NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

ANH ĐỨC – NHÀ VĂN CỦA ĐẤT VÀ NGƯỜI NAM BỘ

( 11-07-2018 - 07:11 PM ) - Lượt xem: 158

Anh Đức là nhà văn hàng đầu của văn học Nam Bộ hiện đại, cũng là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời đại mới cách mạng.

Nhà văn đã nhận được những phần thưởng cao quý nhất do Đảng và Nhà nước trao tặng, trong đó có Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu năm 1965, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật năm 2000.

Anh Đức là nhà văn đã sống trọn vẹn cuộc đời, và còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc mai sau.

I/ ANH ĐỨC – MỘT ĐỜI SÁNG ĐẸP NHÀ VĂN – CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG

Anh Đức tên thật là Bùi Đức Ái, sinh ngày 5/5/1935 tại xã Bình Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Quê hương thân yêu bên dòng sông Cửu Long sóng vỗ đêm ngày, các miệt vườn, đồng ruộng xào xạc tiếng gió và tiếng chim hót chính là cái nôi sinh thành một tâm hồn thơ văn.

Bùi Đức Ái được sư dìu dắt của các lớp anh chị, đã rời nhà tham gia kháng chiến từ tuổi 13. Chàng trai trẻ tuổi ấy đã bén duyên rất sớm với văn chương.

Làm cách mạng cùng với làm văn như một hoạt động ý thức mà hồn nhiên. Năm 17 tuổi, anh viết tập Biển động gồm 8 truyện và được giải thưởng văn nghệ Cửu Long.

Anh Đức nhớ lại như là một niềm vui đột xuất: “Tôi hơi bị bất ngờ, và có nhiều người cũng bất ngờ, vì trong buổi lễ phát giải diễn ra ở một địa điểm vùng giải phóng thuộc Cà Mau. Khi tôi bước lên nhận giải, cử toạ nhận ra tôi mới là một cậu bé”.

Năm 1953 – 18 tuổi, Bùi Đức Áo được đưa về làm báo Cứu quốc Nam Bộ.Đoàn Giỏi, người anh lớn hơn 10 tuổi (1925)  là người đã sớm phát hiện và góp phần động viên, hỗ trợ tài năng trẻ ấy.

Ra tập kết miền Bắc từ năm 1955 là dịp để nhà văn mở rộng thêm tầm mắt nhìn đất nước, nhân dân và cũng là dịp để học hỏi, rèn giũa và phát huy sáng tác.

Cũng như lứa nhà văn trẻ thời ấy, anh được bậc đàn anh Nguyễn Huy Tưởng kèm cặp theo phân công của Hội Nhà văn.

Với năng khiếu văn học, Anh Đức rất nỗ lực học hỏi, trau giồi những kiến thức cơ bản về lý luận, và cả thực tiễn sáng tác. Cái may lớn trong đời anh là được gần gũi và học tập các đồng nghiệp lớn tuổi, đã có danh tiếng, nhất là các bậc gạo cội như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, và cả Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu.

Anh đọc tác phẩm và đọc ngay tâm hồn, trí tuệ của họ. Rồi tiếp thu những lời chỉ dẫn, chia sẻ theo cách “tâm truyền”.

Do hoàn cảnh khách quan, nhà văn trẻ chưa được bước chân vào một trường lớp bồi dưỡng viết văn nào. Nhưng, sự kèm cặp cá nhân lại có hiệu quả đặc biệt như sự giao lưu bình đẳng của các chủ thể sáng tạo.

Hồi còn ở chiến khu miền Nam, Đoàn Giỏi từng lánh ra một cái chòi để cắm cúi đọc những truyện ngắn đầu tay của anh lính mới văn chương. Giữa đêm khuya, nhà văn đàn anh đến  lay dậy: “Cậu viết rất được, bỏ đi vài cái yếu là in được thành tập chững chạc”. Nguyễn Công Hoan khuyến khích người viết trẻ bằng một ý tưởng chí lý, đại ý: muốn bơi thì phải nhảy xuống nước chứ không thể ngồi trên bờ mà nghe lý thuyết về bơi.

