NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

CẢM NHẬN ĐỌC VĂN NGƯỜI

( 19-05-2014 - 02:48 PM ) - Lượt xem: 1554

Văn của Hồ Chí Minh là một di sản đồ sộ. Trong đó, có hai mảng lớn là văn chính luận và văn nghệ thuật. Cho tới nay, đã có những sưu tầm tương đối đầy đủ và đáng tin cậy.

Đọc văn của Hồ Chí Minh là công việc hứng thú mà nghiêm túc suốt đời. Đọc đi, đọc lại, suy tư và nghiền ngẫm. Luôn đọc dưới ánh sáng của thời đại, thời cuộc để nhận ra cái hay, cái đẹp mới.

Văn của Hồ Chí Minh là một di sản đồ sộ. Trong đó, có hai mảng lớn là văn chính luận và  văn nghệ thuật. Cho tới nay, đã có những sưu tầm tương đối đầy đủ và đáng tin cậy.

Việc bổ sung  đến nay coi như đã đầy đủ. Sự sắp xếp phân loại cũng dựa theo những quan niệm và cách thức khác nhau. . Tất cả do chưa phân biệt rõ văn chương báo chí và văn chương nghệ thuật trong văn Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, điều đó không thật quan trọng, mọi sự sắp xếp chỉ là tương đối. Điều cốt yếu là ta cần phải căn cứ vào văn bản – tức tác phẩm

Bước đường viết văn kiên trì, táo bạo

Không bao giờ, Người có ý định làm một nhà văn, một nhà thơ chuyên nghiệp Vậy mà, như ta biết, khi trở thành một nhà cách mạng tầm cỡ quốc tế thì đồng thời Người cũng trở thành một nhà văn, mộ nhà thơ xuất sắc. Trước danh hiệu tốt đẹp vể phạm vi nghệ thuật, Hồ Chí Minh khiêm tốn, nói hóm hỉnh: “Nhà thơ gì tôi.... Tôi là cây bút tiểu phẩm, nhà chính luận. Gọi tôi là người tuyên truyền – tôi cũng không tranh cãi; nhà cách mạng chuyên nghiệp – là đúng nhất” (1). Người tự nhận là có “duyên nợ” với báo chí “.... tất cả các bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (2).

Con đường tập viết văn của Người hết sức công phu. Hoạt động cách mạng ở nước ngoài, tìm hiểu cách mạng của thiên hạ thì trước hết phải biết ngoại ngữ. Đặt chân lên nước Pháp, rồi sang Anh và sau hoạt động nhiều năm ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh trước hết nêu một tấm gương tuyệt vời về sự khổ công học tập thành tài các ngoại ngữ khoảng 29 ngoại ngữ và sử dụng thành thạo khoảng 10 thứ tiếng trên thế giới (3). Đó là công cụ rất hữu hiệu để đi vào đời sống và cũng là chìa khóa vàng mở kho tàng văn hóa nhân loại. Người thấu hiểu cảnh đời và tâm tư, nguyện vọng của những người lao động cùng khổ, cũng như đời sống của bọn quý tộc vương giả đi áp bức, bóc lột. Người đọc trước tác của Mác bằng tiếng Đức, của Lênin bằng tiếng Nga,.... Người cũng đọc trực tiếp qua Pháp văn, Anh văn, Trung văn: Anatole France, Victor Hugo, Emilie Zola, cũng như William Shakespeare, Charles Dickens, Lỗ Tấn,.... Kiến thức thực tế xã hội và tri thức gián tiếp qua sách vở như những tài liệu rất quý giá cho một nhà hoạt động xã hội, một chính khách, một nhà văn hóa lớn.

