngoại trước kia, cái khao khát đến những chân trời mới sau này phần nào đã toại nguyện. Trừ Liên Xô (cũ) là nơi được đi nhiều lần, ông còn đến Trung Quốc, Bungari, Phần Lan... Ông giao lưu cảm thông với tâm hồn bạn bè quốc tế và viết về họ với nhiều thiện cảm, với tư cách sứ giả văn hoá ở nơi đất khách, quê người cũng như khi gặp gỡ ở nứơc nhà.

Có điều là càng thấy người, càng rõ mình, càng xa nước, càng gần dân tộc. Nguyễn Tuân viết Phở là trong những ngày nằm ở Helsinki xứ Bắc Âu xa tít tắp. Ấy là thời gian của Hội nghị hoà bình thế giới. Viết trong nỗi nhớ nhà, nhớ nước và cả trong niềm tự hào nữa. “Ở xa quê hương nhớ cái gì? …. Nhớ cái mùi vị không nơi nào trên trái đất này có, mùi vị phở…”.

Đây là câu chuyện với Phan Hồng Giang khi chưa đầy hai mươi hôm sau, ông đã đi vào thế giới vĩnh hằng [5].

Tôi nghĩ Phở xứng đáng là một “tham luận” đặc biệt, có thể góp phần vào Hội nghị hoà bình thế giới không chỉ trong những ngày ấy mà cho cả hôm nay và mai sau nữa. Chúng ta muốn hội nhập vào nhân loại tiến bộ văn minh hiện đại bằng bản lĩnh và bản sắc dân tộc của mình. Phải có ngôn ngữ riêng độc đáo góp vào tiếng nói chung đồng thuận vì hoà bình và hạnh phúc của con người. Tâm hồn, văn chương Nguyễn Tuân thấm nhuần văn hoá dân tộc và nhân loại. Một trong những yếu tố cơ bản nâng Nguyễn Tuân lên hàng nhà văn có tầm cỡ thế giới phải  chăng chính là cái cốt cách “đặc Việt Nam” cùng cái cảm hứng nhân văn, nhân bản của tâm hồn nhà văn cách mạng.

Bởi vì, xét cho cùng thì đi và viết với cảm quan đất nước mãnh liệt không chỉ vì vấn đề dựng xây hay chiến đấu nóng bỏng một thời. Mà là vì vấn đề vĩnh cửu về dân sinh, vấn đề con người.

Đến cuối đời, Nguyễn Tuân còn lỡ hẹn một chuyến đi quan trọng: lên thăm núi Tản Viên để trối già. Vì ông nổi giận về chuyện sữa đổ đi. Trong khi trẻ em suy dinh dưỡng dần. Ông nói với người bạn đường sắp đi:

-   Phải đi tận nơi thôi ông ạ. Chuyện này là chuyện ma không còn là

chuyện người. Đó, đó Liêu Trai đó.

Phen này ngày đi, đêm nghỉ, đói ăn, khát uống còn những nỗi vất vả ở dọc đường kể sao  cho xiết, chẳng mấy lúc mà lên đến đỉnh Ba Vì.

Lên Ba Vì ta sẽ vấn kế Sơn Tinh làm thế nào đây để trừ gian, diệt ác.

Người bạn hình dung ông chỉ tay về phía Sông Đà, trò chuyện cùng thần núi, đem dòng sữa trắng về cho mọi người, mọi nhà [6]. Tôi tưởng tượng thêm: với trái tim nhân hậu và lòng từ tâm, Nguyễn Tuân xứng đáng cùng thần Núi cất cánh bay lên Cõi Thiện đã từ lâu.

Cảm quan đất nước chỉ là một phương diện tâm hồn Nguyễn Tuân, tuy chưa phải là tất cả nhưng cũng đã nói được nhiều lắm.

Cảm quan đất nước là một cảm quan lớn xuất hiện trong nhiều nền văn học với nhiều nhà văn xưa nay nhưng lại rất độc đáo với Việt Nam. Bởi đấtnước là hai yếu tố tạo lập nên Tổ quốc, đất nước đồng nghĩa với Tổ quốc (cũng như non sông, núi sông, giang sơn, sơn hà, non nước …).

Tản Đà có “thơ non nước” trong đó hai chữ “non nước” như “điểm nhãn” nói lên tấm lòng yêu nước u hoài. Cảm quan này có lúc biến hoá đi thành dạng tình cảm của lăng kính yêu đương (qua đối thoại Non và Nước). Ở Tố Hữu, cảm quan này chỉ có một nghĩa duy nhất thiêng liêng là quê hương, đất nước quán xuyến một đời thơ.