Trong hồi ký Con đường chúng tôi đã đi qua, nhà văn trẻ tâm sự: “Thành thật mà nói, thời gian ở miền Bắc, tôi đã được học hỏi rất nhiều, nhưng không phải học ở trường vì tôi chưa kịp dự một trường, trại viết văn nào. Tôi học ở sách, ở người, người ở đây là các nhà văn lớp trước, trong đó có các nhà văn thật sự có tài và nổi tiếng, mà tôi được đọc hầu hết các tác phẩm của họ từ lúc còn nhỏ. Là một người viết trẻ, tôi hết sức quý trọng các anh chị ấy, trước hết là do đọc sách của họ, sau đó nhờ sống chung, biết được phẩm cách của họ. Phẩm cách lớn nhất là họ đứng về nhân dân, đi theo ngay với cách mạng, với kháng chiến. Tôi về công tác ở Hội Nhà văn vài tháng sau khi thành lập Hội năm 1957, ở giữa những Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Bùi Hiển, Kim Lân, Xuân Diệu, Tú Mỡ,...”

Đặc biệt, qua Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn trẻ học được một nhân cách lớn: trung thực, cẩn trọng, tận tình, tâm huyết vì cách mạng và vì văn chương.

Sau chuyến đi thực tế năm 1958, nhà văn đọc cho Nguyễn Huy Tưởng nghe truyện ngắn Người gác đèn biển với tâm trạng lo lắng, hồi hộp. Bậc đàn anh chỉ thốt lên khẽ khàng: “Truyện được đấy, rất có hơi thở của thơ. Cậu nên đi vào hướng đó”. Đây là một cảm nhận và chỉ dẫn có tính chiến lược, định hướng cho cả đời viết tương lai.

Bùi Đức Ái từng rất kính trọng nhà văn Nguyễn Tuân. Nhà văn bậc trưởng lão cũng quý mến và khích lệ nhà văn trẻ thật lòng và muốn anh mạnh dạn  hơn, tiến bộ hơn.

Bác Nguyễn đã chọn một từ rất đắt để thưởng cho một truyện ngắn hay của anh: viết có “cưa”, có giọng riêng, giọng miệt vườn! Đây cũng là một khuyến nghị về phong cách văn chương cần phát huy.

Mối quan hệ đặc biệt này nảy sinh khi Anh Đức vào Nam, với bút danh mới – khi vào chiến trường miền Nam trao đổi tới 12 bút ký dưới dạng thư từ: Bức thư Cà Mau. Đây là tiêu biểu cho tiếng nói thống nhất của nhà văn miền Nam – miền Bắc cùng ca ngợi vẻ đẹp tinh thần quật khởi của nhân dân miền Nam với khát vọng độc lập, thống nhất của nhân dân thời ấy.

Xuân Diệu đọc Con cá song khuyên nên dự thi truyện ngắn, truyện đã đoạt giải Nhất báo Văn nghệ, cũng là một cách khuyến khích và phát huy tài năng cho nhà văn trẻ.

Khi Hòn đất từ miền Nam gửi ra, Tố Hữu đã góp ý cho Anh Đức sửa chi tiết truyện. Hoài Thanh hân hoan ca ngợi Hòn Đất, hòn ngọc trên tạp chí Văn học.

Tuy nhiên, qua quan hệ và giao lưu văn chương, nhà văn trẻ đã tỏ ra rất có bản lĩnh, tiếp nhận chủ động, có chọn lọc mà không phải chịu một áp lực nào.

Cũng trong Hồi ký trên đã nêu, nhà văn phát biểu, phản ứng sự tách rời, thậm chí quay lưng lại với các thế hệ đi trước: “… kêu gọi đừng chịu ảnh hưởng, áp lực của thế hệ viết trước. Tôi không hiểu đó là áp lực gì. Đã là một người cầm bút, người ấy phải đủ trí tuệ để phân định dở, hay, rồi toàn quyền tiếp nhận hoặc gác bỏ, chứ không chịu áp lực của ai cả”.

Một chuyện chép ở bệnh viện là tác phẩm nổi bật thời ở miền Bắc, làm nổi danh nhà văn. Truyện sau đó còn được đưa lên phim, thành Chị Tư Hậu, cũng có tiếng vang.

