NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

ÔNG TƯ, ÔNG BẢY VÀ BÀ BẢY NHÀ MAI LĨNH

( 20-11-2017 - 06:54 AM ) - Lượt xem: 97

Trong bảy anh em nhà Mai Lĩnh, ngoài ông Cả (Đỗ Văn Nghệ), mất sớm, ít được nhắc đến trong các hồi ức của gia tộc, còn người thứ hai đồng hành với gia tộc Mai Lĩnh từ khi khởi nghiệp, sang thời hoàng kim, đến lúc kết thúc bằng bi kịch suy tàn do biến động thời thế, cũng là người có công rất lớn, nhưng ít được nhắc đến, là ông Tư,ông bà Bảy vì họ không trực tiếp dính đến hoạt động báo chí, xuất bản, vốn là linh hồn của nhà Mai Lĩnh.

Ông Tư

   Trong bảy anh em nhà Mai Lĩnh, ngoài ông Cả (Đỗ Văn Nghệ), mất sớm, ít được nhắc đến trong các hồi ức của gia tộc, còn người thứ hai đồng hành với gia tộc Mai Lĩnh từ khi khởi nghiệp, sang thời hoàng kim, đến lúc kết thúc bằng bi kịch suy tàn do biến động thời thế, cũng là người có công rất lớn, nhưng ít được nhắc đến, là ông Tư, vì ông không trực tiếp dính đến hoạt động báo chí, xuất bản, vốn là linh hồn của nhà Mai Lĩnh.

Ông Tư (Đỗ Như Phượng), là thân sinh Giáo sư Đỗ Như Lân, một trong những trí thức có uy tín lớn trong lĩnh vực cơ lý thuyết, dạy ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trước khi nghỉ hưu, sang giảng dạy ở các trường đại học An-giê-ri.

Năm 1950, khi bố tôi từ giã kháng chiến, đưa cả gia đình từ chiến khu Thái Nguyên, về ở 34 Trần Nhật Duật, Hà Nội, gần chân cầu Long Biên, thì các chú Lân, chú Rỵ (con ông Ba), chú Doanh, chú Nghiêm ( cùng bên nội), đều từ Phúc Yên ra Hà Nội học  ở trọ tại nhà tôi. Thời gian này với các chú không dài, vì tất cả đều học vào mấy năm cuối hệ tú tài, rồi chiến tranh Việt - Pháp ngày càng ác liệt, người rẽ ra đi làm, người vào đại học chuyển sang ở nội trú, chú Rỵ bị động viên vào Nam học trường sĩ quan Đà Lạt. Riêng chú Lân vẫn gần gũi, do cùng cảnh ba chìm bảy nổi với gia đình tôi, song cái chính, tuy đã vào đại học, thỉnh thoảng chú vẫn đến dạy kèm từ chị Tâm, anh Khôi, đến tôi và em Vinh học thêm ở nhà.

Thời Pháp thuộc, chú Lân học giỏi có tiếng ở Hà Nội, từng nhận giải thưởng Danh Dự cao nhất do Thủ hiến Bắc Việt trao tặng tại nhà hát Lớn. Trong buổi lễ long trọng đó, mặc dù người dự rất chọn lọc, bố tôi cũng tìm cách đưa mấy anh chị em tôi đến có mặt ở khu chầu rìa, để vừa tự hào, vừa noi gương ông chú. Tôi và Vinh còn nhỏ, chỉ học toán. Tính chú Lân nghiêm, nóng, giảng ít lời nhưng dễ hiểu. Hễ nóng lên là lớn tiếng. 

Tôi chọn điểm nhấn về tính nóng nảy, nghiêm khắc của chú Lân để nói tính chú cũng giống tính ông Tư. Mặt ông lúc nào cũng nghiêm như chú, khi nóng lên, giọng cũng hách như chú, nên ngay cả lúc thân tình, người yêu quý ông cũng cứ phải chừng mực, còn người yếu bóng vía thuộc hàng bà con tá điền đứng trước một địa chủ thì có khi còn.. sợ, dù thực tế, ông luôn nhân hậu và bình đẳng với tất cả mọi người.

Nhà Mai Lĩnh bỏ nghề làm thuốc chuyển sang làm kinh tế và văn hóa từ năm 1926, sau khi cụ ngoại, thày lang Đỗ Văn Phong, bị thực dân Pháp xử tù khổ sai chung thân, từ quần đảo Guy-an-na, vượt ngục trở về sống ở Bạc Liêu, định hướng sự nghiệp cho các con.

Ông Ba Đỗ Văn Kỳ, ông Năm Đỗ Văn Năm, được phân công lập ấp từ Phú Thọ, Hải Phòng, Phúc Yên, và vào cả Sài Gòn (nay là vùng quận 8). Ông Sáu Đỗ Xuân Mai, ông Bảy Đỗ Như Ngọc làm báo và xuất bản ở Hải Phòng, khi thương hiệu Mai Lĩnh có chỗ đứng, ông Sáu ra Hà Nội, rồi vào Sài Gòn. Ông Hai Đỗ Văn Kiêm, ông ngoại tôi, chỉ đạo chung, khi ở ấp Mai Lĩnh Lập Chí, Phúc Yên, khi ra Hà Nội. Riêng ông Tư trước sau chỉ ở Phúc Yên, cai quản nhà cửa, ruộng đất dòng tộc.