Ở Nguyễn Tuân cảm quan đất nước là rõ rệt và mạnh mẽ. Đó là một cảm quan rộng mở nhiều chiều về không gian và lịch sử mang một dấu ấn đặc sắc của tư tưởng mỹ học ngày càng chính xác, cao đẹp.

Nguyễn Tuân có cái gì khác với Xuân Diệu. Theo Xuân Diệu “vẻ đẹp của con người là chuẩn mực của vẻ đẹp thế giới, của vũ trụ” [7], “Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ… Tháng giêng ngon như một cặp môi hồng vẻ đẹp ấy thiên về xuân và tình”. Nguyễn Tuân lại có nguyên tắc mỹ học coi vẻ đẹp, sức sống của thiên nhiên như của con người trong cái nhìn nhân cách hoá lành mạnh, cường tráng. Bút pháp Nguyễn Tuân gần với bút pháp Nguyễn Quang Sáng khi nói về quê hương, xứ sở nhưng phóng túng, mạnh mẽ hơn.

Có lần Nguyễn Tuân khen tác giả Đất Lửa viết được “ Nhưng còn cái dòng sông thì đáng nhẽ phải tả gấp đôi, gấp ba mới được, phải dữ dội hơn mới cân xứng”. Trong một chuyến đi khác, trên chiếc ghe máy vượt cù lao, nhìn cảnh mênh mông của sông nước, Nguyễn Tuân nói “Đất Lửa của cậu thiếu cái cảnh mênh mông choáng ngp này”, Nguyễn Quang Sáng bỗng nhớ Nguyễn Tuân tả con sông Bến Hải lúc bị chia cắt: “Dòng sông ộc ra nhưng nỗi dòng” [8].

Ta cũng nhớ những dòng thác đổ, những con sóng lũ đầy sức tạo hình, tạo cảnh của Sông Đà mang cái ào ạt, cuồn cuộn, xô xát như dựng lên, như chồm tới dữ dằn, quyết liệt.

Phong cách Nguyễn Tuân tuy có những biến chuyển, thay đổi nhưng vẫn giữ được hạt nhân bền vững có giá trị thẩm mĩ cao: đa dạng, độc đáo và tài hoa.

Người bạn vong niên đã tạc hình ông vào quê hương đất nước thân thương: “Anh là cây đước đẹp, cây sú già cổ thụ, rễ gốc xù xì xoè ra bám chặt lấy bùn đất reo với gió lộng, biển khơi ... nếu như có linh hồn -  chắc rằng hồn thiêng của anh về lãng đãng nơi góc rừng sông nước Cửu Long hay một bến bờ vùng rừng mặn Năm Căn để thoả tấm lòng xê dịch lữ thứ của anh” [4]

Tôi cũng mường tượng rằng hương hồn Nguyễn Tuân vẫn luôn quẩn quanh ôm ấp trọn vẹn đất nước. Đất nước anh hùng và nghệ thuật như đã được tôn vinh, đang đổi mới đi lên như ước nguyện một đời của nhà văn.

 

CHÚ THÍCH

ĐOÀN TRỌNG HUY Phó giáo sư – tiến sĩ - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 [1]  Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại tập I. Khoa học xã hội, Hà Nội.

 [2] NguyễnĐăng Mạnh (1999), Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân – về tác gia và tác phẩm. Giáo dục, Hà Nội.

 [3]Nguyễn Thị Ngọc Trai (1997) Một thoáng Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân – người đi tìm cái đẹp . Văn học, Hà Nội.

 [4]  Đoàn Minh Tuấn (1997) , Anh đã về với sông nước Cà Mau. Với bác Nguyễn, Trẻ, Hồ Chí Minh.

 [5]  Phan Hồng Giang (1999),  Lần cuối cùng gặp bác Tuân. Nguyễn Tuân- về tác gia, tác phẩm. Giáo dục Hà Nội.

 [6]   Phạm Lê Văn. (1987) Giờ cuối, ngày cuối của bác Tuân . Văn nghệ số 32, 08/08/1987.

 [7]  Nguyễn Đăng Mạnh.(2003), Xuân Diệu-Thơ.  Nhà văn Việt Nam hiện đại-Chân dung và phong cách. Văn học, Hà Nội.

 [8] Nguyễn Quang Sáng (1991) Những lần gặp gỡ. Nhà văn Nguyễn Tuân-con người và văn nghiệp. Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội.

Các Bài viết khác