NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI, NHÀ THƠ ĐÃ TẠC HÌNH TƯỢNG “NGƯỜI GÁNH NƯỚC ĐÊM” VÀO VĂN HỌC

( 09-04-2015 - 07:30 AM ) - Lượt xem: 1523

Theo Gia phả họ Trần, (do Á Nam Trần Tuấn Khải soạn vào năm 1966) thì khi Trần Tuấn Khải còn nhỏ, mẹ thường tự đặt những câu ca dao để hát ru. Có lẽ vậy mà sau này những vần thơ của Trần Tuấn Khải mang âm hưởng ca dao sâu đậm và nặng tình non nước như thế

Những năm cuối thế kỷ XX, những người dạy Văn cuối bậc Trung học cơ sở  đã vô cùng ấn tượng với phần Văn học Trung đại hạ kỳ. Các nhà thơ, các nhà chí sĩ tên tuổi như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…đều có tác phẩm trong chương trình Văn 9. Nhưng bài thơ Gánh nước đêm với phong cách thơ mới mẻ, ý thơ vừa da diết vừa phóng khoáng, đã tạo dựng một hình tượng nghệ thuật độc đáo… làm cho  người dạy càng có ấn tượng đặc biệt với tác giả, Á Nam Trần Tuấn Khải.

Trần Tuấn Khải sinh năm 1895  ở làng Quang Xán, huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định (nay là xã Mỹ Hà huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam),  Ông là con trai của cụ Trần Văn Hoán,  Mẹ là bà Nguyễn Thị Sính- con gái một nhà giàu có trong làng, bản thân học hành nền nếp, tính tình rất hiền hậu, thông minh. Theo Gia phả họ Trần, (do Á Nam Trần Tuấn Khải soạn vào năm  1966)  thì khi Trần Tuấn Khải còn nhỏ, mẹ  thường tự đặt những câu ca dao để hát ru. Có lẽ vậy mà sau này những vần thơ của Trần Tuấn Khải mang âm hưởng ca dao sâu đậm và nặng tình non nước như thế (1).

Mới vừa 4 tuổi, Trần Tuấn Khải đã bắt đầu học chữ Nho với cha…Năm 14 tuổi đã đọc Tân thư (cuốn Vạn quốc sử ký của Nhật Bản). Năm 18 tuổi (1913) cưới bà Nguyễn Thị Khuê, con nhà dòng dõi quan lại quê ở Sơn Tây.Năm 19 tuổi (1914 ) viết bài thơ Tiễn chân anh Khóa xuống tàu. Trong khoảng những năm đầu tiên tham gia vào việc viết lách đó, ông đã có bài Gánh nước đêm

Bài thơ này được Trần Tuấn Khải in trong tập thơ đầu tiên mang tên  Duyên nợ phù sinh.  Qua nghệ thuật ẩn dụ hình ảnh người đàn bà gánh nước đêm, Á Nam đã dựng lên hình tượng một con người hai vai nặng gánh nước non nghe xót xa chi lạ:

                    Em bước chân ra

                     Con đường xa tít

                     Con sông mù mịt

                     Bên vai kĩu kịt

                     Nặng gánh em trở ra về

                     Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya

                     Vì chưng nước cạn nặng nề em dám kêu ai

                      Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá giời

                      Con dã tràng lấp bể biết đời nào xong

                      Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng

                      Nước non gánh nặng

                      Cái đức ông chồng hay hỡi có hay?