Họ Đỗ ở Xuân Mai khởi đầu chỉ là một dòng từ Hiền Lương di cư sang lập ấp. Qua biến cố thời gian và xã hội, dân số đông lên, gia tộc tách dần ra thành nhiều nhánh, rồi dân các nơi tụ về, họ hàng loãng ra, nhưng đến nay, họ Đỗ ở Xuân Mai vẫn chiếm phần lớn với ít nhiều dây mơ rẽ má. Xuân Mai là đất lành, dòng họ Đỗ cũng có chí, nên người họ Đỗ từ đây đi tứ xứ, thành đạt về đường khoa bảng, thành công về kinh tế, khoa học, không ít.

Có lần, tôi hỏi bố tôi, con rể họ Đỗ Mai Lĩnh:

- Tại sao ở lại Xuân Mai là ông Tư chứ không phải ông khác?

Bố tôi nói:

- Ở các ông nhà Mai Lĩnh, do mỗi người đều phù hợp với việc mình làm, đều hứng thú và hết trách nhiệm với phần việc, nên không có chuyện so sánh hay giải thích tại sao anh làm việc này, tôi làm việc kia, nên ta nghĩ  ông Tư ở  Xuân Mai, do ông vừa yêu thích công việc làng quê đồng áng, vừa chấp nhận chịu thiệt để nhường cơ hội bay nhảy, thành danh, cho các anh em. Nhưng cũng phải nói ở khía cạnh khác, do ông với nơi chôn nhau cắt rốn luôn hòa hợp, nên nhấc ông đi Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ hay Sài Gòn như các ông khác, sẽ chẳng khác gì cá bị ném lên cạn.

Có lẽ bố tôi nói đúng. Lúc còn ở tuổi lên 4, lên 5, thỉnh thoảng được bố đưa từ ấp Lập Chí sang ấp Xuân Mai, hình ảnh ông Tư thấp, nhỏ, trong ký ức cũng bé nhỏ của tôi, khi là một ông Tư mặc bộ đồ ta nâu, khi là một ông Tư khăn đóng áo dài the, rất có uy và hài hòa với khung cảnh làng quê Xuân Mai, chúng tôi quen gọi là He, thì dù giàu trí tượng tượng đến đâu, tôi cũng không sao hình dung ông có thể thành ông chủ nơi thị thành Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn.

Bố tôi kể, nếu chỉ trông vào xuất bản sách “đứng đắn” và làm báo, thì không sao đi đường dài, nên vốn kinh doanh chủ yếu của nhà Mai Lĩnh vẫn từ nguồn ruộng đất nông nghiệp ở Xuân Mai, cây công nghiệp, chăn nuôi, chế biến dầu, nuôi hươu, nai, khỉ để nấu cao ở ấp Lập Chí, lợi nhuận kinh tế ở thành phố, chỉ có ở loại sách lá cải, sách kiếm hiệp, sách ái tình rẻ tiền, nhà in, cửa hàng bán văn phòng phẩm.

Như vậy hậu thuẫn cho sức sống xuất bản và báo chí, của nhà Mai Lĩnh, ngoài ông Năm, ông Ba từ các trang ấp ở Sài Gòn, ông Bảy ở Hải Phòng, có cả ông Tư ở Xuân Mai với sự đóng góp, theo bố tôi, là không hề nhỏ.

Nạn đói năm 1945 , với 2 triệu người chết, xuất phát từ thiên tai, mất mùa, các nhà chính trị và viết sử ghi thêm cả tội ác của quân đội Nhật, khiến nông dân các vùng đồng bằng Bắc Bộ: Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, vân vân… ùn ùn kéo nhau lên các vùng trung du, miền núi, với hy vọng kiếm sống qua mùa giáp hạt, người chết đói đầy đường.

Ấp Lập Chí là một trong những cánh cửa từ đồng bằng Bắc Bộ vào trung du, rồi tỏa lên các tỉnh núi rừng Việt Bắc, ngày đêm lũ lượt dân đói đi qua và ghé lại. Các ông nhà Mai Lĩnh, các ông bên nội tôi, cùng các nhà giàu hảo tâm trong vùng, tụ về Lập Chí và các ấp lân cận, tập trung tối đa vào việc từ thiện, phát chẩn cho dân di thực.

Lương thực ở ấp cạn, ông ngoại tôi phải điều ông Ba, bác Thụ từ Hải Phòng về Lập Chí, cùng bố tôi đi đường bộ lên Thái Nguyên mua sắn, khoai, đậu, ở đồn điền  Nguyễn Thị Năm, đóng bè, chở về ấp.

Gạo, khoai, sắn từ Xuân Mai, cũng ngày đêm được chuyển lên Lập Chí, thời ấy chủ yếu là gồng gánh. Người trực tiếp áp tải luôn là ông Tư .

Bố tôi kể, hôm đầu tiên, thấy ông Tư xuất hiện, quần ta trắng ống thấp, ống cao sắn tận bẹn, hai vạt áo the đen buộc túm trước bụng, chiếc ba toong vật bất ly thân, do mệt quá, không mang nổi, ông phải nhờ một tá điền cầm giùm, ông ngoại tôi hét:

- Ai bảo chú sang đây?