Năm 1962, nhà văn trở lại chiến trường miền Nam ngay trong số văn nghệ sĩ đi đợt đầu tiên, bắt đầu một cuộc dấn thân mới đầy gian khó, hiểm nguy. Trưởng ban tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ trực tiếp dặn dò: “Vào trong đó, cậu nên tập trung thời gian mà sáng tác, đừng làm việc hành chính, việc đó nhiều người làm được”. Đồng chí Tố Hữu cũng có lời dặn tương tự. Đó là một ưu ái quan tâm đặc biệt của lãnh đạo cấp cao nhất. Thêm vào đó, người yêu đồng tình vượt Trường Sơn để xây dựng hạnh phúc lứa đôi như một sự động viên, giúp sức vô cùng lớn lao.

Từ đây, mở ra một bước ngoặt lớn trong đời nhà văn – chiến sĩ.

Đắm mình vào cuộc sống và chiến đấu của cuộc chiến tranh nhân dân miền Nam hào hùng đầy ác liệt ở nhiều vùng miền, nhà văn đã đưa lên trang viết bao sự kiện, cảnh tượng chân thực và hết sức sinh động, nóng bỏng thời sự. Một loạt ký sự được tập hợp thành Bức thư Cà Mau như trao đổi văn học kịp thời giữa hai miền qua hai nhà văn Anh Đức – Nguyễn Tuân. Nhà văn đi Kiên Giang, và viết nên tác phẩm nổi tiếng để đời – Hòn Đất, được giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu.

Sau năm 1975, Anh Đức về sống và làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà văn tiếp tục viết một số truyện ngắn, và tham gia vào công tác quản lý.

Trước kia, Anh Đức từng là Trưởng ngành Văn của Hội Văn nghệ Giải phóng, kiêm Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Giải phóng.

Sau ngày đất nước thống nhất, Anh Đức được bầu là đại biểu Quốc hội khoá V và VI, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch  Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam khoá VI.

Đặc biệt, Anh Đức là một trong số các văn nghệ sĩ đặt nền móng cho xây dựng và phát triển văn học – nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh từ sau ngày giải phóng. Nhà văn đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ viên Thư ký Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng biên tập tạo chí VănKiến thức ngày nay.

Thời gian này, nổi bật là sự đóng góp về công tác quản lý, lãnh đạo văn học – nghệ thuật.Đó cũng là một yêu cầu quan trong của đời sống văn nghệ một thời.

Sáng tác được tập hợp vào tập Miền sóng vỗ (1985). Sau đó cơn đột quỵ tai ác và di chứng hàng chục năm trời tổn hao sức khoẻ, đã không cho phép Anh Đức tiếp tục cầm bút với tư cách nhà văn. Đó là điều rất đáng tiếc.

Cuộc đời sống và viết trọn vẹn khép lại từ ngày 22/8/2014 với sự ra đi vĩnh viễn của nhà văn – chiến sĩ cách mạng Anh Đức.

II/ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG NHƯ SẢN PHẨM QUÝ GIÁ ĐỂ LẠI CHO ĐỜI.

Sau đây là những tác phẩm Anh Đức để lại.

Biển động (tập truyện ngắn, 1952); Lão anh hùng dưới hầm bí mật (truyện ký, 1956); Một chuyện chép ở bệnh viện (bút ký, 1958); Biển xa (truyện ngắn, 1960); Bức thư Cà Mau (bút ký, 1965); Hòn Đất (tiểu thuyết, 1966); Giấc mơ ông lão vườn chim (truyện ngắn, 1970); Đứa con của đất (tiểu thuyết, 1976); Miền sóng vỗ (tập truyện, 1985).

Thế giới nghệ thuậttrong sáng tác phẩm của Anh Đức thật bao la với một khối lượng phong phú các hình ảnh, hình tượng và cả sự kiện, cảnh tượng được nghệ thuật hoá.

Theo một định nghĩa đơn giản và tóm gọn, thì thế giới nghệ thuật là thế giới hình tượng, được sáng tác theo những tư tưởng thẩm mỹ của người nghệ sĩ, và theo cá tính sáng tạo của một tác giả. Chủ thể sáng tạo sẽ tạo ra một chính thể nghệ thuật với các phương tiện đặc thù.

Thế giới nghệ thuật luôn thể hiện quan niệm riêng về thế giới, con người. Ở đây, chỉ xin đi vào vài nét cơ bản nhất theo cảm hứng nghệ thuật của nhà văn.

Hình tượng quê hương, đất nước – và qua đó là tình yêu nước như một cảm hứng đặc sắc của Anh Đức qua những trang viết.

