NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI TÌNH BÁO

( 24-04-2015 - 06:54 PM ) - Lượt xem: 1137

Tác giả Vũ Đức Vinh từng là tiểu đoàn trưởng trong kháng chiến chống Mỹ, sau năm 1975 ông chuyển ngành sang làm cán bộ tuyên huấn tỉnh uỷ Đồng Nai. Hiện nay ông đã nghỉ hưu nhưng vẫn đều đặn săn lùng và viết về những tấm gương người tốt việc tốt trong đời thường góp phần làm đẹp cho đời. Ngày 12/4/2015 ông tới tham dự buổi sinh hoạt "Văn học viết về các nhà tình báo" và sau đó ông đã gửi cho BBT bài viết này. BBT chuyển đến bạn đọc CLB bàiviết của ông và chân thành cám ơn ông.

Có một đội quân chiến đấu thầm lặng trên mặt trận không tiếng súng nhưng đã góp phần to lớn vào đại thắng mùa xuân năm 1975. Họ là những chiến sĩ tình báo anh hùng.

 

CHÂN DUNG NGƯỜI CHIẾN SĨ TÌNH BÁO.

Giữa những ngày tháng 4 lịch sử, có dịp được gặp gỡ và nghe đại tá anh hùng Nguyễn Văn Tàu (tức Tư Cang) người chỉ huy cụm tình báo H63, một mạng lưới tình báo có nhiều điệp viên  huyền thoại như: Phạm Xuân Ẩn, Tám Thảo … Đó là những câu chuyện lần đầu được nghe ông kể lại.

Ông Nguyễn Văn Tàu tuy đã 87 tuổi nhưng vẫn còn rất minh mẫn, có trí nhớ tuyệt vời của người tình báo. Ông vui vẻ kể lại:

Cái tên Nguyễn Văn Tàu là do cha mẹ đặt, nhưng khi đi làm cách mạng thì còn có tên như Trần Văn Hoa, Trần Văn Quang và Tư Cang. Ông sinh năm 1928 Mậu Thìn, nhưng khi 17 tuổi (8/1945) đã cùng đồng bào với tầm vông vót nhọn tham gia cướp chính quyền tại thị xã Bà Rịa - Vũng Tàu. Tháng 3 năm 1946 tham gia đội du kích Quang Trung đánh chiếm đồn Xà Bang thu nhiều chiếm lợi phẩm.

Ông lấy vợ từ rất sớm, khi mới 18 tuổi. Đến năm 19 tuổi lên chiến khu đi theo Việt Minh, để lại người vợ trẻ đang mang bầu. Bước ngoặt cuộc đời ông là vào năm 1947, do ông biết thành thạo tiếng Pháp nên được giao nhiệm vụ hoạt động quân báo hợp pháp ngay trong lòng địch. Ông trong tuyến quân báo liên huyện Cần Đước - Cần Giuộc - Nhà Bè.

Theo hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 ông tập kết ra miền Bắc. Ông được tổng cục 2 đưa ra Hà Nội học lớp tình báo năm 1961. Vốn là người lanh lẹ, lại có tố chất thông minh, ông đã học thành thạo các nghề chụp ảnh, lái xe, viết văn… Ông còn biết nhiều “ngón nghề” khác để phục vụ cho công tác tình báo sau này. Ông học và nói tốt hai ngoại ngữ Anh và Pháp giúp cho giao tiếp thuận lợi. Đặc biệt Tư Cang còn có tài bắn súng hai tay như một. Khi đi thi bắn súng ngắn ông chỉ xếp sau xạ thủ quốc gia kiện, tướng Trần Oanh và Hồ Xuân Kỷ.

Trở về miền Nam tháng 12/1961, ông công tác tại địa bàn chiến khu Đ. Ông chính thức được giao chỉ huy cụm tình báo H63 từ tháng 4/1962. Cụm tình báo phục vụ hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn (tên thật là Trần Văn Trung), người mang biệt danh X6 đang hoạt động bí mật tại nội thành Sài Gòn. Một nhà tình báo chiến lược xuất sắc.