Ông Tư nói:

- Các lý trưởng bảo tôi phải đi áp tải, mới không bị cướp.

Lập Chí cách Xuân Mai chừng năm cây số, bây giờ toàn đồi trọc đá ong, chứ hồi đó, dân cư thưa thớt, dân tình lạc hậu, nền “văn minh” phá rừng và lâm tặc chưa xuất hiện, nhờ vậy, rừng tự nhiên với đủ loại các loại  tre, nứa, le, vầu, mít, vả, bứa, chuối, vân vân…tràn ngập xuống tận quốc lộ 13, (còn là đường đất trộn đá) suốt đoạn Phúc Yên đi Phù Lỗ. Từ Xuân Mai sang Lập Chí là đường mòn xuyên rừng. Giữa lúc tình hình dân tình đói khát, chính quyền các làng ấp bên đường bất lực trước tình trạng mất an ninh, trộm cướp hoành hành, cách tốt nhất để bảo vệ tài sản vẫn là hồn ai người ấy giữ. 

Cụ Ký Đắc, lý trưởng làng Lập Chí hồi đó, một trong những lý trưởng đòi ông Tư phải trực tiếp đi áp tải các chuyến lương thực, khi còn sống, kể:

- Ông Tư tuy gầy nhỏ nhưng rất có uy, song cái chính vẫn là danh nhà Mai Lĩnh được dân trong vùng nể trọng, khi biết chính

ông Tư Mai Lĩnh đi áp tải, bọn cướp nó cũng chừa ra.

Thì ra kẻ cướp cũng mỗi thời một khác.

Sau đợt cao điểm cứu đói chừng bốn tháng, kinh tế ấp Xuân Mai kiệt quệ, ông Tư cũng kiệt sức, ốm nằm liệt giường, nên không có cơ hội vui buồn theo thời tiết của cuộc Cách mạng tháng Tám.

Rồi trời thương, cho mùa màng Xuân Mai phục hồi, ông Tư vừa khỏe, ấp Lập Chí lại đón nhận biến động của cuộc kháng chiến chống Pháp, nằm ở  nửa cuối năm 1946, cũng vẫn từ vị trí địa lý của ấp Lập Chí, một trong những cửa ngõ mà quân đội, các cơ quan dân chính Hà Nội và dân tản cư ùn ùn lên Thái Nguyên và các tỉnh thuộc chiến khu Việt Bắc.

Gạo, thóc, thực phẩm lại từ Xuân Mai được chở lên Lập Chí. Giai đoạn đầu cuộc tản cư của các đơn vị quân đội, cơ quan dân chính, các cá nhân hoặc nhóm quan chức chính quyền, vân vân… ghé qua một lúc, ở lại một ngày hay một tháng đều thanh toán sòng phẳng, theo nguyên tắc Mặt trận Việt Minh không tơ hào của dân từ “mũi kim, sợi chỉ”, nhưng càng về sau, tình hình càng khẩn trương, việc thanh toán chuyện ăn uống và cung cấp các tiện nghi đi đường, nhân công, chỉ được người trong cuộc  chứng nhận bằng giấy viết tay, thậm chí, chỉ nói miệng, với “tín chấp” bằng lời hứa: Công ủng hộ kháng chiến của các ông là vô giá. Sau này, đánh đuổi xong giặc Pháp, chúng tôi sẽ về đền ơn và thanh toán đầy đủ…Rồi kinh tế nhà Mai Lĩnh cũng đến lúc cạn kiệt. Một hôm, ông Tư nói với ông ngoại tôi:

- Gạo bên Xuân Mai sắp hết. Trong nhà bắt đầu phải ăn độn.

Ông ngoại bảo:

- Thóc giống dự trữ đâu?

- Cũng hết rồi.

Ông ngoại cau có:

- Sao giờ chú mới nói?

- Không ngờ tình hình kéo dài thế. Giờ, ta phải công khai cho các vị ấy biết để cùng chia sẻ.

- Tôi cấm. Người ta đang cực nhọc trên đường lên chiến khu, phía trước còn biết bao nhiêu gian nan khó khăn, lấy đâu mà chia sẻ? Ở Hà Nội, để ủng hộ kháng chiến, nhiều nhà còn hiến cả ngàn cây vàng, đóng góp của mình chưa là gì.

- Nhưng mình cạn kiệt rồi.

- Để tôi bảo chú Ba lên Vĩnh Yên, anh Lược (tức bố tôi) sang Đông Anh (quê nội của tôi)  vay mượn. Tuyệt đối không được lộ ra mình túng thiếu để người ta nghĩ nhà Mai Lĩnh muốn đặt điều kiện trong việc ủng hộ kháng chiến.

Rồi cuối năm 1946 , cuộc kháng chiến toàn quốc vẫn bùng nổ. Nhà Mai Lĩnh không chỉ đóng góp tiền của vô điều kiện, mà còn đóng góp cả xương máu, với sự lên đường nhập ngũ thật sự của ông Ba, hai cậu ruột tôi: cậu Lợi (Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi), cậu Bảo (liệt sĩ Đỗ Hữu Bảo hy sinh ở chiến trường Nam Bộ năm 1947), hai con ông Năm: chú Tùng (Dược sĩ Đỗ Kính Tùng), chú Bách (Dược sĩ Đỗ Như Bách), chú Yên (Kỹ sư Đỗ Phúc Yên), con ông Bảy, và bố tôi hăng hái đưa cả nhà lên chiến khu Thái Nguyên theo kháng chiến.