                      Em trở vai này…

                                                                        (Gánh nước đêm)

Ngày ấy, 30 năm về trước, một cô giáo viên trẻ  như tôi không thể  chuyển tải được hết những tâm tư nặng gánh nước non mà tác giả đã gửi gắm vào tác phẩm đến với các em học sinh. Và các em với tuổi vừa mới lớn, (14, 15 tuổi) chắc cũng chưa hiếu hết cái hay, cái đẹp, cái tình của bài thơ.. Nhưng cái hồn, cái vía của bài thơ đã theo tôi đến tận bây giờ. Người đàn bà với bước chân vô định vì con đường xa tít, con sông lại mù mịt trùng khơi…Trên đôi vai nhọc nhằn cứ vang lời kĩu kịt, ngoảnh cổ trông:  sông rộng trời khuya. Nặng gánh phải trở ra về, nước cạn nặng nề chẳng dám kêu ai…

                     Em bước chân ra

                     Con đường xa tít

                     Con sông mù mịt

                     Bên vai kĩu kịt

                     Nặng gánh em trở ra về

Nhưng tác giả đâu chỉ nói về người đàn bà nông thôn gánh nước đêm khuya nào đó…Là một nam nhân làm thơ, yêu non sông mà bất khả hành động, đã bằng hình tượng người phụ nữ gánh nước đêm mà ẩn dụ thì quả thật là quá tài tình, mấy ai qua được. Hình ảnh quen thuộc, thân thương, chịu khốn chịu khó của người phụ nữ miền quê được hòa trộn nhuần nhuyễn trong tâm hồn người yêu nước để hóa thành hình tượng nam nhi chi chí- người danh sĩ lòng muốn góp phần xoay trở vận mệnh non sông như xoay đôi gánh trên vai nhưng bất thành, đành đau đáu niềm riêng.

Muốn ra đi mà đi chẳng đặng. Muốn trở về mà lòng dạ bất an. Muốn “hành” mà cứ phải “ẩn”. Ngoảnh trông về phía đã rời xa, thấy mịt mù sương giá. Nước cạn, nhưng đá không mòn, nên “em” biết trông cậy vào ai. Tiền nhân đã xây dựng non sông, càng nghĩ càng tiếc, xót xa lòng cho thân phận mình như “con dã tràng se cát”:

                    Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya

                     Vì chưng nước cạn nặng nề em dám kêu ai

                      Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá giời

                      Con dã tràng lấp bể biết đời nào xong

Bài thơ ngắn nhưng thật hay. Cách viết rất gợi. Từ ngữ không nhiều, không mới nhưng sao nghe da diết,. trăn trở nỗi niềm. Nhịp điệu lại cứ như mô phỏng cái âm thanh “kĩu kịt” của đôi quang gánh đường xa. Cách viết như thế, thời ấy, quả là rất mới mẻ, táo bạo. Hiển ngôn để viết về người phụ nữ thôn quê đã dám bộc lộ “ cái tôi”thân phận một cách dữ dội, nào nề. Hàm ngôn để dấu kín nỗi niềm của đấng trượng phu khi nước nhà bị xâm lược.

                     Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng

                      Nước non gánh nặng

                      Cái đức ông chồng hay hỡi có hay?

                      Em trở vai này…

Vào những năm đầu thế kỷ XX, câu kết bài thơ như thế đã là rất lạ và táo bạo. Hình ảnh người phụ nữ xưng “em” nghe cam chịu. Thêm cái hình ảnh “ em trở vai này”, lại càng bộc lộ sự cam chịu sâu hơn, thấm thía hơn…”Em trở vai này”. Vai này hay vai kia, tất cả đều đè nặng trên vai em cả. Như người đàn ông muốn trở vai mà chưa chắc đã “trở” thành công…Cái vần bằng cuối bài thơ nghe như thể muốn hất cả cái nỗi niềm đau xót, nhưng biết hất vào đâu?