Năm 1965, Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam. Đơn vị H63 có nhiệm vụ phải chỉ đạo trực tiếp mạng lưới tình báo. Ông Tư Cang với vai trò chỉ huy cụm H63 đã vào hẳn nội thành Sài Gòn để chỉ đạo điệp viên. Ông hoạt động công khai và đóng nhiều vai hợp pháp trong lòng địch.

HOẠT ĐỘNG TRONG LÒNG ĐỊCH.

Nhà tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn nhậ n chỉ thị và báo cáo về cấp trên từ H63 do ông Tư Cang trực tiếp chỉ huy. Về người anh hùng, thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, ông Tư Cang đã nhận xét: “ Một con người dũng cảm, rất hài hước và thông minh”. Ông Tư Cang đã kể lại câu chuyện:

Có một lần, cấp trên giao nhiệm vụ cho hai ông đưa một bức thư của Đảng bạn đến một người đang làm lớn trong chính quyền Sài Gòn. Kèm theo bức thư có hình người đó để nhận biết. Ông Tư Cang đã nói với ông Phạm Xuân Ẩn: “Mình mà đưa bức thư này là tự nhận Việt cộng thứ dữ rồi, sao còn hoạt động được nữa”. Ông Ẩn đã bình tĩnh trả lời: “Nhiệm vụ trên giao thì không thể thoái thác được. Vì Đảng bạn nhờ Đảng mình, cấp trên đã nghiên cứu kỹ rồi, chỉ có hai đứa mình làm nổi thôi. Bây giờ dù có hy sinh cũng chấp nhận”. Nghe ông Ẩn nói vậy, Tư Cang đành chịu. Cả tháng trời hai người bàn tính cách đưa lá thư sao cho an toàn và hợp lý. Chớp thời cơ khi đại sứ quán Mỹ mời tiệc đứng chiêu đãi các quan khách. Đây là dịp tiếp cận người đó tốt nhất. Tối hôm trước, ông Ẩn đã dặn dò vợ con ở nhà phải cẩn thận đề phòng nếu ông bị địch bắt thì khai báo theo lời ông dặn. Còn ông Tư Cang thì đã thủ sẵn hai khẩu súng ngắn có đủ cơ số đạn được giấu kín trong xe.

Sáng ra, ông Tư Cang trong vai lái xe đưa ông Phạm Xuân Ẩn đến đại sứ quán Mỹ. Hai người bàn bạc, nếu bị lộ thì không để địch bắt. Ông Tư Cang sẽ nổ súng diệt vài tên rồi sẽ hi sinh ngay tại sân sứ quán Mỹ. Nhưng gặp may mắn, ông Ẩn trong vai một nhà báo đã lợi dụng lúc đông người tới gần người đó, trao bức thư mật. Người đó ngước mắt nhìn ông Ẩn, thoáng chút ngạc nhiên, rồi đút lá thư vào túi. Khi ông Ẩn xuống xe ra về, hai người vẫn còn hồi hộp vì sợ có người theo dõi mình.