Năm 1947, quân Pháp chiếm lại toàn bộ phần trung du các tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ. Các cuộc càn quét, bắt bớ những người ủng hộ Việt Minh và kháng chiến trong vùng bị chiếm được thực hiện triệt để.

Do vẫn ở lại Lập Chí và Xuân Mai, ông ngoại tôi bị giam bốn ngày, còn ông Tư mười ngày. Ra tù, ông ngoại tôi bỏ trang ấp, tài sản về hẳn Hà Nội.

Còn ông Tư vẫn “một tấc không đi, một ly không rời “ quyết sống mãi với “chùm khế ngọt” quê hương, để rồi đến  1955, sau khi quân Pháp thua, rút khỏi Việt Nam, hòa bình được lập lại trên đất Bắc, làng quê Xuân Mai cùng toàn vùng nông thôn miền Bắc đón nhận cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất, trong đó, ông Tư  bị  kết án 15 năm tù vì tội: địa chủ… Toàn bộ nhà cửa, tài sản, ruộng đất nhà Mai Lĩnh bị tịch thu, chia cho bà con bần cố nông. Việc ông bị Pháp bắt mười ngày đã được thả cũng bị coi là có sự thông đồng với giặc…

Nhưng hai năm sau, khi cuộc cải cách ruộng đất chuyển sang giai đoạn sửa sai, ông Tư được tuyên vô tội, được vinh danh là địa chủ yêu nước có công với kháng chiến, vân vân và vân vân…Tuy nhiên, chẳng có sự sửa sai nào thay đổi được hoàn cảnh, khi ông qua đời trước khi được minh oan tại một trại giam trên Thái Nguyên, nằm trong vùng chiến khu mà nhà Mai Lĩnh đã đổ không ít công của, xương máu góp phần vun đắp, bảo vệ. Còn nhà cửa, tài sản, ruộng đất nhà Mai Lĩnh mà ông Tư suốt đời gắn bó, gây dựng mãi mãi là con số không.

Ông ơi! Về phần sống, thế là ông đã sống hết mình cho gia tộc Mai Lĩnh. Vì quyết gắn bó với đất cát Xuân Mai, ông thành người chịu hết nỗi trầm luân mà thời cuộc trút xuống làng quê Xuân Mai vốn dĩ yên bình, thay cho các anh em trong nhà. Song ông cũng người duy nhất trong anh em nhà Mai Lĩnh được nhắm mắt xuôi tay trên đất của tổ tiên. Còn tất cả các ông khác đều ra đi trên đất khách quê người: Ông Hai, ông ngoại tôi, qua đời ở  Sài Gòn năm 1972; ông Ba, ông Năm qua đời 1947 ở Hải Phòng, ông Sáu qua đời ở Sài Gòn 1976, ông Bảy qua đời ở Sài Gòn 1982… Con cháu nhà Mai Lĩnh người thành công, kẻ thất bại, hiện tung tóe khắp nước và khắp thế giới,  vào những ngày giỗ của gia tộc vẫn chia nhau về thắp nén nhang tại nhà từ đường Mai Lĩnh ấp Xuân Mai. Giữ được ngôi nhà từ đường khiêm tốn ngày nay, cũng do ông Tư còn ở lại. Nên ông ơi! Ông đừng buồn.

Ông bà Bẩy

Sau hiệp nghị Genève 1954 về cuộc chiến Việt – Pháp 1946 – 1954, Việt Nam phải chia hai miền Nam – Bắc. Những người miền Bắc từng theo Pháp và chính quyền thuộc Pháp, những người không theo Pháp, nhưng không tán thành chế độ Việt Minh cộng sản, ùn ùn đưa gia đình di cư vào Nam, tạo nên bầu không khí bức xúc và xáo trộn xã hội cho cả những người ở lại. Hai bên đối nghịch đều vận hết công suất tuyên truyền và phản tuyên truyền. Một đằng vận động dân đi càng nhiều càng tốt để hút cạn sinh lực đất Bắc, một đằng giữ dân ở lại, đừng mắc mưu kẻ địch. Hồi đó, tôi mới 9 tuổi, hàng ngày cắp sách đi học, từ nhà ở Trần Nhật Duật đến trường Đỗ Hữu Vị, phố Cửa Bắc, hôm nay vừa đọc ở các bức tường trên đường đi học, câu: “Cụ Ngô thống nhất sơn hà, Già Hồ chia sẻ nước nhà làm đôi”, viết nguệch ngoạc bằng sơn đỏ, thì sáng hôm sau, cũng dòng chữ trên tường ấy, được ai chữa chữ “Ngô” thành “Hồ” và chữ “già Hồ” thành “thằng Ngô”, đọc cả câu thành: “ Cụ Hồ thống nhất sơn hà, Thằng Ngô chia sẻ nước nhà làm đôi”. Hôm sau nữa, lại “Cụ Ngô…”, “Già Hồ…”. Rồi hôm sau nữa lại” Cụ Hồ…”, “Thằng Ngô..”, cho đến ngày Hà Nội hoàn toàn thuộc chính quyền mới.