Từ khi tới Pháp, tìm hiểu kẻ thù ở ngay chính quốc, Nguyễn Tất Thành đã nuôi một ý chí: phải nắm chắc được tiếng Pháp và phải viết được bằng tiếng Pháp như một ngôn ngữ có hiệu quả chiến đấu cao. Được sự giúp đỡ tận tình của các chủ bút, anh viết từ 3, 4 dòng rồi tăng lên 7, 8 dòng. Khi viết được 10 dòng, anh được khuyên viết dài hơn, từ một mẩu tài liệu viết thành một bài nhỏ. Dần dần, từ một cột lên một cột nữa... Cho tới khi dài quá, người ta lại bắt viết ngắn lại. Rút ngắn cũng khổ công như là viết dài. Khi viết được dài ngắn tùy ý, coi như là viết được.

Con đường viết báo, viết văn là phải hết sức kiên trì và mạnh dạn. Sau này có dịp, Người kể lại: “Lần đầu tiên bài mình được đăng báo, có thể nói là sướng nhất trong đời người.... Lúc viết được báo rồi, lại có một ý muốn là viết truyện ngắn. Đó là một sự cả gan. Thử viết một truyện ngắn về đời sống công nhân Pari mà mình biết rất rõ vì tự mình cũng là một công nhân. Truyện ấy được đăng lên báo. Đó là lần thứ hai mà mình thấy sung sướng” (4).

Ngay từ đầu, viết báo và viết văn đã có sự gắn bó. Sau đó là sự đan xen: ký sự, phóng sự, truyện ngắn, chính luận, xã luận,....

Tới nay, thật khó phân biệt rạch ròi văn chương báo chí và văn chương nghệ thuật bởi cách viết và đặc điểm văn phong Hồ Chí Minh.

Người đã đi từ chỗ học ngoại ngữ đến sử dụng thành thạo để viết bằng chính ngôn ngữ ấy hết sức nhanh chóng. Đặc biệt, từ những bài báo đầu tiên được đăng tải đến truyện ngắn xuất sắc đầu tay nhan đề Paris (1922) rồi Bản án chế độ thực dân Pháp (Le Procès de la colonisation Française – 1925) – một hiện tượng văn học lớn trong thời đại văn học ở phương Tây cũng như ở Việt Nam – được coi như tiến bộ vượt bậc, thần tốc!

Văn chính luận cũng là một khối lượng đồ sộ. Từ những bài báo, bài văn ở nước ngoài và trong nước, trong 50 năm cầm bút, Hồ Chí Minh đã viết hơn 2000 bài báo, gần 500 trang truyện, ký là phần văn chương nghệ thuật. Đó là những con số hùng hồn và đầy sức thuyết phục về ý chí và tài năng về phương diện người nghệ sĩ cầm bút. Ấy là chưa kề trước tác và chính trị hết sức phong phú. Tất cả góp phần làm nên Hồ Chí Minh toàn tập như tập đại thành một đời của trí tuệ nhà cách mạng vĩ đại

Cảm nhận văn chương Hồ Chí Minh

Trừ Truyện và ký, còn có các tác phẩm có tính văn chương rõ rệt như Nhật ký hành trình bốn tháng sang Pháp và hai cuốn chưa phục hồi đầy đủ là Những ký ức của tôi (51 chương), Nhật ký chìm tàu (24 chương) và vở kịch Con rồng tre (Le Dragon de Bambou).

Văn chính luận bao gồm hầu hết là bài đăng trên báo, một số in thành sách: Đường Kách mệnh (1927),Đời sống mới (1947), Sửa đổi lối làm việc (1948).Còn lại thì phần lớn là văn kiện quan trọng: Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi, Diễn văn, Bài nói chuyện, Thư từ, Bài giảng, Huấn thị các loại,....

Tất cả chỉ tập trung vào một nội dung lớn: đấu tranh cách mạng. Tuy nhiên, ta có thể thấy nổi bật một số chủ đề và đề tài lớn.

Sự lên án và cảnh báo  chế độ thực dân cáo chung.

Từ những tác phẩm đầu tiên trong những năm 20, nổi bật nhất là Bản án chế độ thực dân Pháp cho đến bản Di chúc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã dựng lại cuộc đấu tranh chống chế độ áp bức, bóc lột và chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ và mới.