Có lần, ông Tư Cang nhận nhiệm vụ đến nhà số 7 Lê Chân để nhận tiền. Đó là nhà của bà chủ sở Dầu Tiếng. Ông Tư Cang chưa từng gặp mặt bà. Đến đúng địa chỉ, ông dắt xe vào nhà. Ngay tại phòng khách có hai người đang ngồi uống rượu. Mặt họ đỏ phừng phừng. Ông Tư Cang hỏi bà chủ nhà. Lúc này bà chủ nhà còn đang núp trên lầu tránh mặt không xuống vì có tên trung tá an ninh đến, bà để chồng ngồi tiếp rượu. Tư Cang lúc đầu không biết hắn là ai. Nhưng khi nghe tên này hỏi ông đến có việc gì và làm ở đâu. Tư Cang đã thấy nghi ngờ tên này. Chắc hắn cũng có vai vế, chức tước nên mới được uống rượu cùng ông chủ. Ông Tư Cang xin phép ra về vì không gặp được bà chủ. Bỗng tên trung tá mặt đỏ gay, tay cầm can rượu 5 lít ra chặn ông và nói: “Dậy coi sao được, tới đây phải ngồi nhậu chứ”. Tư Cang  suy nghĩ: nếu mình bỏ về hắn sẽ sinh nghi, lúc này phải sống cho thật. Mình từ chối, hắn sẽ dễ nghi ngờ. Bởi trong con mắt kẻ địch, người biết ăn chơi, nhậu nhẹt thì không phải là Việt cộng, còn không là Việt cộng chính cống. Tư Cang vui vẻ ngồi vào bàn nhậu làm ông chủ nhà cũng chột dạ. Tư Cang mạnh dạn hỏi hắn làm việc gì, ở đâu. Hắn nói lái tàu trên sông Sài Gòn. Với con mắt tình báo, Tư Cang biết ngay là nó nói gạt vì lái tàu sao trông tướng tá dữ dằn, lại được ông chủ ngồi tiếp rượu. Hắn cũng hỏi lại Tư Cang. Ông trả lời làm thư ký cho một hãng tư nhân trên đường Nguyễn Huệ. Tư Cang vừa nói tiếng Việt pha thêm tiếng Pháp cho nó sang trọng và để hắn tin mình. Ngồi cụng được bốn năm ly rượu hắn đã say mềm người. Tư Cang xin phép ông chủ ra về. Chủ nhà như trút bỏ được sợ hãi, mừng quá tặng cho ông hai trái bưởi mang về. Khi về đến nhà, không biết vì say rượu hay mất hồn mà rớt hai trái bưởi mất tiêu lúc nào cũng không hay biết.

Hoạt động tình báo có một nguyên tắc là luôn phải giữ bí mật tuyệt đối. Nếu để lộ bí mật thì cũng đồng nghĩa với bị bắt, tù đầy và có thể phải hi sinh. Nhưng đã một lần, vượt lên trên sự hi sinh là tình thương đồng đội, đồng chí.  Đó là ông đã nổ súng chia lửa với chiến sĩ biệt động thành trong cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân năm 1968.

Nằm đối diện với căn nhà cô Tám Thảo, nơi ông Tư Cang đang ăn ở hợp pháp là một tòa nhà có các chiến sĩ đang chiến đấu. Căn nhà đang bị kẻ địch bao vây kín mít mọi ngả đường ra vào. Đã hai ba ngày liền anh em biệt động đã nổ súng chiến đấu, nhưng tiếng súng ngày càng thưa dần. Ông Tư Cang và cô Tám Thảo đã cảm nhận có chuyện không hay sẽ xảy đến với đồng đội đang chiếm giữ tòa nhà. Cô Tám Thảo bàn với ông Tư Cang nổ súng chia lửa chi viện cho anh em đang bị bao vây. Với tài bắn súng thiện xạ, ông Tư Cang đã nổ súng diệt hai tên chỉ huy chỉ với hai phát đạn. Quân địch nháo nhào bủa ra tìm nơi nổ súng tạo điều kiện cho các chiến sĩ phá được vòng vây.

Địch tổ chức lục soát các căn nhà trong đó có nhà cô Tám Thảo. Nhưng nhờ vỏ bọc là thư ký của thiếu tá cố vấn tình báo Mỹ và là một gia đình giàu có nổi tiếng nên đã vượt qua sự nghi ngờ của kẻ địch. Khi địch lục soát căn nhà, ông Tư Cang núp trong đống vải phía trong, tim ông đập thình thịch vì hồi hộp và căng thẳng.

TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ TÌNH BÁO

Ông Tư Cang đã tâm sự: “Cuộc đời người chiến sĩ tình báo hoạt động trong lòng địch luôn giáp mặt với kẻ thù, cận kề hiểm nguy bên cái chết. Có lúc nhớ thương gia đình, vợ con da diết, nhưng vì nhiệm vụ nên phải đặt tình yêu Tổ quốc lên trên hết.”. Ông kể lại:

Vào một buổi tối, ông đang sống hợp pháp với vai “Anh rể thứ tư” của gia đình cô Tám Thảo. Bỗng có tiếng chuông reo. Cô Tám Thảo ra mở cổng. Ông nhìn thấy người vợ mình đưa thư cho cô Tám Thảo mà không dám ra. Ông vẫn phải cặm cụi dạy tiếng Anh cho mấy đứa trẻ nhỏ trong nhà. Qua ánh đèn, chắc vợ ông cũng nhận ra ông. Trao thư xong, vợ ông lặng lẽ ra về. Lúc này ngoài trời đang có mưa. Ông lạnh lòng nhìn vợ đi trong cơn mưa mà lòng quặn đau, thương sót.

Sống trong căn nhà cô Tám Thảo ông luôn giữ mình. Tuy là người sống ba cùng: Cùng ăn, cùng ở và chở cô Tám Thảo đi làm mỗi ngày. Ông là người đã có vợ con nên buổi tối khi đi ngủ, cô Tám ngủ trên gác. Còn ông nằm chung giường với ông già cô Tám. Ông luôn chọn cho mình nằm phía trong giường sát tường, để ông già nằm phía ngoài. Có đêm ông nằm  không dám nhúc nhích, cục cựa.

Một lần, vì nhiệm vụ ông và cô Tám Thảo cặp kè đi xem hát tại rạp Trần Hưng Đạo. Vợ ông vô tình hôm đó cũng đi xem với mấy người bạn. Nhìn thấy chồng và cô Tám đi cùng, vợ ông bỏ ra về không xem hát nữa. Vợ ông nói với bạn bè tự nhiên thấy nhức đầu quá nên không thể đi tiếp. Ông suy nghĩ người vợ đã nén tình cảm giận hờn, ghen tuông để ông yên tâm hoạt động. Đó cũng là đức hi sinh, chịu đựng của người vợ chiến sĩ tình báo.

Năm 1973, ông được điều ra Hà Nội học tập, nhưng chỉ một năm sau, năm 1974 ông lại được lệnh trở về miền Nam công tác. Khi phải xa quê hương xa vợ con ông đã làm bài thơ “Nhớ vợ” như trải lòng mình lúc nhớ thương: Xin trích một đoạn trong bài thơ của ông:

…………………………………

Ra đi người miền Bắc, kẻ miền Nam

Lòng vô vàn thương nhớ

Những lúc rảnh tâm hồn anh hướng về chốn cũ

Nhớ vợ hiền và nhớ cả quê hương

Nhiều lúc dạo chơi trong vườn nhãn Hưng Yên

Mà tư tưởng đang đi dưới bóng xoài Long Phước

Sầm Sơn mênh mông sóng nước,

Rì rào gió thổi rặng phi lao

Gợi lên Phước Hải năm nào,

Ngập ngừng trao đổi lối vào tình yêu.

Đó cùng là một chút lãng mạn trong tâm hồn của người chiến sĩ tình báo anh hùng đẩy quả cảm nhưng cũng rạo rực tình yêu. Giờ đây vợ chồng ông Tư Cang vẫn sống hạnh phúc trong một căn nhà nhỏ trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.

                                                                                   

                                                                         Vũ Đức Vinh

                                                                    (Viết theo lời kể của đại tá anh hùng LLVT Nguyễn Văn Tàu (tức Tư Cang), cụm trưởng H63 tình báo)

Các Bài viết khác