Nam Bộ với miền Tây sông nước hoang sơ mà phóng khoáng, miền Đông “gian lao mà anh dũng” kỳ bí và hùng vĩ đã hiện lên trong nhiều trang viết của các nhà văn quê Nam như Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam, Lý Văn Sâm. Rồi miền Đất Mũi mênh mông bát ngát nữa .Mỗi vùng miền mỗi cảnh tượng đặc sắc.

Qua truyện Anh Đức, ta thấy vẫn trên phông nền chung ấy, là sự phát hiện ra nhửng cảm quan độc đáo.

Tháp Mười về đêm trong truyện ngắn Khói  được cảm nhận:

“Đêm Tháp Mười, tôi cứ nghĩ bầu trời cao hơn chỗ khác. Cánh đồng mênh mông đắm chìm trong sương mù, rì rầm như sóng biển. Ấy là cái tiếng nói muôn thuở của gió lúa qua bờ cỏ. Tháng tư rồi, Tháp Mười vẫn chưa mưa. Ban ngày nắng chói chang, đêm đến cánh đồng gió mát rượi, lộng gió. Không bị ngăn cách bởi cây cối, gió thổi rất mực hào phóng (…) Đêm Tháp Mười thật là kỳ ảo, với câu chuyện cô gái nọ, với ánh lửa đỏ đồng và tiếng cỏ xào xạc trong gió.

Tất cả những điều đó đến trên cánh đồng yên tĩnh đang nhuốm màu sắc lãng mạn trước buổi bình minh hé ra rực lửa”.

Giấc mơ ông lão vườn chim lại là những cảnh tượng miệt vườn. Vườn chim là cả khoảng trời vừa thực, vừa mơ với bầy chim bay lượn trên những cánh rừng cùng tiếng hót. Ông Tư đã gắn bó máu thịt với vườn chimấy như một thế giới.

Quyên trong Hòn Đất lại mang bai hình ảnh và những  cảnh tượng trong tâm hồn: “Trong Quyên có trái măng cụt thau, có những cây tre vàng nắng, có cả cành lê ki ma xanh um, có tiếng nói yêu thương, âu yếm của các mẹ già cùng tiếng bập bẹ ngây thơ của các em bé (…) Tiếng xào xạc của rừng dừa, tiếng sóng biển vỗ bên bãi cát, tiếng thét của đoàn người đấu tranh, ánh đuốc bập bùng, tiếng khóc và tiếng cười vui”.

Cảm xúc trữ tình mà nồng hậu. Tình yêu quê hương vụt lớn, cao cả, vì gắn liền với anh em, đồng chí – “với cái quý là cách mạng, là cuộc sống mới giành lại được ở miền đất nằm biển cả này”.

Tình đất, tình người, tình cách mạng hoà quyện làm một.

Hình tượng con người Nam Bộ nổi bật qua tác phẩm của Anh Đức, đặc biệt là các nhân vật nữ - tnhững cô gái trẻ, những người vợ, các bà má.

Từ những con người thật có cuộc đời như chất liệu thực tế, Anh Đức đã biết xây dựng thành những điển hình trong tác phẩm bằng trí tưởng tượng biến hoá đặc sắc.

Nguyễn Thị Huỳnh được tạo dựng thành chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện, liệt sĩ anh hùng Phan Thị Ràng trở thành chị Sứ trong Hòn Đất. Rồi rất nhiều như Quế trong Khói, Út Diệu trong Mùa gió, cũng như má Sáu, cô Quyên, bà Cà Xợi, chị Hai Thép, thím Ba Ú... đều là những tính cách rất Nam Bộ.

 Họ đều là những con người hiền thảo, đảm đang, trung hậu, quả cảm, nhưng mỗi người một nét, một phong thái, khí sắc riêng.

Chị Tư Hậu kiên cường thầm lặng. Quế dũng cảm, quyết liệt, mưu trí, đã bình tĩnh chịu đựng ghê gớm trong hầm bí mật, cùng đồng bào tạo nên một áng khói thần ven đô để che mắt kẻ địch. Chị Sứ oanh liệt hy sinh trong cuộc đấu tranh dữ  dội giữa sống – chết, một mất một còn là hình ảnh người nữ anh hùng như tạc vào trời biển quê hương.