Phải kể bối cảnh xã hội lúc đó, để nói về các ông nhà Mai Lĩnh, đến phút cuối cùng cũng người đi, kẻ ở. Do ông Ba và ông Năm cùng mất 1947, nên đến 1954, nhà Mai Lĩnh chỉ còn ông Hai (Đỗ Văn Kiêm, ông ngoại tôi), ông Sáu (Đỗ Xuân Mai), ông Bảy (Đỗ Như Ngọc) ở Hà Nội, và ông Tư (Đỗ Như Phượng) ở Xuân Mai, Phúc Yên.

Gia tộc Mai Lĩnh, có cụ Đỗ Văn Phong vì chống Pháp, bị Pháp xử khổ sai chung thân, đày đi Guyane. Thế hệ kế thừa là các ông nhà Mai Lĩnh lập ấp, làm báo chí, xuất bản, với mục đích góp phần đưa dân tộc thoát khỏi ngoại xâm bằng con đường cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí. Trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, các ông đều ủng hộ Việt Minh. Ông Hai, ông Tư bị Pháp bắt giam. Ông Ba cùng khá đông con cháu nhà Mai Lĩnh gia nhập Việt Minh lên chiến khu kháng Pháp. Đến năm 1954, gia tộc nhà Mai Lịch, trừ chú Rỵ, con ông Ba, bị động viên, học ở trường sĩ quan Đà Lạt, còn lại, không một ai làm việc trong chính quyền thuộc Pháp hoặc đi lính cho Pháp. Năm 1949, thủ hiến Bắc Việt nhiều lần gặp ông Hai và ông Sáu đặt vấn đề người Pháp sẽ tài trợ toàn diện để phục hưng nhà Mai Lĩnh, nhưng hai ông nhất mực từ chối.Vậy tại sao khi Việt Minh thắng Pháp, ông Hai và ông Sáu lại đưa quá nửa dân số nhà Mai Lĩnh vào Nam? Theo địch, chắc chắn không.

Nhưng không theo “ta” thì rõ ràng. Nguyên nhân chính, từ năm 1948, 1949 trở ra, những sinh hoạt chính trị và thanh trừng nội bộ trong lực lượng kháng chiến ở chiến khu, do ảnh hưởng từ cộng sản Trung Quốc, đỉnh điểm là vụ tử hình bà Nguyễn Thị Năm (1953), một địa chủ có công kháng chiến, đã dẫn đến việc hàng loạt các thành phần thuộc tầng lớp trên: trí thức, văn nghệ sĩ, địa chủ, tư sản, vân vân… bỏ chiến khu trở về vùng Pháp chiếm, gọi lóng là “dinh tê” (về tề). Hồi đó, những người này bị kết tội đào ngũ, phản bội, là ăn phải bả tuyên truyền của địch, là hèn nhát không chịu được gian khổ của kháng chiến, vân vân và vân vân…Chính làn sóng “dinh tê” này đã ảnh hưởng nặng đến số đông người trong vùng bị Pháp chiếm, từng theo Việt Minh, nhưng vẫn di cư vào Nam, trong đó có các ông nhà Mai Lĩnh.

Cuối năm 1953, cuộc họp gia tộc diễn ra tại 21 Hàng Bún, có mặt ông Hai, ông Sáu, ông Bảy; ông Tư, bác Tiếp, bác Thụ cùng ở Phúc Yên ra và bố tôi, dẫn đến quyết định cuối cùng: tất cả cùng đi . Nhưng ông Tư về Phúc Yên, do quá yêu, quá gắn bó, quá tiếc đồng đất quê hương, gia tộc, thay vì thu xếp ra đi, ông trở lên Hà Nội, nói với ông ngoại tôi: Các anh cứ đi. Tôi không thể bỏ đất đai, nhà cửa, mồ mả cha ông. Ở lại sướng thì biết chắc là không rồi, còn khổ bao nhiêu, tôi chịu hết, miễn vẫn giữ được đất nhà mình. Sau này, nói về sự qua đời tức tưởi của ông Tư trong cải cách ruộng đất, bố tôi nói: Ta biết tính ông Tư. Nếu biết đất cũng không giữ lại được một tấc, ông vẫn cứ ở lại.

Ông Bảy lại khác. Con trai lớn của ông là chú Yên (kỹ sư Đỗ Phúc Yên) theo Việt Minh, từ năm 1946, nhà ông Bảy ở Hải Phòng lại là cơ sở nuôi giấu nhiều cán bộ hoạt động nội thành của Việt Minh. Cũng vì “tội” này, ông bị sở Mật thám Hải Phòng hành lên, hành xuống, có thời gian phải đưa cả nhà trốn đi hậu phương Thanh Hóa rồi về làng Bát Tràng . Bên nhà bà Bảy cũng nhiều anh em làm lớn phía Việt Minh. Song điều quan trọng nhất là ông có niềm tin như đinh đóng cột vào lý tưởng yêu nước của Việt Minh, nên đem cân những lợi thế trên với quyết định của các anh và thúc giục ra đi của bà Bảy, thấy việc ở lại nặng ký hơn hẳn, lần đầu tiên trong đời, ông Bảy, em út của anh em nhà Mai Lĩnh, một người trước sau chỉ biết nghe lời các anh và nể vợ, dám quyết định ngược lại: Sẽ sống mãi với thành phố cảng.