Chủ báo Nam Phong (tờ báo của chánh mật thám Đông Dương) ngày ấy là ông Phạm Quỳnh, đã đọc và đã tinh tường nhận ra ngay ý tưởng ẩn chứa trong bài thơ.Và, ông ta cũng phải thốt lên lời khen ngợi: “Đó là cái tình cảnh chị nhà quê gánh nước đêm, nhưng ở đời há chẳng có những người chí khí khác thường, cũng từng nặng lòng vì gánh nước non. (…) Túng sử cả tập thơ chỉ được một bài này cũng đáng khen, huống còn nhiều bài hay nữa” (2)

Tiếng thơ Á Nam thực sự lay động toàn quốc là từ loạt bài thơ Anh Khóa, mở đầu bằng bài Tiễn chân anh Khóa xuống tàu:

“Anh Khóa ơi, em tiễn chân anh xuống tận bến tàu

             Đôi tay em đỡ cái khăn trầu, em lấy đưa anh

             Tay cầm trầu giọt lệ chạy quanh

             Anh xơi một miếng cho bõ chút tình em nhớ thương”

Bài thơ gợi đúng nỗi đau đang tràn ngập lòng người lúc bấy giờ: nỗi đau chia ly.

Anh Khóa của Á Nam đã xuống tàu xuất dương, nhưng nào phải chỉ buuôn phiền vì chia tay với người vợ trẻ, dù là Á Nam đã viết thế này:

Anh Khóa ơi!

Người ta lắm bạc nhiều tiền

Anh em ta phận kém duyên hèn nên phải long đong

Một mình anh nay Bắc lại mai Đông

Lấy ai trò chuyện cho khuây lòng lúc sớm khuya

Anh Khóa ơi!

Chữ tương tư vai gánh nặng nề

Giang hồ anh khéo liệu trở về kẻo em mong

Thì ra, anh Khóa ở đây xuất dương vì nghĩa lớn với.

Mười lăm năm( 1928- 1929) sau khi bài thơ ra đời, Á Nam có kể  chuyện rằng, thi sĩ theo đoàn  Nam tiến,  nghe ở khắp các bến xe, nhà ga  cả nướx, nơi nào người ta cũng râm ran  hát bài này.

Sáu mươi năm (khoảng 1974) sau khi bài thơ ra đời, nhà thơ Á Nam đã tâm sự đôi điều về cảm hứng viết bài thơ ấy:

“Vào năm 1914, phong trào Đông kinh nghĩa thục đang khơi dậy lòng ái quốc và phát động phong trào nô nức xuất dương du học của đám sĩ phu nước nhà, nhưng bị nhà cầm quyền Pháp phá vỡ, một số sĩ phu phải trốn ra ngoại quốc. Nhân tiễn một người bạn lên tàu ở bến Hải Phòng, quang cảnh kẻ ở người đi đổi trao tâm sự, đưa nhau miếng trầu, cảm xúc đó đã thúc đẩy nhà thơ viết bài Tiễn chân anh Khóa” (3)

Và nhà văn nổi tiếng với tác phẩm Tố Tâm thì nhiệt liệt tán thưởng cả tập Duyên nợ phù sinh: “Gập sách lại tổng luận một câu rằng: “Tập văn có giá trị”. Giá trị vì đứng đắn, giá trị vì thanh cao….  Song An Hoàng Ngọc Phách đã nhắc đến những bài thơ trong tập mà ông thích, Chơi núi Sài Sơn,  Lên chợ giời, Vào chùa Hương Tích… trong đó, đặc biệt nói đến bài Tiễn chân anh Khóa, bài Gánh nước đêm,  Bác xẩm. (3)

Thi sĩ Á Nam còn để lại một bài thơ có thể kể vào hàng tuyệt tác. Đó là bài Tráng sĩ hành viết năm 1933 với giọng điệu khẳng khái bi hùng…đậm màu thơ cổ:

“Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê

Tráng sĩ một đi không bao giờ về”

Tay nâng chén rượu giã người cũ

Miệng đọc câu ca chân bước đi

Dao tình mài liếc với thanh khí

Chí hùng tung bốc đầy sơn khê 

Men rượu phải chăng đã khiến cho chàng thi sĩ gầy guộc làm bài thơ đậm chí khí  anh hùng? Nghe phảng phất tình thơ bi tráng nhưTống biệt hành của Thâm Tâm, Túy hậu cuồng ngâm của Vũ Hoàng Chương, Hành  phương Nam của Nguyễn Bính v.v.  Nghe giọng thơ uất ức của Hành lộ nan (Lý Thái Bạch),cảm khái của Đoản ca hành (Tào Mạnh Đức), kiêu bạc của Uống rượu tiêu sầu (Cao Bá Quát), dạt dào khí tiết của Chính khí ca (Văn Thiên Tường)…