Thời gian lịch sử như phông nền cho các sự kiện là khoảng năm, bảy thập kỷ của thế kỷ XX – thế kỷ đau thương và anh dũng của dân tộc và của cả nhân loại.

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ rồi nhanh chóng kết thúc (1914 – 1918). Năm sau đó – 1919, Nguyễn Ái Quốc đã đưa bản Yêu sách Hội nghị Versailles. Trong Lời phát biểu tại Đại hội Tua (Tours) ở Pháp (1920), với danh nghĩa là đại biểu Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc là người sớm nhất đã lên tiếng tố cáo chủ nghĩa đế quốc Pháp ngay trong lòng đất  Pháp. Ngay từ đầu, đó đã là tiếng nói có tầm quốc tế và kêu gọi lương tri: “Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái tả lẫn phái hữu, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi!”(5). Những người bản xứ được ưa chuộng (Người cùng khổ - 15/1/1923)  Nhiều bài trên những số của tạp chí Thư tín quốc tế (Correspondance internationale) là những bản cáo trạng đanh thép: Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp, Hành hình kiểu Linxơ, một phương diện ít người biết của nền văn minh Mỹ, Công cuộc khai hóa giết người (các số 32, 59, 69).

Bản án chế độ thực dân Pháp là một thiên phóng sự điều tra công phu, được coi là tác phẩm tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam hiện đại vì tính chiến đấu cách mạng. Tác phẩm là một bản cáo trạng lớn mà bọn thống trị không thể chống chế hay chối cãi vì đây là tư liệu chính xác nhất ở khắp các thuộc địa ở Pháp và của cả người Pháp ở các thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã lật mặt chủ trương xâm lược với lá cờ bịp bợm “sứ mệnh khai hóa của nước Đại Pháp”, vạch trần những thủ đoạn bóc lột, đàn áp và tàn sát dã man ác độc nhất. Bản án chế độ thực dân Pháp buộc tội từ những tên trùm thực dân thống trị đến những tên lính bảo hộ, bọn giám mục, cha cố, tay sai làm gián điệp, đi hôi của, buôn đàn bà, cướp ruộng, đốt nhà,....

Sách gồm 12 chương và một phần phụ lục thì 11 chương đầu tố cáo tội ác trên nhiều phương diện: cướp của, giết người, đầu độc người bản xứ, ngu dân,....  và cảnh khổ của người dân thuộc địa. Chúng ta chỉ cần lướt qua chủ đề cũng đã thấy khiếp sợ: Thuế máu vạch trần những thủ đoạn bắt lính làm bia đỡ đạn cho chính quốc; Việc đầu độc người bản xứ nêu rõ sự bắt ép dân chúng mua rượu và thuốc phiện; Những nhà khai hóa vạch mặt thật thô bỉ sự tàn ác của bọn thực dân; Việc bóc lột người bản xứ tố cáo sự bóc lột bằng thuế khóa, cướp đoạt ruộng đất, sưu dịch,....

Qua tất cả những điều trên, ta có thể dễ dang hình dung “các nhà khai hóa” là một lũ ác thú không hơn không kém! Tác giả đã lên án trò hề bịp của bọn đeo mặt nạ văn minh, dù là kiểu Pháp hay kiểu Mỹ thì đó cũng là cái nhạy bén hiếm có của một cây bút tầm quốc tế.

Những năm kháng chiến từ 1945, qua văn chính luận, Hồ Chí Minh vừa tiếp tục nêu tội ác của bọn xâm lược, đồng thời chỉ rõ con đường cùng của bọn đế quốc và cáo chung số phận  của chúng.

Bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc ngày một lộ rõ.