Những ông già Nam Bộ quắc thước, hiên ngang, hào hùng, sống chết với mảnh đất máu thịt của cha ông tiên tổ đã được tượng hình qua ông Tư (Giấc mơ ông lão vườn chim), ông Tám Xẻo Đước (Đất) cũng rất đặc sắc.

Đất có tình huống thật quyết liệt. Ông Tám tấn công kẻ thù, dũng cảm lấy cái chết để tỏ lòng ơn nghĩa với cha ông, với con cháu, cùng với cách mạng. Tình yêu đất quê hương ở đây có nét thật cao cả thiêng liêng.

Những phương thức trần thuật, miêu tả và phương tiện thể hiện nghệ thuật văn xuôi Anh Đức mang nhiều đặc sắc và sáng tạo nghệ thuật.

Đó cũng là một đóng góp quan trọng cho thể loại.

Anh Đức sớm phát lộ tài năng, và định hình một phong cách độc đáo, giàu cá tính sáng tạo.

Dư luận văn đàn sớm nhận ra nét trữ tình -  lãng mạn nổi bật ở cây bút mang văn phong điềm đạm, thanh thoát mà sâu lắng.

Đó cũng là nhận xét thống nhất của nhiều bạn văn, và các nhà nghiên cứu, phê bình hàng đầu.

Sáng tác của Anh Đức nằm trong khuynh hướng sử thi như đặc điểm bao trùm của nền văn học một thời.

Với khuynh hướng sử thi, nhà văn tập trung thể hiện chiến tranh cách mạng đầy suy tư và cảm xúc vào những chủ đề lớn lao, khái quát, có ý nghĩa toàn dân tộc. Thông qua đó là sự  tái hiện hiện thực lịch sử và xây dựng những con người sử thi – những nhân vật kết tinh cho sức mạnh, vẻ đẹp, ý chí, lý tưởng và khát vọng của nhân dân và dân tộc.

Sự thể hiện đó xuyên suốt sáng tác của Anh Đức qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, và rõ rệt đậm nét hơn trong thời chống Mỹ.

Tuy nhiên, trên cơ sở ấy, có những mạch rẽ của phong cách cá nhân theo những cảm hứng thẩm mỹ riêng trong việc khám phá, chiếm lĩnh và thể hiện đời sống.

Anh Đức là tiêu biểu rõ rệt  cho dòng văn xuôi giàu chất

trữ tình, đậm cảm hứng lãng mạn. Nhân vật được xây dựng theo bút pháp lý tưởng hoálãng mạn hoá. Tác giả chú trọng để nhằm khắc hoạ vẻ đẹp toàn vẹn của nhân vật trong những hoàn cảnh thử thách, quyết liệt của chiến đấu trong chiến tranh hào hùng, bi tráng nhất của lịch sử dân tộc.

Trong truyện của Anh Đức có những xung đột bất ngờ, đột xuất, tình thế đặc biệt (Đất, Hòn Đất, Khói,…). Tất cả chỉ làm tôn lên vẻ đẹp anh hùng lý tưởng của nhân vật – người chiến sĩ anh hùng, người phụ nữ anh hùng, người anh hùng quần chúng làm nên hình ảnh sáng đẹp của nhân dân anh hùng.

Nhìn chung lại, Anh Đức đã đóng góp một phong cách nghệ thuật văn xuôi đặc sắc, làm phong phú sáng đẹp thêm diện mạo của văn học thời đại mới cách mạng./.

PGS.TS ĐOÀN TRỌNG HUY

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Tiến Dũng (2015), Anh Đức, nhà văn của đất Nam Bộ, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

[2]   Phan Cự Đệ (1974), Về phong cách lãng mạn của Anh Đức in trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

[3]   Trần Văn Giàu (1972), Hòn Đất, một bước tiến của văn học cách mạng miền Nam in trong Mười năm văn học chống Mỹ, Nghiên cứu và phê bình, Giải phóng.

[4]   Thiếu Mai (1962), Về một chuyện chép ở bệnh viện và Biển xa của Bùi Đức Ái, Tạp chí Nghiên cứu Văn họcsố 12/1962.

[5]   Bùi Việt Thắng (2006), Anh Đức – nhà văn đồng hành cùng thời đại cách mạng in trong Anh Đức Về tác gia và tác phẩm, Giáo dục.

[6 ]   Nhiều tác giả (2003, 2004, 2010), Lịch sử văn học Việt Nam (tập III), Đại học Sư phạm.

Các Bài viết khác