PGS Tiến Sĩ Đoàn Lê Giang, nhân kỷ niệm 28 năm ngày mất của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải cũng đã viết về điều này trong bài nghiên cứu văn học tựa đề Á Nam Trần Tuấn Khải, anh khóa với những vần thơ nước non, đã nhận xét:

 “Tráng sĩ hành là bài thơ quốc ngữ mở đầu và là một trong những bài thơ hay nhất trong dòng thơ hành hiệp bi tráng trước 1945”.

Bên cạnh những bài thơ mang đậm tấm lòng yêu nước, trong chúng ta, những người yêu mến văn chương,  mấy ai biết rằng, thi sĩ bình dân đã mang hồn ca dao của dân tộc phả vào những bài ca của mình nghe như lời của những người nhà quê đích thực. Phong dao là một trong những cống hiến đăc sắc của Á Nam. Đây là sự minh chứng cho điều ấy: một bài ca dao hầu như ai ai cũng thuộc nhưng ít ai biết người viết nên là Á Nam:

       Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

       Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

                                             Bút quan hoài

Và bài :           

        Rủ nhau xuống bể mò cua 

        Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

        Em ơi chua ngọt đã từng

Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau

                                             Duyên nợ phù sinh

Ngoài ra, nhiều bài phong dao khác của Á Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: thật khó để phân biệt đâu là bài của Á Nam và đâu là dân gian. Quả đúng như thế. Chúng ta thử đọc mà xem:

      - Vành giăng ai xẻ làm đôi

Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng

      Đưa nhau một bước lên đàng

Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa.

      - Bướm kia sao nỡ lìa hoa

Chim xanh sao nỡ bay xa vườn hồng

                   Ai đi muôn dặm non sông

Để ai thương nhớ sầu đong một mình

Có thể thấy, tiếng lòng của một danh sĩ hòa vào nỗi  lòng của nông dân thuần phác để làm nên những bản tình ca thôn quê, neo đậu đời đời trong những trái tim đầm hồn dân tộc.

Sau này, khi đến chơi với nhà thơ Phạm Thiên Thư- người nổi tiếng với Đoạn trường vô thanh và những bài thơ do Phạm Duy phổ nhạc (Gọi em là đóa hoa sầu, Đưa em tìm động hoa vàng….), Chúng tôi thường nghe thi sĩ nhắc đến Á Nam Trần Tuấn Khải và con gái, nữ sĩ Tuệ Mai với tâm tình yêu quý. 

Nhà thơ của Gánh nước đêm, Anh Khóa xuống tàu, Tráng sĩ hành  …và những bài Phong dao đã ra đi về cõi xa xôi, nhưng tên tuổi cùng  những bài thơ tuyệt hay của ông, nhất là bài thơ Gánh nước đêm. Á Nam đã tạc nên hình tượng người đàn bà gánh nước đêm- ẩn dụ về người trượng phu với tấm lòng yêu non yêu nước sẽ ở lại mãi với chúng ta, nhất là những con người bình dân một nắng hai sương bên bờ ao, gốc rạ.

Tài liệu tham khảo:

1.     Duyên nợ phù sinh (Kim sinh lụy) – Thơ văn, Quyển I: Nhà in Trung Bắc, In lần thứ nhất, Hà Nội, 1921 (1920?); Quyển II: 1923

2.     Đăng khấu chí, Tiếp theo bộ Thuỷ hử, dịch, Thanh niên xuất bản, 1925

3. Đoàn Lê Giang, Á Nam Trần Tuấn Khải, anh khóa với những vần thơ nước non,  2009

Tiến sĩ Ngữ văn NGUYỄN THỊ LIÊN TÂM

Các Bài viết khác