Chủ yếu trên báo Nhân Dân, suốt những năm chống Mỹ, dưới các bút danh T.L, C.B, Chiến sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết liên tục nhiều bài vạch trần tội ác tày đình của đế quốc Mỹ: từ can thiệp, dựng chế độ bù nhìn bán nước, vũ trang cho ngụy quân, ngụy quyền miền Nam đến đổ hơn nửa triệu quân xâm lược  trực tiếp và gây ra cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Tuy nhiên, sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân mới đã được cảnh báo bằng ngòi bút chính luận sắc sảo: từ những tố cáo đầu tiên Đalét phun nọc độc ở miền Nam Việt Nam (Nhân Dân số 366, ngày 3/3/1945) đến 7000 tấn thuốc độc; Mật thám Mỹ; Vì sao đế quốc Mỹ thích chiến tranh, sợ hòa bình!; Sicagô và Sài Gòn; Trong trần ai, ai cũng ghét Ai; Thư gửi ông Kennơđi, tổng thống mới của  Mỹ,... Có những Chuyện ngược đời, Đạo đức Mỹ, Hòa bình kiểu Mỹ tức là binh họa,... lật tẩy sự xấu xa, giả dối và độc ác. Nhưng đã có những bình luận ngày càng rõ về con đường sa lầy và bế tắc của Mỹ: Mỹ Diệm sẽ thua, nhân dân sẽ thắng; Đế quốc Mỹ rúc xuống hầm.... cho đến những bài vào tháng 6/1968 thì ta đã thấy rõ đại bại chung cuộc của  chúng đã được tiên tri chính xác: “Mỹ cút, Ngụy nhào”.

Sự thể hiện con người bị áp bức, bóc lột, khát vọng giải phóng  với ý chí và hành động cách mạng vì độc lập tự do.

Trong nhiều thập kỷ, người dân bị đè nén, vùi dập trong nỗi thống khổ, những nạn nhân của chủ nghĩa thực dân, đế quốc đã hiện lên qua những cáo trạng. Rõ nhất là qua loạt bài tố cáo trên báo Pháp và tác phẩm nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp: những người dân vô tội bị đẩy vào bóng tối ngu muội, các cạm bẫy của lừa đảo, bịp bợm và đàn áp, bóc lột trắng trợn. Trong đó, phụ nữ và trẻ em là những nạn nhân đáng thương nhất, những người khổ nhất trong những người khổ cực. Bọn người tự xưng là văn minh đã “đối xử một cách bỉ ổi với người đàn bà ... và xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hóa, tiết trinh và đời sống của họ.... em bé bị lột trần truồng, người thiếu nữ bị mổ bụng, cánh tay trần giơ quả đấm lên trên nền trời lãnh đạm”.

Thảm cảnh, thảm họa kéo dài đã nổi lên những khúc bi tráng. Những con người cúi mặt đã đến lúc ngẩng đầu. Chương 12 – chương cuối cùng của Bản án chế độ thực dân Pháp Nô lệ thức tỉnh ghi lại sự vùng dậy bước đầu của những người nông dân, công nhân thuộc địa, những người bị đàn áp, bóc lột đã đồng loạt đứng lên, vung những nắm đấm tiến công đầy hứa hẹn.

Ngay ở Chương I – Ở Đông Dương đã xuất hiện một thông tin quan trọng: “Tháng Mười một 1922, 600 thợ nhuộm Chợ Lớn (Nam Kỳ) bị bớt lương đã quyết định đình công”. Hiện tượng bãi công cũng đã xảy ra ở nhiều nước. Đó là vào đầu năm 1924, nổ ra cuộc bãi công lớn của công nhân hàng hải đăng bạ Brazil. Anh công nhân da đen Hô xê chống lại bọn cảnh sát đàn áp bị bắn trọng thương, sau ra tòa và bị kết án 30 năm tù khổ sai. Được tin, anh em công nhân cách mạng lập ra một Ủy ban bảo vệ, tổ chức biểu tình trong cả nước. Vụ án phải xử lại. Phiên tòa kéo dài suốt đêm, đến 4 giờ sáng mới kết thúc: “Tòa xử trắng án. Bản tuyên án được hoan nghênh bằng những tiếng vỗ tay vang như sấm. Và Hô xê, anh chiến sĩ bãi công da đen ngả mình trong cánh tay của các đồng chí và các người bảo vệ anh, những đại biểu của công nhân da trắng. Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Đó là miêu tả và bình luận trong Đoàn kết giai cấp đăng trên Người cùng khổ số 25 tháng 5/1924.