Năm 1963, tôi đi thanh niên xung phong, rồi trở thành thợ sửa chữa ô tô lâm nghiệp ở vùng mỏ Quảng Ninh, đến trước hồi máy bay Mỹ ném bom ác liệt miền Bắc, mỗi năm đôi lần, tôi đạp xe từ Quảng Ninh về Hải Phòng, chơi ở nhà ông Bảy, số 9 , ngõ Công Bình, đường Cát Dài, và chú thím Bách (dược sĩ Đỗ Như Bách, con ông Năm), ở “căn hộ” một gian, vốn là vách ngăn cạnh gầm cầu thang khu tập thể xí nghiệp dược.Thời gian này cũng là lần đầu tiên tôi biết đến gia sản nhà Mai Lĩnh Hải Phòng. Trang ấp Mai Lĩnh, gần nhà thờ Nam Phát ở ngoại vi thành phố và những địa chỉ A, B, C nào đó, đều biến mất trong cuộc cải tạo tư sản. Cửa hàng thuốc tây ở ngã tư Cát Dài – Cầu Đất đưa vào công tư hợp doanh, nên cả nhà ông Bảy: hai vợ chồng, 11 con trai gái, toàn ở tuổi trứng gà, trứng vịt, cộng thêm cô Sửu, con ông bà Ba bị quy địa chủ, trốn từ Xuân Mai, Phúc Yên ra, ở ngôi nhà ngói một tầng khiêm tốn trong ngõ Công Bình.

Từ khi xa gia đình, sống tự lập, bắt đầu có ý thức về tinh thần nhà Mai Lĩnh một thời hưng thịnh trong sự nghiệp báo chí, xuất bản, thì nơi tôi tiếp xúc đầu tiên chính là nhà ông Bảy, còn trước đây, con cháu nhà Mai Lĩnh lứa chúng tôi, chưa bao giờ được nếm vị ngọt ngào từ bản lý lịch gia tộc, nên thường nói với nhau về thân phận mình: Hiện tại thì gian nan, hoàng kim thì tưởng tượng. Về ông Bảy, bố tôi thường kể, khi cùng ông Sáu, ông Năm làm Hải Phòng Tuần Báo, Tiểu Thuyết Thứ Ba và xuất bản sách, ở Hải Phòng, ông luôn cần mẫn, tháo vát, một mình bao hết việc đặt bài, sửa morasse, chạy nhà in, rồi giao dịch phát hành. Việc đến tay ông, không bao giờ ông Sáu phải xem lại. Người Hải Phòng biết nhiều đến nhà Mai Lĩnh với ông Sáu (Đỗ Xuân Mai), ông Năm (Đỗ Văn Năm), ông Bảy (Đỗ Như Ngọc) chính trong thời gian này. Khi nhà Mai Lĩnh phát triển việc xuất bản, ông Sáu lên Hà Nội, ông Bảy, ông Năm ở lại Hải Phòng vẫn lo tờ báo, quản lý ấp Mai Lĩnh, buôn bán nhà đất, thuốc tây, văn hóa phẩm.

Ông chủ Mai Lĩnh giờ là nhân viên bán hàng của cửa hàng thuốc tây công tư hợp doanh, không còn mang tên Mai Lĩnh. Hôm gặp ông ở nhà, tôi tò mò hỏi:

- Vào công tư hợp doanh, ông có còn là chủ?

- Không. Ông nói: Giờ ông chỉ là người làm thuê. Nhưng làm thuê trong chế độ xã hội chủ nghĩa, giá trị gấp trăm lần làm chủ dưới chế độ tư bản.

Một người ông cao, gày, chiếc kính cận gọng nhựa cũ với hai mắt kính dày cộp, góp phần tạo nên gương mặt luôn sống thật trong vẻ khiêm nhường, nhẫn nại với ít nhiều sự khắc khổ. Một con người như sinh ra để yêu công việc, yêu gia đình, dòng tộc, và chẳng bao giờ nhận ra ông có thể giận ai, ghét ai. Còn lòng yêu nước, yêu quê hương ở ông vừa chân thành, vừa quyết liệt, khi ông đặt tên tất cả các con là địa danh các tỉnh và dòng sông. Người đầu tiên là Đỗ Phúc Yên, rồi đến Đỗ Thái Bình, Đỗ Thị Bắc Ninh, Đỗ Thái Nguyên, Đỗ Thị Bắc Giang, Đỗ Lạng Sơn, Đỗ Tuyên Quang, Đỗ Thị Hà Đông, Đỗ Hải Dương, Đỗ Phú Thọ, Đỗ Thị Hồng Hà, đến Đỗ Thị Hiền Lương,… Họ hàng nói đùa: có lẽ sợ tiến qua sông Bến Hải sẽ vi phạm hiệp định Genève và luật sinh đẻ có kế hoạch, nên ông bà mới chịu dừng bước, nếu không, tên các con ông bà phải rải tận Cà Mau, Phú Quốc.

