NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

CẢM NHẬN THÊM VỀ NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC CỦA CHẾ LAN VIÊN

( 12-06-2015 - 08:46 PM ) - Lượt xem: 2213

Người đi tìm Hình của Nước là một trong vài ba bài thơ sáng giá nhất của tập Ánh sáng và phù sa. Đặc sắc nhất là sức tỏa sáng nghệ thuật, tiêu biểu rõ cho phong cách thơ trí tuệ - suy tưởng Chế Lan Viên.

Trước hết có thể coi bài thơ là một dạng của thể tụng ca mới – cách mạng.

Tụng ca (ode) xuất hiện trong văn học cổ đại Hy Lạp, là thơ trữ tình, nhằm ca ngợi nhân vật hoặc sự kiện lịch sử, phần nào gần gũi vởi sử thi, sử thi anh hùng thiên về tự sự. Cùng với thời gian, tụng ca đã biến mất. Tuy nhiên những yếu tố cơ bản được tái sinh dưới dạng đổi mới. Đó là những sáng tác tụng ca, “balát” của V.Hugo và P.Claudel ở Pháp vào thế kỷ XIX, XX (1). Ở Nga có M.Lomonosov (2) với khoảng 20 tụng ca, trong đó tác phẩm ca ngợi chiến công của quân Nga và công cuộc cải cách của Pyotr Đại đế (3). Ở ta thời Lý – Trần, khá thịnh hành là dạng văn học Phật giáo với một thể đặc biệt là văn bia.

Văn bia ca ngợi công trạng của các bậc vua chúa ghi lại ở các tháp, chùa, lăng mộ ghi công đức Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt, các vua triều Nguyễn (4).

Thời hiện đại, xuất hiện trường ca sử thi trong đó Trường ca V.Lênin của Maiacovxki là nổi bật. Ở Việt Nam Theo chân Bác của Tố Hữu cũng là dạng đó. Tuy nhiên xét về tính chất và tố chất nghệ thuật, cũng có thể xếp nhiều bài trong sáng tác Hoa trước lăng Người mà nổi bật là Người đi tìm Hình của Nước là một dạng thơ tụng ca mới – tụng ca cách mạng.

Xét về mặt ý tưởng nghệ thuật thể hiện qua chủ đề thơ ta thấy rõ hình tượng Hồ Chí Minh như một thiên tài cách mạng. Chế Lan Viên tập trung khắc họa đặc sắc một trí tuệ tuyệt vời. Trong hành trình 30 năm tìm đường cứu nước, ở quãng một phần ba chặng đường, thiên tài ấy đã chứng tỏ một con mắt tinh tường tầm chiến lược, nhìn ra xu thế lịch sử cách mạng để quyết định vận mệnh đất nước dân tộc…

Đường đến với Lênin là đường về Tổ quốc

Chính ở bầu trời Âu, chính ở một khung cảnh lịch sử cụ thể - năm 1920 – khi tìm ra con đường cách mạng phải đi, Người đã trở nên vĩ đại. Không chỉ là nhà cách mạng xuất sắc – Người đã trở thành lãnh tụ cách mạng từ thời điểm ấy. Theo một quan niệm – lãnh tụ là người dám quyết định những quyết sách chiến lược trong một thời điểm lịch sử trọng đại. Hồ Chí Minh trở thành Nhà khai sáng, Người mở Nước, Vị chủ soái, Người tạo  Kỷ nguyên lịch sử mới Dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập Tự do, Văn hóa, Văn minh “Ngôi sao sáng đưa ta qua đêm trường thế kỷ/ Đã thành mặt trời chói lọi bình minh”. (Nếu quên thanh gươm, ta chẳng hiểu Người).

Hồ Chí Minh đắm mình vào nhân loại đau thương trên “địa cầu cháy bỏng” (5) để từ trong máu, lửa tìm ra chân lý đấu tranh. Người đã qua bao chân trời tìm kiếm để nâng tầm trí tuệ. Và chính nhờ đó, Người thâu góp được những tinh hoa nhân loại tạo ra nguồn sáng tâm hồn mới. Một chính khách tầm cỡ tiên tri một danh nhân văn hóa thế giới đã từ rất lâu: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa không phải văn hóa châu Âu  mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai” (6).