Vậy là, đã nhóm lên những phong trào thể hiện tinh thần giác ngộ, tình đoàn kết, đồng thời với ý thức và phương pháp tổ chức.

Sự miêu tả hình ảnh quần chúng cách mạng và cán bộ cách mạng.

Con người mới thực ra chỉ xuất hiện thấp thoáng như phác hoạ  trong một số văn phẩm trước 1945. Sau này cũng chủ yếu là gián tiếp hiện ra rõ nét hơn, nhất là trong giai đoạn xây dựng xã hội mới.

Nét chung nhất là hình ảnh con người có khát vọng và đấu tranh mạnh mẽ cho lý tưởng độc lập, tự do.

Mảng truyện và ký có những nhân vật ở nhiều quốc gia như công nhân Trung Quốc (Chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật), du kích Pháp (Kinh nghiệm du kích Pháp)...

Ở nước ta, từ năm 1941 đã có chủ trương thành lập Đội tự vệ vũ trang, sau đó là Đội tuyên truyền Giải phóng quân (1944). Đánh du kích như đánh cờ nêu hình ảnh quần chúng tham gia hoạt động yêu nước tích cực, từ em bé đến cụ già cũng có thể giúp du kích, đánh du kích.

Kháng chiến trường kỳ đã góp phần tạo nên ba thứ quân. Hình ảnh chiến sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích đã nổi bật trong các trận đánh, các chiến dịch: Việt Bắc anh hùng. Sau Đại hội anh hùng chiến sĩ toàn quốc đã xuất hiện thể loại truyện anh hùng, chiến sĩ. Nữ anh hùng giao thông là một trong số 19 truyện được viết trong tập Dân tộc anh hùng và anh hùng của dân tộc (Sự thật (2), Hà Nội, 1955) có thể coi như một bản ký họa. Dù sao đã bắt đầu có chân dung người anh hùng quần chúng trong văn chương nghệ thuật Hồ Chí Minh, đó là điều đáng quý.

Trong tuyển văn chính luận, thực ra chỉ có Thanh niên anh hùng Lý Tự Trọng (Nhân Dân – 3649 ngày 26/3/1964) là trong mạch thể hiện những chân dung tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Loạt truyện về nhân vật anh hùng chủ yếu dựa vào người thật, việc thật thực chất chỉ là chuyện kể, giao thoa giữa truyện ..

Ta có thể thấy nét đặc sắc trên những trang văn của Hồ Chí Minh là ngay từ rất sớm đã có sự khẳng định hình ảnh người chiến sĩ đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng  dân tộc và nhân loại.Đó là chân dung ngày càng hiển hiện của con người thời đại cách mạng.

Đôi nét về tài nghệ văn chương

Qua những trang văn, ta cũng thấy nổi lên cảm hứng chủ đạocủa người cầm bút. Đó là cảm hứng lịch sử, cảm hứng nhân văn và cảm hứng cách mạng.

Người ngày càng hiện rõ bản lĩnh nghệ thuật. Đã có nhiều người  nhận xét về phong cách của văn chương nghệ thuật Hồ Chí Minh chủ yếu qua Truyện và ký: Phạm Huy Thông, Hà Minh Đức,.... và văn chính luận: Nguyễn Đình Thi, Lữ Huy Nguyên,.... hoặc nhận xét về tác phẩm nói chung: Huỳnh Lý, Trương Chính,Nguyễn Đăng Mạnh.... Dĩ nhiên, mỗi tác giả có thể nhấn mạnh, nét đặc thù của từng loại văn hoặc phong cách chung của văn xuôi.

Phong cách nghệ thuật là nét độc đáo của nhà văn, là giá trị thẩm mỹ của tác phẩm mang tính sáng tạo rõ nét.

Nhìn chung, văn phong Hồ Chí Minh là một phong cách lớn. Người cầm bút rất đa tài, văn phong vô cùng đa dạng, đa sắc.