Tôi tin ông Bảy thật lòng khi nói về chủ nghĩa xã hội. Chỉ sau năm 1954, khi miền Bắc thực hiện phân loại dân chúng ra các thành phần: cán bộ, địa chủ, tư sản, phú nông, trung nông, bần nông, cố nông, tiểu chủ, tiểu tư sản, dân nghèo thành thị, vân vân… thì cả người hiểu biết lẫn không hiểu biết mới lớn tiếng nói về chủ nghĩa xã hội như những nhà thông thái, chứ trước đó, trong tâm trí người dân, xã hội chỉ đơn giản hai loại nhà giàu và nhà nghèo.

Cũng năm 1954 này, anh Khôi tôi, 14 tuổi, đang học trường trung học Chu Văn An, đem niềm phấn khởi từ các phong trào sinh hoạt chính trị ở trường về nhà tuyên truyền cho các em, trong đó, tôi lớn nhất, mới 9 tuổi: Việt Nam sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội, sẽ trở thành thiên đường như Liên Xô, Trung Quốc. Tôi hỏi: Chủ nghĩa xã hội là thế nào? Anh tôi hào hùng: Là tất cả mọi người đều bình đẳng, không có người bóc lột người.

Tôi cam đoan 90 phần trăm dân số miền Bắc, trong đó có ông Bảy, lúc ấy đều hiểu chủ nghĩa xã hội đơn giản và thật thà như anh tôi. Liên Xô, Trung Quốc chưa ai nhìn thấy, nhưng “tất cả mọi người đều bình đẳng, không có người bóc lột người” thì lý tưởng quá. Người nghèo sung sướng vì từ nay mình không còn bị thực dân, phong kiến bóc lột; còn người giàu cũng sung sướng vì nghĩ kẻ bóc lột không phải là mình. Chỉ khi dân chúng bị phân loại thành phần, rồi cải cách ruộng đất, rồi cải tạo tư sản, người giàu mới té ngửa: hóa ra kẻ phạm tội bóc lột là chính mình. Các cậu ấm, cô chiêu con nhà giàu được tỉnh ngộ nhờ tham gia sinh hoạt đoàn thể, về ngắm nghía bố mẹ mình để tìm hạnh phúc trong đấu tranh.

Ngoài công việc cần mẫn ở cửa hàng, ông Bảy có niềm say mê đọc tất cả các loại báo, tạp chí mới xuất bản, thấy bài nào hay về đạo đức, lý tưởng, về người tốt việc tốt là ông cắt ra, đóng thành bộ sưu tập để các con cùng đọc.

Chuẩn mực về đạo đức, niềm tin và nghị lực từ ông Bảy ảnh hưởng tích cực đến sự hiếu học và quyết tâm thành đạt của các con, cộng hưởng với khí phách phi thường của bà Bảy, thành sức sống mãnh liệt chung của cả nhà. Và nhờ sức sống này, gia đình ông Bảy đã vượt qua những thử thách gian nan, mà ngày nay, không ai tin có thể vượt qua.

Hải Phòng và miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Việc ông bà Bảy đóng góp tâm sức, của cải cho kháng chiến, có thể phải trả giá bằng sinh mạng, được xác định và tôn vinh là tư sản yêu nước, tư sản có công với nước, kèm theo chứng nhận của nhiều quan chức cao cấp, từng được ông bà giúp đỡ trong kháng chiến, nhưng tài sản vẫn cứ mất trong cuộc cải tạo tư sản, và các con lần lượt tốt nghiệp trung học loại xuất sắc, vẫn lần lượt không được vào đại học. Chú Đỗ Thái Bình, sinh 1941, phải ra Quảng Ninh dạy bổ túc văn hóa cho bộ đội. Đỗ Thái Nguyên sinh 1945 ra cảng làm công nhân bốc vác. Đỗ Thị Bắc Giang sinh 1946, làm công nhân ở nông trường Tô Hiệu. Đỗ Lạng Sơn làm thợ điện ở nhà máy nhựa Tiền Phong. Đỗ Tuyên Quang vào quân đội chiến đấu ở chiến trường miền Nam, vân vân…

Sinh mạng chính trị của gia đình như vậy, còn sinh mạng kinh tế rơi tõm vào tình trạng cực kỳ túng quẫn, khi lương nhân viên bán hàng của ông Bảy chỉ đủ nuôi mình ông, con lớn nhất là Đỗ Thái Bình mới 14 tuổi. Và người lèo lái con thuyền kinh tế gia đình Mai Lĩnh Hải Phòng trong cơn phong ba bão táp chính là bà Bảy. Xin nhắc lại, đó là người bà có khí phách phi thường, sẵn sàng xả thân đội trời đạp đất để sống và nuôi chồng con.

Bà (Lê Thị Nội) là dân Bát Tràng. Phụ nữ Bát Tràng nổi tiếng cả nước làm ăn buôn bán giỏi. Còn sinh đẻ có giỏi không thì không rõ, nhưng chỉ riêng với bà: con đầu được sinh năm 1941, con thứ 11, sinh năm 1958, tức trong vòng mười tám năm, bà liên tiếp mang thai và đẻ . Nếu tính con út sinh 1958 đến tuổi trưởng thành năm 1978, thì gần như cả đời bà phải nuôi con đàn, con mọn. Vậy mà nhà Mai Lĩnh thời hoàng kim, bà cũng tay hòm chìa khóa, sang thời không còn cả hòm lẫn chìa khóa, một mình bà vẫn xoay xỏa nuôi cả nhà bằng nghề bán… xôi.