Như vậy, Hồ Chí Minh đã sớm trở thành “một sự kết tinh” của “Trăm cuộc sống”, triệu triệu cuộc đời. “ Bác nằm kia như một sự kết tinh /Trăm cuộc sống/ Cuộc sống nào cũng đẹp” (Ta nhận vào ta phẩm chất của Người). Người là một nhân cách lớn tổng hòa những nhân cách tốt đẹp của con người, cũng là tinh túy văn minh nhất.

Phạm Văn Đồng đã từng viết : “ Hồ Chí Minh – tinh hoa và khí khách của dân tộc”. Với Hồ Chí Minh, văn hóa cũng là địa chỉ tinh thần của dân tộc. “ Đi khắp năm châu về đậu bến sông Hồng”. “Mác – Lênin cùng với Hùng Vương/ Người hội tụ của những nguồn ánh sáng”. (Nếu quên thanh gươm, ta chẳng hiểu Người)

“Những nguồn ánh sáng” dân tộc và nhân loại trở thành ánh sáng tư tưởng, ánh sáng văn hóa Hồ Chí Minh. Để có thể tỏa sáng Đất nước với “Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai”.

Người đi tìm Hình của Nước là minh chứng cho một tài năng thơ ca nhiều biến hóa. Ở đây có sự hòa trộn linh hoạt nhiều phương thức sáng tạo, nhiều thủ pháp nghệ thuật, nhiều kiểu bút pháp.

Với năng lực tưởng tượng mạnh mẽ, Chế Lan Viên kết hợp được thực và mộng, chân với ảo để tạo nên một bút pháp lung linh kỳ ảo.

Nhà thơ hóa thân ngay từ đầu vào con sóng:

Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác!

Vậy là chủ thể trữ tình lên đường đồng thời. Nhưng khác với “sóng đời” đi sánh đôi với hành trình của Người như trong Người thay đổi đời tôi – Người thay đổi thơ tôi và mấy khổ thơ trong bài thơ này, ở đây là “sóng hồn” chuyển theo quá trình tìm đường cách mạng. Không tách biệt hoàn toàn mà có lúc đột xuất hòa nhập vào tâm hồn lãnh tụ (như kiểu hai hàm số hình sin lượn sóng giao nhau). Tác giả kể, tả, bình luận trữ tình ngoại đề và có lúc cùng cảm nhận với đối tượng thẩm mỹ - Bác Hồ. Nhà thơ buộc người đọc cùng mở rộng sức tưởng tượng nghệ thuật. Ấy là phút hóa thân kỳ lạ của nghệ sĩ. Trong văn chương có yêu cầu phải sống với nhân vật, hóa thân vào nhân vật là như vây.

Từ đó là sự kỳ ảo hóa không gian “ Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp/ Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin”, và kỳ ảo hóa thời gian giờ phút linh thiêng, huyền bí cho sự hóa thân sinh nở - sự hình thành một hình hài đất nước.

Ở đây, kiểu hóa thân còn làm nhân vật trở nên thần kì. Đã có nhận xét chính xác Người đi tìm Hình của Nước là bài thơ có cốt cách sử thi. Cần nói thêm: bài thơ có tính chất sử thi, được sáng tác theo khuynh hướng sử thi. Kho thần thoại Việt Nam có sử thi Đẻ đất, đẻ nước nói về sự tích kỳ diệu hình thành con người dân tộc.

Bác Hồ được xây dựng như một nhân vật khổng lồ trong thời đại, có sức mạnh thần kỳ “đẻ đất, đẻ nước”. Nhà cách mạng bỗng trở nên siêu phàm. Đó là người hoài thai sự nghiệp giải phóng, khai sinh ra một đất nước với một sinh mệnh mới, một thân phận khác trước. Đó là nhà chính trị đã có dự báo tương lai hết sức chính xác, hơn thế người kiến tạo tương lai cực kỳ tài năng để hình thành một hình thái đất nước, một mô hình thể chế của dân tộc trong thời đại mới.

Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất.

Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai

Thế  đi đứng của toàn dân tộc

Một cách vin hoa cho hai mươi lăm triệu con người

Chính Người – Hồ Chí Minh đã góp tác động quyết định để tái sinh “Nước Việt Nam nghìn năm Đinh, Lý, Trần, Lê/ Thành nước Việt nhân dân trong mát suối”.

Những ý tưởng cũng thăng hoa. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống thành chủ nghĩa yêu nước anh hùng cách mạng, chủ nghĩa dân tộc thành chủ nghĩa quốc tế vô sản. Tất cả nhờ phép màu Luận cương đến Bác Hồ. Sau này ta được đọc Con đường dẫn tôi tới chủ nghĩa Lênin là sự diễn giải chuyển biến kỳ diệu ấy!

Thủ pháp tư duy đối lập qua bài thơ như một sở đắc làm bật lên tính cách chủ đạo trí tuệ Hồ Chí Minh -  Nhà chính trị, Nhà tư tưởng, Nhà triết học, Nhà văn hóa.

Hai khổ thơ đầu đã là sự khai mở của bút pháp.

Khổ 1 là sự tồn tại và sự ra đi. Tiếp theo là gần (quê hương, xứ sở, nước) và xa (đâu phải sóng quê hương, chẳng xanh màu xứ sở, xa nước rồi). Sự thần tình là để nói lên một tình cảm lớn : tình lưu luyến của một tâm hồn yêu nước lớn lao.

Tiếp theo là so sánh hai quan niệm sống: nhỏ hẹp, tù túng để làm bật lên cái lớn lao, vượt thoát cao vời của lý tưởng, cái đẹp thực sự của “tấm lòng lãnh tụ”. Toàn bài là sự biểu hiện của những đối sánh giữa hiện thựcước mơ, lý luận thực tiễn, lịch sử hiện tại, tự donô lệ, khổ đauhạnh phúc

Nhưng điều kỳ diệu nhất là sự chuyển hóa, sự biến hóa (thành, hóa, thay…) để những đối sánh lại thống nhất, kết tụ hai đối tượng, hai thực thể “Đường đến với Lênin là đường về Tổ Quốc”, biểu hiện một ý tưởng lớn: chủ nghĩa dân tộc hòa nhập với chủ nghĩa quốc tế vô sản – thành tổ đầu tiên, cơ bản nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh

***

Người đi tìm Hình của Nước là bài thơ thời sự - thời đại

Theo những tháng năm “Điều hiểu lớn, ta hiểu thêm về Bác” Chế Lan Viên từng bình luận như vậy.

Nhưng “Hiểu sao hết…” vẫn là câu hỏi găm vào tâm trí chúng ta. Đó là câu hỏi mở cho tiếp nhận của các thế hệ bạn đọc.

Những câu thơ vẫn đang có sức lay động hồn người. Người như đang thức tỉnh ý thức con người “ tìm đường” trong thế giới đầy biến động, phức tạp ngày nay và cho cả trường kỳ lịch sử.

Bài thơ còn là một đóng góp cho thời sự nghệ thuật: sự kết hợp hài hòa đặc sắc văn học và lịch sử, chính trị và thơ ca, hiện thực và lãng mạn… với tác động mở trong cảm nhận.

 

                                   CHÚ THÍCH

(1)  Victor Hugo (1802 – 1885) với Odes et Ballades (1822), Paul Claudel (1868 – 1955) – Cinq Grandes Odes (1911).

(2)  Mikhail Lomonosov (1711 – 1765).

(3)  Pyotr I : Pyotr Alekseyvitch Romanov (1672 – 1725).

(4)  Như Văn bia lăng các vua Nguyễn

(5)  Ý thơ Tố Hữu: Ôi nhân loại. Địa cầu cháy bỏng/ Lò sát sinh ngập máu xương rơi(Theo chân Bác).

(6)  Oxiv Mandenxtam (Nga). Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản – Nguyễn Ái Quốc. BáoNgọn lửa nhỏ (39)- 23/12/1923 – Bản dịch của Marian Tkasov 

PGS.TS ĐOÀN TRỌNG HUY

Các Bài viết khác