Ta có thể thâu tóm phong cách ấy trong những nét phẩm chất cơ bản: giản dị, trong sáng – hàm súc, trí tuệ - linh hoạt, biến hóa – châm biếm, trào phúng.

Một số ý kiến đã đề cập vị trí, vai trò, ý nghĩa và tác dụng văn chương Hồ Chí Minh.

Hà Minh Đức đã nhận định: Truyện và ký của Hồ Chủ tịch – tác phẩm lớn mở đường cho nền văn học mới của giai cấp vô sản” (6). Đỗ Đức Hiếu thấy rõ hơn: “Về phương diện văn học, Bản án chế độ thực dân Pháp là một hiện tượng văn học lớn, có vị trí quan trọng trong thời đại văn học chúng ta ở phương Tây, cũng như ở Việt Nam” (7).

Có thể và cần cảm nhận sâu sắc đặc điểm, tính chất cơ bản văn chương của người cầm bút lãnh tụ - nghệ sĩ.

Văn chương Hồ Chí Minh giàu chất nhân văn và cách mạng: “những trang văn lỗi lạc tung hoành”, “trận đánh của Người là trận đánh của tình thương” (Chế Lan Viên). Đó chính là văn đi thẳng vào lòng người và làm tổ ở đó.

Văn chương Hồ Chí Minh mang tính dân tộc và quốc tế: văn chương vì dân tộc và nhân loại, trên diễn đàn trong nước và thế giới, bằng tiếng mẹ đẻ và nhiều ngoại ngữ. Đó là tiếng nói của con người thời đại.

Văn chương Hồ Chí Minh đậm màu sắc truyền thống và hiện đại, có âm hưởng dân gian, cổ điển Việt Nam: “Dân sinh ra nên nói tựa dân đồng/ Lời chuyện vãn mà lại nôm na tục ngữ....” (Xuân Diệu), mở đường hiện đại hóa cho văn học trong thế kỷ. Đó là tiếng nói mới cho một thời đại văn học mới.

Đặc biệt có những dấu hiệu cách tân táo bạo  cúa chủ nghĩa hiện đại(và hậu hiện đại nữa):giấc mơ, đồng hiện, nhầm lẫn(giả-thật), giễu nhại ,tương tác thể  loại (truyện-ký,ký-truyện)…

***

Hôm nay, “Đọc văn Người” (Chế Lan Viên) là một cảm hứng nghệ thuật, cũng là một thái độ chính trị.

Trân trọng, tôn kính và tự tin, tự chủ, sáng tạo. Điều đó được thể hiện chính qua những trang viết “Bác muốn nhân dân cầm trên tay không nặng lắm tuổi tên Người.... Người không muốn  trang sách hóa thần, nhân dân quỳ để đọc.”

Cần thấm thía đạo làm người, Đạo đức cách mạng cũng như đạo lý dân tộc  qua những dòng văn như ánh sáng .

Đọc sách và đọc ở cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người.

PGS.TS ĐOÀN TRỌNG HUY

---------               

 (1), (2) Hồ Chí Minh – Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận – Văn học – Hà Nội, 1987.

(3) Đoàn Trọng Huy – Học tập tấm gương Hồ Chí Minh – Người học trò vĩ đại – Kỷ yếu Hội thảo khoa học Trường Đại học Đồng Nai, 4/2013.

(4) Hồ Chí Minh – Cách viết – Hội những nhà báo Việt Nam (2), 1955.

(5) Thành Duy – Danh ngôn Hồ Chí Minh – Trung tâm nghiên cứu Quốc học – Văn học, 2011.

(6) Hà Minh Đức – “Truyện và ký” của Hồ Chí Minh – tác phẩm lớn mở đường cho nền văn học của giai cấp vô sản – Tạp chí Văn học  số 3, 1974.

(7) Đỗ Đức Hiếu – Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Hồ Chí Minh và văn học hiện đại – Tạp chí Văn học số 4, 1971.

Các Bài viết khác