Xuất thân trong một gia đình khá giả và danh giá, bà không đẹp nhưng có tướng sang: mắt sáng sắc, tai to, miệng rộng, giọng vang, luôn thu được sự nể trọng trong giao dịch của cả người thuộc giới thượng lưu lẫn giới bình dân, điều rất hợp với người buôn bán giỏi.

Bà chủ Mai Lĩnh, nổi tiếng Hải Phòng, trước đây chỉ ngồi quầy đếm tiền, quản lý thu chi của gia tộc, giờ thúng mẹt ra vỉa hè ngồi bán từng gói xôi, nhặt nhạnh từng đồng. Sự nhẫn nhục, nuốt nghẹn những thể diện thời danh gia vọng tộc vì mưu sinh, giờ chỉ là chuyện nhỏ khi nỗi uất ức phải chịu đựng để sống trong những cực nhục vô lý lớn hơn gấp bội. Để được đặt gánh bán xôi ở vỉa hè, phải xin đủ thứ phép của đủ thứ cấp chính quyền, nhưng lệnh cấm buôn bán và chế biến lương thực từ các loại lúa gạo, ngũ cốc vẫn hết sức nghiêm ngặt. Muốn nấu xôi, đương nhiên phải mua gạo, đậu … chợ đen, nên việc bán xôi, nếu tính phạm pháp, công an bắt lúc nào cũng được. Bà Bảy phải vừa bán hàng, vừa lo chạy những cơn ruồng bố bất thần của công an. Sau này, bà làm tương để bán cũng vậy. Bán tương thì không cấm, nhưng cấm mua bán đậu làm tương, thế là phải tìm mọi cách để làm và tiêu thụ lén lút. Nhưng phạm pháp, dù để sống qua ngày, không phải phẩm chất nhà Mai Linh. Nên được chồng con làm ngơ, đối với bà cũng là điều hạnh phúc. Hơn nửa thế kỷ sau, Nhà nước xóa bỏ chế độ tem phiếu và bao cấp lương thực như một phát minh vĩ đại, không ai nhớ tới công của những người bán xôi, trong đó có bà Bảy, bao năm chịu đựng mọi đắng cay tủi nhục để…đi trước “thời đại”.

Với tất cả những gì tận tụy vô giá của ông, tất cả những gì hy sinh vô giá của bà, giờ đây, các con của ông bà Bảy đều vẫn lương thiện và cùng thành đạt. Kỹ sư Đỗ Thái Bình, đang là chuyên gia hàng đầu ngành đóng tàu Việt Nam, Đỗ Thị Bắc Ninh là Tiến sĩ ngôn ngữ xuất sắc, Kỹ sư Đỗ Tuyên Quang là chuyên gia kỹ thuật cao cấp của hãng Boeing… Những người khác đều thành công ở trong nước, ở Mỹ, Canada…Thế hệ thứ ba và thứ tư của gia tộc Mai Lĩnh vẫn nguyên vẹn sức sống truyền thống.

Và ông Trời công bằng, cùng ý chí mãnh liệt, đã cho bà Bảy sống tới 100 tuổi, mới qua đời năm 2015 tại Sài Gòn, để kịp thấy sự hy sinh cả đời cho các con và dòng tộc của mình cuối cùng cũng có kết quả.

Nghĩ về bà, tôi hay nhớ những ngày đạp xe từ Quảng Ninh về nhà ông bà ở ngõ Công Bình, Hải Phòng, cũng là những ngày thấy bà còng lưng vo gạo, đãi đậu, chuẩn bị nấu xôi, để sáng mai ra vỉa hè bán, nên chẳng để ý tới thằng cháu. Nhưng trong một lúc rảnh rang ít ỏi, bà chăm chăm nhìn tôi, rồi nói: Nếu mẹ anh còn sống, các anh không khổ như bây giờ.

Mẹ tôi mất từ năm tôi ba tuổi. Phải thân thiết lắm với mẹ tôi, bà mới nói được như thế, như tôi cũng là con cái bà.

Còn ông Bảy mất năm 1984 tại Sài Gòn. Cũng năm đó, trước khi ông mất, tôi chở bố tôi đến thăm ông ở nhà cô Giang (Đỗ Thị Bắc Giang, con gái thứ 5 của ông) ở đường Lý Tự Trọng. Ông đang bệnh và rất yếu. Nhận ra bố tôi, ông thân tình nắm tay:

- Sao hòa bình mười năm rồi, tình hình vẫn không sáng sủa?

Đó cũng là năm chính quyền thành phố đang thực hiện “phá rào bung ra” về kinh tế, nên bố tôi nói:

- Các ông ấy đang tích cực thay đổi. Các chủ doanh nghiệp, chủ trang trại bắt đầu được tôn vinh và ưu tiên…

Ông Bảy vẫn nắm chặt tay bố tôi:

- Nửa thế kỷ can qua chỉ để đổi tên… Như vậy nhà Mai Lĩnh vẫn còn./.

NGUYỄN MẠNH TUẤN

Các Bài viết khác